Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.2 - Biểu diễn quan hệ giữa cấu trúc tài sản & cấu trúc nguồn vốn

Bảng 1.2 - Biểu diễn quan hệ giữa cấu trúc tài sản & cấu trúc nguồn vốn

Tải bản đầy đủ - 0trang

12

Mối quan hệ giữa các yếu tố của tài sản và nguồn vốn phản ánh

phương thức, chính sách tài trợ và khả năng thanh tốn của doanh nghiệp, từ

đó phản ánh tình trạng cân bằng tài chính của doanh nghiệp.

Như vậy, có thể thấy rằng quan hệ tổng quát nhất phản ánh cấu trúc

tài chính của doanh nghiệp chính là quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và nguồn

vốn vay của doanh nghiệp.

Việc xác định một quan hệ tỷ lệ như thế nào giữa nguồn vốn chủ sở

hữu và vốn vay được thể hiện bằng tỷ lệ của doanh nghiệp để đạt được một

cấu trúc tài chính hợp lý nhằm tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp là nội dung

quan trọng nhất phản ánh cấu trúc tài chính của doanh nghiệp.

Tóm lại, về mặt bản chất cấu trúc tài chính là quan hệ giữa nguồn

vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp được thể hiện bằng chỉ tiêu tỷ lệ

nợ và tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.

1.2.



Một số kết quả nghiên cứu thực tế về các nhân tổ ảnh hưởng đến

cấu trúc vốn doanh nghiệp



1.2.1.



Về quy mô của doanh nghiệp

Mặc dù ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp với cấu trúc tài chính



chưa được chứng minh cụ thể trong bất cứ một mơ hình lý thuyết tài chính

nào nhưng phần lớn các tài chính đều cho rằng quy mơ càng lớn thì doanh

nghiệp càng có điều kiện tiếp cận thị trường tài chính và các doanh nghiệp

vừa và nhỏ, vì việc tìm kiếm các nguồn tài trợ sẽ dễ dàng hơn. Tuy nhiên, kết

quả của những nghiên cứu thực tế về ảnh hưởng của quy mô đối với cấu trúc

tài chính đến nay vẫn còn trái ngược nhau. Trong phần lớn các nghiên cứu

thực tế người ta thường sử dụng chỉ tiêu doanh thu hoặc tổng tài sản để đo

lượng quy mơ hoạt động của doanh nghiệp. Ngồi ra, một số nghiên cứu còn

sử dụng các chỉ tiêu khác để đo lường quy mô như Kinast sử dụng chỉ tiêu giá

trị thêm, Evraert sử dụng chỉ tiêu tổng số lao động. Dựa trên những kết quả



13

nghiên cứu chủ yếu đối với nhiều nước khác nhau chúng ta thấy rằng quy mơ

của doanh nghiệp ít ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng khơng đáng kể đối với cấu

trúc tài chính doanh nghiệp.

Bảng 1.3. Kết quả nghiên cứu của các học giả về ảnh hưởng của quy mơ đối với cấu trúc tài chính (Nguyễn Ngọc Vũ (2003).



Ảnh hưởng



Ảnh hưởng ngược



Không ảnh hưởng



Scott et Martin, Evaert, Gupta, Kester, Kim et Remmers

Marsh, Suret, Dubois, Sorenson,

Friend



et



Titman



Lang, Wesswls



et Schmithd,



et



Al,



Kienast,



Nhavez



chaplinsky et Niehaus,

Patrice Fontaine







Clement Njiokou

1.2.2.



Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Phần lớn các nghiên cứu đều cho rằng nếu như doanh nghiệp hoạt động



có hiệu quả, có lợi nhuận lớn thì sẽ tạo ra các quỹ cần thiết dành cho đầu tư

hơn là các doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động kinh doanh thấp. Vì vậy,

doanh nghiệp này sẽ có tỷ lệ nợ thấp trong cấu trúc tài chính của mình. Quan

hệ được mong đợi ở đây là khi doanh nghiệp có tỷ lệ lợi nhuận càng cao thì

nợ càng thấp. Theo nghiên cứu của Ker đối với 344 công ty Nhật bản và 452

công ty Mỹ, ông ta khẳng định rằng có tồn tại mối quan hệ ngược và chặt chẽ

giữa hiệu quả hoạt động kinh doanh và tỷ lệ nợ. Một nghiên cứu khác Fiend

và Lang (1988) trên 984 công ty Mỹ trong thời gian từ 1979 đến 1983 cũng

đã đi đến kết luận tương tự. Ở Pháp theo nghiên cứu của Dubois (1985) đối

với 118 công ty định giá trên thị trường chứng khoán Paris trong giai đoạn

1974 đến 1979 đã đưa đến một kết quả tương tự. Như vậy, trong phần lớn các

nghiên cứu về chủ đề này đều mang lại một kết quả tương đối thống nhất là

quan hệ ngược giữa hiệu quả hoạt động kinh doanh và tỷ suất nợ. Điều này

cũng phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng của Myers.



14

1.2.3.



Rủi ro hoạt động kinh doanh

Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ này được trình bày tóm tắt như sau:



Bradley Jarrel và Kim (1984) thực hiện nghiên cứu đối với 821 doanh nghiệp

thuộc 25 ngành công nghiệp khác nhau để kiểm định mối quan hệ giữa tỷ lệ

nợ và mức độ rủi ro được đo bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức và họ tìm

thấy một mối tương quan ngược giữa hai biến này. Như vậy, rủi ro càng lớn

thì tỷ lệ nợ càng thấp. Một nghiên cứu khác của Kim và Sorenson (1986) tìm

thấy một quan hệ cùng chiều giữa rủi ro và tỷ lệ nợ. Kết luận này lại phù hợp

với lý thuyết của Stulz và Njiokou. Titman và Wessels (1988) nghiên cứu mối

quan hệ này đã đi đến kết luận là quan hệ ngược nhưng ít ý nghĩa. Tại Pháp,

Dubois cũng chỉ ra mối quan hệ là ngược chiều, tức là doanh nghiệp có mức

độ rủi ro càng lớn thì tỷ lệ nợ càng thấp.

Như vậy, những nghiên cứu về ảnh hưởng của rủi ro đối với chính sách

nợ còn chưa thống nhất là đơi khi còn trái ngược nhau.

1.2.4.



Cơ cấu tài sản

Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp nếu dựa vào tính năng hoạt động, đặc



điểm kinh tế kỹ thuật và đặc điểm luân chuyển của tài sản thì được chia thành

hai bộ phận lớn là tài sản cố định và tài sản lưu động. ảnh hưởng của cơ cấu

tài sản đến cấu trúc tài chính thể hiện ở chỗ, một mặt tài sản cố định vừa có ý

nghĩa về giá trị thế chấp cho các khoản vay nên có tác dụng làm giảm mức

thiệt hại đối với chủ nợ một khi rủi ro xảy ra làm cho doanh nghiệp mất khả

năng thanh toán, mặt khác, đối với những doanh nghiệp thuộc những ngành

đòi hỏi đầu tư lớn về tài sản cố định hàm chứa một nguy cơ rủi ro lớn do tác

động của đòn cân định phí cùng với tính chất thanh khoản rất thấp của tài sản

cố định nên sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp khi chuyển hướng hoạt động

nên có tỷ lệ nợ thấp. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp khi chuyển hướng

hoạt động nên có tỷ lệ nợ thấp. Và ngược lại. Nếu phân tích sâu hơn về cấu



15

trúc tài sản cố định tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản

cố định vơ hình như nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết cơng nghệ, phát minh sáng

chế... thì đối với các doanh nghiệp có tỷ trọng tài sản cố định vơ hình càng lớn

thì khả năng vay nợ càng thấp, vì tài sản cố định vơ hình hàm chứa một nguy

cơ rủi ro cao vì khơng có khả năng thế chấp như đối với tài sản cố định hữu

hình, là tài sản cố định có hình thái vật chất có khả năng thế chấp lớn đối với

các tổ chức tín dụng. Ví dụ: tại Pháp R, Bah và P.Dumontier cho rằng tính

chất của tài sản ảnh hưởng đến cách thức tài trợ của doanh nghiệp.

1.3.



Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Cơ cấu vốn tối ưu là cơ cấu vốn mà tại đó giá trị cơng ty là lớn nhất,



hay nói cách khác là chi phí tài chính là nhỏ nhất và do vậy cũng làm tối đa

hóa doanh thu của doanh nghiệp. Nếu cơ cấu vốn tác động đến hiệu quả hoạt

động của doanh nghiệp, thì cơ cấu vốn cũng sẽ tác động đến sức khỏe tài

chính cũng như khả năng phá sản của doanh nghiệp. Từ góc độ của chủ nợ thì

tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu giúp ích cho việc hiểu được chiến lược quản lý rủi ro

của ngân hàng và bằng cách nào ngân hàng xác định được khả năng phá sản

liên quan đến các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính.

Khái niệm về hiệu quả hoạt động là một chủ đề gây tranh cãi trong tài

chính bởi do ý nghĩa rộng lớn của nó. Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động

doanh nghiệp xuất phát từ lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược (Murphy,

1996). Hiệu quả hoạt động đo lường trên cả phương diện tài chính và tổ chức.

Hiệu quả hoạt động tài chính như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận

trên tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đơng là vấn đề cốt lõi của tính hiệu

quả của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động được đo lường bằng tốc độ tăng

trưởng doanh thu và thị phần, cho một định nghĩa rộng hơn về hiệu quả hoạt

động.



16

Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của

cơng ty mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường

hiệu quả hoạt động của công ty và sự phát triển của thị trường chứng khoán

và thị trường vốn. Ví dụ, nếu thị trường chứng khốn khơng phát triển cao thì

đo lường hiệu quả hoạt động theo thị trường sẽ không cho kết quả tốt. Các

biến đại diện cho hiệu quả hoạt động phổ biến là ROA và ROE hay lợi nhuận

trên đầu tư ROI. Những đo lường hiệu quả hoạt động theo kế toán này đại

diện cho các chỉ số tài chính thu được từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu

nhập đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng (Demsetz và Lahn, 1985; Gorton

và Rosen, 1995; Mehran, 1995; Ang, Cole và Line, 2000).

Ngồi ra, còn có các đo lường hiệu quả hoạt động khác được gọi là đo

lường hiệu quả hoạt động thị trường, như là giá mỗi cổ phần trên thu nhập

mỗi cổ phần (P/E), tỷ số giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách

của vốn chủ sở hữu (MBVR), và chỉ số Tobin’s Q. Hiệu quả hoạt động đo

lường bằng ROA và ROE thường được sử dụng nhiều nhất.

Nghiên cứu của Maslis (1983) cho thấy giá của cổ phiếu có tương quan

thuận (dương) với mức độ tài trợ, cung như là mối liên hệ giữa hiệu quả hoạt

động doanh nghiệp với cơ cấu vốn. Trong khoản từ 0,23 đến 0,45 là tỷ lệ nợ

hiệu quả tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Tối ưu hóa được tỷ

lệ này sẽ có lợi cho doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Wei Xu (2005) cho thấy có mối liên hệ vững chắc về

hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (đo lường bằng ROE) với cơ cấu tài

chính: (1) hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có mối liên hệ cùng chiều

(dương) với tỷ lệ nợ; (2) khi tỷ lệ nợ nằm trong khoảng 24,52% và 51,13%,

thì hiệu quả hoạt động có mối quan hệ theo phương trình bậc hai và bậc ba

với tỷ lệ nợ.



17

Nghiên cứu của Rami Zeitun (2007) cho thấy cơ cấu vốn có tác động

hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp khi đo lường theo kế toán và theo chỉ số

thị trường. Tỷ lệ nợ ngắn hạn có tác động dương đến hiệu quả theo thị trường

của doanh nghiệp (đo lường bằng chỉ số Tobin’s Q).

Nghiên cứu của Margaritis (2007) về mối quan hệ nhân quả giữa cơ cấu

vốn và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cho thấy hiệu quả hoạt động của

doanh nghiệp ảnh hưởng đến cơ cấu vốn và ngược lại cơ cấu vốn cũng tác

động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Dilip Ratha (2003) cho thấy đòn bẩy tài chính tác động

âm đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp) ở các doanh nghiệp của các

nước đang phát triển.

Nghiên cứu của Berger (2006) về cơ cấu vốn và hiệu quả hoạt động của

các ngân hàng thông qua việc kiểm định lý thuyết chi phí người chủ và người

đại diện cho thấy: Cơ cấu vốn tác động đến hiệu quả hoạt động các ngân hàng

và ngược lại hiệu quả hoạt động cũng tác động đến cơ cấu vốn.

Như vậy, hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi cơ cấu vốn và bởi

cấu trúc thời gian đáo hạn của nợ. Thời gian đáo hạn của nợ tác động đến lựa

chọn đầu tư của doanh nghiệp. Thuế suất cũng tác động đến hiệu quả hoạt

động của doanh nghiệp. Do vậy xem xét tác động của cơ cấu vốn đến hiệu

quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ cho chúng ta chứng cứ rõ ràng nhất về

hiệu ứng của cơ cấu vốn lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

1.4.



Mơ hình thực nghiệm và các chỉ tiêu đánh giá tác động của cấu

trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Tian và Zeitun (2007) “xem xét ảnh hưởng của cơ cấu vốn lên hoạt



động cơng ty ở Jordan”, ở đó họ kiểm sốt ảnh hưởng của các ngành cơng

nghiêp, rủi ro vùng, chẳng hạn như Khủng hoảng vùng Vịnh 1990-1991 và sự

bùng nổ Itifadah ở West Bank tháng Chín năm 2000. Các ông cũng dùng một



18

bảng mẫu dữ liệu thể hiện 167 công ty Jordani trong giai đoạn 1989-2003.

Các kết quả cho thấy rằng một cơ cấu vốn cơng ty có ảnh hưởng tiêu cực đáng

kể lên các thước đo hoạt động cơng ty, trong cả thước đo về kế tốn và thị

trường.

Hai Ơng đã sử dụng mơ hình thực nghiệm hình hồi quy bình phương để

kiểm tra giả thiết rằng khả năng sinh lợi, cơ hội tăng trưởng, quy mô, tài sản

hữu hình của một cơng ty sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu vốn. Mơ hình thực nghiệm

được tính như sau:

Y it = β0 + β1 PROF it + β2 Growth it + β3 Size it + β4 STDVCF it + β5 TAX it + β6

TANG it +  it

Và để kiểm tra các giả thiết rằng cơ cấu vốn của một công ty sẽ ảnh

hưởng lên hiệu quả thị trường của cơng ty trong dữ liệu của mình. Mơ hình

thực nghiệm được dự tính như sau:

Yit = β0 + β1Leveragei + β2Growthi + β3Sizeli + β4 STDVCF it + β5 TAX it + β6

TANG it +  it

i là cơng ty riêng lẻ, và Y là đòn bẩy nợ của công ty . Các biến số độc

lập được đại diện bởi Prof, Growth, Size, STDVCF, Tax và TANG. Năm

thước đo đòn bẩy nợ được các ơng sử dụng: tổng nợ trên tổng tài sản (TDTA total debt to total assets), tổng nợ trên tổng vốn sở hữu (TDTE - total debt to

total equity), nợ dài hạn trên tổng tài sản (LTDTA - long-term debt to total

assets), nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (STDTA - short-term debt to total assets)

và Tổng nợ trên tổng vốn chủ sở hữu (TDTC – total debt to total capital).

Biến số độc lập: Khả năng sinh lợi công ty (Prof), Tăng trưởng công ty

(Growth), Quy mô công ty (Sizel), rủi ro được đo bằng độ lệch chuẩn của

dòng tiền (STDVCF), thuế (Tax) và Tài sản hữu hình cơng ty (Tang).

Tác giả dựa vào mơ hình trên, áp dụng phân tích thị trường chứng

khốn Hà Nội để đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố: lợi nhuận, quy mô,



19

cơ hội tăng trưởng, giá trị tài sản hữu hình đối với cấu trúc vốn của các cơng

ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khốn Hà Nội và trong giới hạn đề tài tác

giả chỉ nghiên cứu 1 chiều ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị thị trường

của công ty trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội.



CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN

SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHỐN HÀ NỘI



20

2.1.



Giới thiệu về Sở giao dịch chứng khốn Hà Nội

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCK Hà Nội) được thành lập



theo Quyết định số 01/2009/QĐ-Ttg ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ

trên cơ sở chuyển đổi, tổ chức lại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội.

TTGDCK Hà Nội, được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐTTg ngày 11/7/1998, chính thức đi vào hoạt động từ năm 2005 với các hoạt

động chính là tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán niêm yết, đấu giá cổ

phần và đấu thầu trái phiếu. Sau 4 năm hoạt động, TTGDCK Hà Nội đã có

những bước trưởng thành nhanh và mạnh, thu hút được sự quan tâm của

doanh nghiệp và công chúng đầu tư. TTGDCK Hà Nội đã được Chủ tịch

Nước CHXHCN Việt Nam trao tặng Huân chương Lao động Hạng ba vì đã có

thành tích xuất sắc trong việc thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả của thị trường

chứng khốn, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

Tổ quốc.

SGDCK Hà Nội kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ của TTGDCK Hà Nội

và thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Luật Chứng khoán, Luật Doanh

nghiệp, Điều lệ tổ chức và hoạt động của SGDCK Hà Nội và các quy định

pháp luật khác có liên quan.

2.2.



Nhiệm vụ và quyền hạn của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

Sở GDCK Hà Nội là pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước, được tổ chức



theo mô hình cơng ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, có tư cách pháp

nhân, có con dấu riêng; được mở tài khoản bằng Việt Nam đồng và ngoại tệ

tại Kho bạc Nhà nước và các NHTM trong và ngoài nước; là đơn vị hạch toán

độc lập, tự chủ về tài chính, thực hiện chế độ tài chính, chế độ báo cáo thống

kê, kế tốn, kiểm tốn và có nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật; hoạt

động theo Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Điều lệ của Sở Giao dịch

chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan.



21

Tên gọi đầy đủ: Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

Tên giao dịch quốc tế: Hanoi Stock Exchange

Tên viết tắt: HNX

Vốn điều lệ: 1.000 tỷ đồng

Nhiệm vụ và quyền hạn của Sở GDCK Hà Nội như sau:

Nhiệm vụ:

a.



Bảo đảm hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường được

tiến hành công khai, công bằng, minh bạch và hiệu quả.



b.



Thực hiện chế độ tài chính, báo cáo thơng kê, kế toán và kiểm

toán theo quy định của pháp luật và của Bộ Tài chính.



c.



Thực hiện cơng bố thơng tin theo quy định tại Luật Chứng khoán

và các văn bản hướng dẫn;



d.



Cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan chức năng trong

công tác thanh tra, kiểm tra và phòng, chống các hành vi vi phạm

pháp luật về chứng khốn và thị trường chứng khốn.



e.



Bảo tồn và phát triển vốn nhà nước giao; quản lý và sử dụng có

hiệu quả các nguồn vốn và tài sản, chịu trách nhiệm trước pháp luật

về tổn thất các nguồn vốn và tài sản của Sở Giao dịch;



f.



Phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về

chứng khoán và thị trường chứng khoán cho nhà đầu tư.



g.



Bồi thường thiệt hại cho thành viên giao dịch trong trường hợp

Sở Giao dịch gây thiệt hại cho thành viên giao dịch, trừ trường hợp

bất khả kháng.



h.



Xử lý và trả lời những thắc mắc, khiếu nại, khiếu kiện của các

nhà đầu tư, các tổ chức niêm yết



22

i.



Sở Giao dịch được Nhà nước giao vốn điều lệ và chịu trách

nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Sở Giao dịch

trong phạm vi vốn Điều lệ của mình.



j.



Sở Giao dịch chịu trách nhiệm kế thừa quyền và nghĩa vụ pháp

lý của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội theo quy định của

pháp luật;



k.



Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.



Quyền hạn:

a. Ban hành các Quy chế về niêm yết chứng khoán, giao dịch chứng

khoán, giám sát giao dịch, công bố thông tin, thành viên giao dịch

và các quy chế khác sau khi được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

chấp thuận.

b. Tổ chức và điều hành hoạt động giao dịch chứng khoán tại Sở giao

dịch.

c. Tạm ngừng, đình chỉ hoặc huỷ bỏ giao dịch chứng khốn theo Quy

chế giao dịch chứng khoán của Sở Giao dịch trong trường hợp cần

thiết để bảo vệ nhà đầu tư.

d. Chấp thuận, huỷ bỏ niêm yết chứng khoán và giám sát việc duy trì

điều kiện niêm yết chứng khốn của các tổ chức niêm yết tại Sở

Giao dịch.

e. Chấp thuận, huỷ bỏ tư cách thành viên giao dịch; giám sát hoạt động

giao dịch chứng khoán của các thành viên giao dịch tại Sở giao dịch.

f. Giám sát hoạt động công bố thông tin của các tổ chức niêm yết,

thành viên giao dịch tại Sở giao dịch.

g. Cung cấp thông tin thị trường và các thơng tin liên quan đến chứng

khốn niêm yết.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.2 - Biểu diễn quan hệ giữa cấu trúc tài sản & cấu trúc nguồn vốn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×