Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Một số giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Hòa Vang:

2 Một số giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Hòa Vang:

Tải bản đầy đủ - 0trang

94

Mục đích chủ yếu của việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế, xã

hội nói chung và ngành nơng nghiệp nói riêng là nhằm phục vụ cho cơng tác

chỉ đạo và điều hành quá trình phát triển kinh tế-xã hội và cung cấp những

căn cứ cần thiết cho hoạt động kinh tế, xã hội, ngành nơng nghiệp nói riêng

của nhân dân huyện, các nhà đầu tư kinh doanh có định hướng đầu tư vào

phát triển nông nghiệp. Quy hoạch giúp các cơ quan lãnh đạo và quản lý các

vùng nơng thơn có căn cứ khoa học để đưa ra các chủ trương, các kế hoạch

phát triển, các giải pháp hữu hiệu để chỉ đạo, điều hành quá trình phát triển

kinh tế-xã hội; giúp nhân dân trong vùng và các nhà đầu tư, nhà kinh doanh

hiểu rõ tiềm năng, cơ hội đầu tư, kinh doanh và yêu cầu phát triển kinh tế, xã

hội của huyện.

Quy hoạch phát triển nông nghiệp giúp cho các hoạt động trên lĩnh vực

nông nghiệp huyện phát triển một cách đúng hướng, ổn định, tránh được các

chồng chéo, mâu thuẫn tạo tiền đề cho nông nghiệp phát triển nhanh, hiệu quả

và bền vững.

Quy hoạch phát triển nơng nghiệp vừa có tính ổn định và vừa có tính cơ

động. Cần xác định đúng các quan điểm, mục tiêu, định hướng chủ yếu, có sự

bố trí chiến lược đúng nhất là về xây dựng kết cấu hạ tầng, tổ chức khơng gian

lãnh thổ đồng thời cần có sự linh hoạt cần thiết trong các phương án, giải pháp.

Do đó quy hoạch phải có trọng điểm, có khâu đột phá, có nhiều phương án.

3.2.1.2. Nội dung quy hoạch:

Dựa vào các tính chất đất đai, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và lợi thế

của huyện, sử dụng đất đai có hiệu quả, định hướng phát triển các cây trồng

hàng hoá chủ lực nhưng vẫn coi trọng sản xuất cây lương thực. Phương án

được xây dựng trên cơ sở phát huy tối đa nguồn lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa

học công nghệ, tăng năng suất, chất lượng cây trồng, con vật ni, chủ động

đối phó với các yếu tố thiên tai, thời tiết và dịch bệnh.



95

a. Quy hoạch bố trí đất cho vùng sản xuất tập trung

Với chủ trương chung của cả nước là phải dành một số diện tích đất

nơng nghiệp phục vụ q trình đơ thị hố và hình thành các khu công nghiệp

nhưng phải hết sức tiết kiệm để đảm bảo an ninh lương thực và ổn định đời

sống nơng dân. Diện tích đất nơng nghiệp ở thành phố đã mất quá nhiều,

trong thời gian đến cần phải hạn chế để có một khơng gian nơng nghiệp ổn

định làm cho môi trường và cảnh quan thành phố thêm tươi đẹp để thu hút du

lịch. Việc thu hồi đất dành cho các cơng trình nên theo xu hướng tránh diện

tích đất tốt ở đồng bằng, hạn chế thu hồi đất trồng cây hàng năm, nên tăng

cường thu hồi diện tích cây lâu năm và đất đồi. Trong thời gian đến, xu hướng

phát triển đô thị của thành phố cần hạn chế chiều rộng, tăng phát triển chiều

cao để xứng tầm với các đô thị phát triển trong khu vực.

- Vùng trồng lúa thâm canh năng suất cao, chất lượng phù hợp: 2.000

ha, tập trung ở huyện Hoà Vang, các địa phương:

+ Cụm Hoà Châu, Hoà Phước, Hoà Tiến



: 600 ha



+ Cụm Hoà Khương, Hoà Nhơn, Hoà Phong



: 800 ha



+ Cụm Hoà Sơn, Hoà Liên



: 400 ha



- Vùng trồng rau tập trung: Hòa Tiến, Hòa Phong, Hồ Khương, Hòa Nhơn.

- Vùng trồng hoa cây cảnh: Hình thành các làng trồng hoa cây cảnh ở

Hoà Tiến, Hoà Phước, Hoà Châu.

- Vùng trồng cây ăn quả, trồng cỏ chăn nuôi: Các xã Hoà Sơn, Hoà

Ninh, Hoà Phú, Hoà Bắc, Hoà Liên, Hoà Khương.

b. Quy hoạch sản xuất trồng trọt:

* Cây lương thực

- Lúa:

Xây dựng vùng lúa thâm canh 2.000 ha trên các chân ruộng chủ động

nước, dùng giống mới và áp dụng các biện pháp IPM, ICM … để cho năng



96

suất và chất lượng tốt, đẩy mạnh cơ giới hoá trong các khâu sản xuất chính để

giải quyết khâu lao động, tiếp tục thực hiện chương trình cấp I hố giống lúa,

phấn đấu đạt mục tiêu 100% diện tích gieo sạ giống kỹ thuật. Đẩy mạnh công

tác khảo nghiệm chọn lọc để có bộ giống lúa tốt, kháng bệnh cao, cho năng

suất và chất lượng tối ưu.

Cây lúa vẫn không thể là sản phẩm cạnh tranh nhưng góp phần ổn định

đời sống nông dân và bảo đảm an ninh lương thực trên cơ sở kiến thức và

kinh nghiệm về sản xuất lúa của nông dân thành phố khá thuần thục cùng với

hệ thống thuỷ lợi khá hồn chỉnh.

- Ngơ: 1.000 ha, sử dụng giống ngô lai, cần tiếp tục thâm canh và thâm

canh cao để khai thác tối đa năng suất ưu thế lai đạt 65 tạ/ha, sản lượng đạt

7.800 tấn. Cần tiếp tục tăng cường công tác tưới nước lứa cho cây ngô bằng

cách mở rộng hệ tưới tự chảy và các giếng đóng.

* Cây thực phẩm

Đến năm 2020 phải đưa diện tích gieo trồng cây thực phẩm đạt 2.600

ha/năm và là cây trồng chính, trong đó diện tích sản xuất theo quy trình an

tồn và GAP là 1.500 ha. Hình thành các vùng chuyên canh trên cơ sở vận

động nông dân dồn điền đổi thửa, từ đó xác định cơ cấu cây trồng và nhóm

cây trồng chính cho từng vùng (rau gia vị, rau ăn lá, rau ăn quả…). Trên cơ sở

hình thành các vùng chuyên canh, đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

như: hệ thống tưới, tưới phun, tưới nhỏ giọt, đường điện, các khu vực nhà sản

xuất, nhà sơ chế bảo quản,…Cây rau phải là sản phẩm cạnh tranh với các biện

pháp: dùng giống mới và giống lai, một số chủng loại tiến hành sản xuất trên

khay, sản xuất theo phương pháp thuỷ canh để sản xuất trong mùa mưa. Phát

triển các doanh nghiệp tư nhân về các công đoạn sơ chế và tiêu thụ, phát triển

việc xây dựng thương hiệu, hình thành các quầy mua bán, HTX và tổ hợp tác

chuyên rau,…

* Cây công nghiệp hàng năm:



97

- Lạc: Cây lạc vừa có giá trị kinh tế vừa có tác dụng cải tạo đất, thân lạc

dùng làm thức ăn chăn nuôi. Năm 2020 ổn định diện tích sản xuất lạc 800 ha,

năng suất 25 tạ/ha, sản lượng 2.000 tấn.

- Vừng: Cây vừng ở huyện diện tích khơng đáng kể và trồng vừng làm

đất đai ngày càng xấu đi nên triệt tiêu diện tích trồng vừng chuyển sang trồng

cỏ chăn ni và các cây có giá trị khác.

- Cây mía: Đến năm 2020, duy trì diện tích mía 70 ha do xu hướng các

loại nước uống đóng hộp ngày càng phát triển phong phú và đa dạng, sản

lượng đạt 2.800 tấn, chuyển diện tích trồng mía sang trồng cỏ chăn nuôi và

cây khác. Nghiên cứu và khuyến cáo nơng dân trồng các loại giống mía có

năng suất cao, thân cây to, mềm, độ ngọt thanh để làm nước giải khát.

- Cây thuốc lá: Ổn định diện tích đến năm 2020 là 50 ha, sản lượng 135 tấn.

* Các loại cây màu:

- Khoai lang: Đất trồng khoai lang được chuyển dần sang các loại cây

thực phẩm và cây hàng năm khác để vùa cho giá trị kinh tế cao, vừa phù hợp

với nhu cầu thị trường. Đến năm 2020, diện tích khoai lang duy trì 350 ha,

sản lượng 2.800 tấn, cần đưa các giống khoai có năng suất và chất lượng cao

của Nhật Bản, Trung Quốc … vào cơ cấu, nhất là các giống khoai dùng trong

chế biến các món ăn cao cấp.

- Sắn: Cây sắn tác động làm suy kiệt đất và không thể là sản phẩm hàng

hố đối với nơng nghiệp huyện, do vậy, triệt tiêu diện tích trồng sắn chuyển

sang trồng cỏ và các cây hàng năm khác.



98

* Các loại cây hàng năm khác:

- Hoa 150 ha: Xác định hoa của thành phố Đà Nẵng nói chung và

huyện khơng thể cạnh tranh với hoa xứ lạnh; Do vậy, tăng cường trồng các

giống hoa chịu nhiệt để phục vụ nhu cầu lễ cúng của nhân dân, trang trí phụ

cho các lẳng hoa, vòng hoa … Bên cạnh đó, tận dụng lợi thế Phòng ni cấy

mơ tế bào để phát triển các giống hoa lan trồng trong nhà lưới và nhà kính.

- Đất trồng cỏ chăn nuôi 150 ha, trồng cỏ chăn nuôi phải theo hướng

thâm canh và là sản phẩm hàng hoá làm nguyên liệu cho nội ngành, dùng các

giống cỏ năng suất và chất lượng cao của Úc, Canada để nâng hiệu quả trồng

cỏ và kể cả hiệu quả trong chăn nuôi.

- Dưa hấu: Cây dưa hấu thích hợp trên nhiều chân đất của huyện, diện

tích năm 2020 đạt 150 ha, dùng các giống dưa Hắc Mỹ Nhân và các giống

mới của Nhật Bản để có chất lượng ngon, mẫu mã đẹp. Phát triển mạnh dưa

hấu ở Hoà Khương, Hoà Tiến, Hoà Phong…

* Cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả:

Đến năm 2020, duy trì diện tích trồng cây lâu năm là 770 ha. Vận động

nơng dân rà sốt lại hệ thống các cây ăn quả, cây nào khơng có giá trị kinh tế

thì loại bỏ dần để chuyển sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế và phù hợp

với thổ nhưỡng, khí hậu của huyện. Đặc biệt chú trọng hướng dẫn nông dân

trồng các loại cây ăn quả như đu đủ, chuối,… vừa có thị trường tiêu thụ, vừa

thích hợp với điều kiện tự nhiên.

c. Quy hoạch ngành chăn nuôi:

Trong nội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu ngành chăn nuôi tăng dần

qua các năm và từng bước chuyển dịch trở thành ngành sản xuất chính

trong sản xuất nơng nghiệp của huyện. Tuy nhiên, sản xuất chăn ni của

huyện còn ở quy mô nhỏ, chỉ mới đáp ứng được 305 nhu cầu thịt, 20% nhu

cầu về trứng cho tiêu dùng của thành phố, còn lại phải nhập từ các tỉnh



99

khác và nhập khẩu. Với lợi thế là huyện nông nghiệp duy nhất của một đô

thị lớn, là trung tâm du lịch, do đó nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn ni của

thành phố ngày càng tăng.

Tổ chức lại sản xuất chăn nuôi theo hướng công nghiệp gắn với việc

thực hiện chặt chẽ các quy định về phòng chống dịch đảm bảo chăn nuôi phát

triển bền vững.

Đối tượng phát triển: Đối với gia súc tập trung ưu tiên phát triển heo

thịt và bò thịt. Đối với gia cầm tập trung ưu tiên phát triển gà hướng trứng và

gà hướng thịt. Không khuyến khích phát triển đàn thuỷ cầm và chim cút.

Hướng phát triển: Theo hướng trang trại có đầu tư ứng dụng cơng

nghệ chăn ni an tồn sinh học, giống và thức ăn được lấy từ những cơ sở

sản xuất giống có chất lượng, sản phẩm thịt trứng tạo ra an toàn, khơng

dịch bệnh, khơng tồn dư chất kháng sinh và hóa chất độc hại khác. Quy

hoạch ổn định 02 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung tại: Hòa Phước,

Hòa Vang và Hòa Sơn.

- Chăn ni heo: Phát triển nhanh quy mô đàn lợn theo hướng trang

trại, công nghiệp, tăng cường kiểm sốt dịch bệnh và mơi trường. Phấn đấu

giai đoạn 2008-2020 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân tổng đàn 6,2%/năm,

tổng đàn heo đạt 125.000 con.

- Chăn nuôi gia cầm: Phát triển theo hướng chăn nuôi trang trại, chăn

ni thả vườn có kiểm sốt. Đối tượng chính là chăn ni gà và vịt, trong đó

chính là gà thịt, gà đẻ trứng, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng đàn

7,4%/năm, đến năm 2020 quy mô đàn gia cầm 610.000 con.

- Chăn nuôi gia súc: Trọng tâm là phát triển chăn ni bò thịt, tốc độ

tăng trưởng đàn bò bình qn 5,1%/năm, tỷ lệ bò lai sind đạt trên 50% tổng

đàn bò, dự kiến tổng đàn bò đến năm 2020 là 25.000 con



100

- Chăn nuôi khác: Chăn nuôi dê, cừu, heo rừng,...phát triển tại các khu

vực miền núi như Hòa Ninh, Hòa Phú và Hòa Bắc.

d. Quy hoạch phát triển kinh tế trang trại

Nhìn chung, lợi thế phát triển kinh tế thủy sản nông lâm trong thời gian

đến là phát triển nền nơng nghiệp theo hướng sạch, hình thành vùng chuyên

canh nông nghiệp phục vụ công nghiệp, du lịch và xuất khẩu, chuyển dịch cơ

cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế về tài nguyên và thị trường, phát triển

chiều sâu, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, khai thác diện tích đất trống

đồi trọc để phát triển sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích

đất canh tác, cụ thể cho các loại hình trang trại như sau:

- Trang trại cây hằng năm: Với các loại hình như: trang trại trồng hoa,

rau chuyên canh, trang trại trồng nấm, trang trại sinh vật cảnh ở đồng bằng,

ven đơ thị và trang trại trồng mía, thuốc lá,… ở các xã miền núi, trung du.

- Trang trại cây lâu năm: Bố trí chủ yếu tại khu vực trung du, miền núi,

phát triển trên diện tích đất trống, đồi núi trọc với các loại hình như: trang trại

trồng tiêu, điều, cây ăn quả các loại,…

- Trang trại chăn ni: Các loại hình chính là: chăn ni heo hướng nạc

và phát triển trang trại trồng cỏ chăn nuôi bò, chăn ni dê, cừu trên các vùng

gò, đồi trung du của huyện Hòa Vang.

- Trang trại lâm nghiệp: Chủ yếu là trang trại trồng rừng kinh tế kết hợp

chăn nuôi, trồng cây ăn quả,…

3.2.2. Thu hút vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp.

Vốn là một trong những nguyên nhân quan trọng trong phát triển nông

nghiệp. Huyện cần tăng cường đầu tư vốn từ ngân sách nông nghiệp cho phù

hợp với yêu cầu, vừa để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất

nông nghiệp, vừa là để xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng nơng thơn, đồng

thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho nông nghiệp.



101

Nông nghiệp cũng không phải lĩnh vực hấp dẫn đối với các nhà đầu tư

trong và ngồi nước. “Rủi ro tiềm ẩn và thiếu tính hấp dẫn trong hoạt động

kinh doanh được xem là lực cản lớn nhất trong việc thu hút vốn đầu tư vào

nơng nghiệp”.

Ngồi ra, còn một ngun nhân khác là cơ sở hạ tầng ở khu vực nơng

thơn còn nhiều hạn chế, gây cản trở cho hoạt động thu hút vốn. Do vậy cần

xác định vốn cho phát triển nông nghiệp cần được thu hút từ nguồn vốn đầu

tư của nhà nước, của các tổ chức tín dụng nhà nước và của chính các hộ cá

thể nơng nghiệp là chủ yếu.

3.2.2.1. Vốn ngân sách:

- Tập trung đầu tư cho các hoạt đông nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ

khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, khuyến nông, giống mới,

giống gốc và các hoạt động hỗ trợ như kiểm dịch, phòng chống dịch bệnh, thú

y, bảo vệ thực vật, quản lý chất lượng sản phẩm, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản,

quản lý bảo vệ rừng, xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm,...

- Đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn và xây

dựng đời sống văn hố nơng thơn, trong đó ngân sách Nhà nước ưu tiên đầu

tư thuỷ lợi, giao thông, cơ sở sản xuất giống, cảng cá, bến cá, khu trú bão tàu

thuyền, chợ đầu mối, các cơng trình cấp nước sinh hoạt nông thôn, đầu tư hạ

tầng các vùng chuyên canh sản xuất tập trung rau, hoa, vùng sản xuất lúa

giống,... Xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ ở nông thơn có ý nghĩa quan trọng

to lớn đối với sự phát triển của các trang trại. Các yếu tố quan trọng nhất là hệ

thống giao thông, thuỷ lợi, điện, hệ thống chợ…Đẩy mạnh việc nâng cấp và

xây mới hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn đáp ứng nhu

cầu chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hoá chất lượng cao

Hệ thống hạ tầng của huyện, nhất là hệ thống thủy lợi, giao thông nông

thôn, giao thông nội đồng đã được đầu tư cải thiện nhiều và có những tác



102

động tích cực đến sản xuất, đời sống nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu để

phát triển nông nghiệp ở mức độ cao. Sự tác động của q trình cơng nghiệp

hóa làm giảm chức năng phục vụ, thậm chí còn làm cho hệ thống này tác

động xấu đến nơng nghiệp. Vì vậy, cần tăng cường đầu tư nâng cấp các cơ sở

hạ tầng kỹ thuật như mương cấp III, xây dựng các khu xử lý rác thải, hệ thống

cung cấp nước sạch đảm bảo các cơ sở SXKD trên địa bàn huyện được dùng

nước sạch trong sinh hoạt nhất là đối với các dự án sản xuất, kinh doanh, các

cơ sở chăn nuôi, giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm. Những ngành nghề chăn

nuôi, chế biến nơng sản có nước thải gây ơ nhiễm mơi trường cần có sự giúp

đỡ hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn để xử lý các nguồn nước trước khi

đổ vào ao hồ, sông tưới tiêu chung như hỗ trợ kinh phí xây dựng bể Bioga, bể

chứa vỏ bao bì thuốc BVTV...

- Vốn ngân sách thực hiện các chủ trương, chính sách hỗ trợ phát

triển sản xuất như: hỗ trợ lãi suất vay thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế

nơng nghiệp, nơng thơn, miễn thuỷ lợi phí, hỗ trợ ngư dân, hỗ trợ trồng

rừng sản xuất,...

- Huy động nguồn vốn hỗ trợ, đầu tư có mục tiêu của TW để đầu tư

phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thơn từ các chương trình, dự án lớn như:

Chương trình 5 triệu ha rừng, chương trình nước sạch & VSMT nơng thơn,

chương trình mục tiêu quốc gia xố đói giảm nghèo, Di dãn dân theo Quyết

định 193/QĐ-TTg, Chương trình giống cây trồng, vật ni, chương trình phát

triển ni trồng thuỷ sản, Dự án đê kè biển, kè sơng,...

3.2.2.2. Vốn tín dụng:

Do phần lớn người dân nơng thơn có thu nhập thấp và cần những

khoản vốn nhỏ nên “đầu mối” cung ứng vốn chủ yếu là ngân hàng hoạt động

ở khu vực nơng thơn, ngân hàng chính sách xã hội, quỹ tín dụng, các tổ chức

tài chính quy mơ nhỏ và các chương trình, dự án của Chính phủ cũng như các



103

tổ chức phi chính phủ.

- Tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của TW về tín dụng

phục vụ phát triển kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn, chính sách hỗ trợ đầu tư

đối với các dự án sản xuất nông nghiepẹ, chế biến hàng xuất khẩu,..

- Ưu tiên dành nguồn vốn từ Quỹ đầu tư phát triển của thành phố để

cho vay, hỗ trợ phát triển đối với các dự án đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp,

nông thôn và nguồn vốn của Ngân hàng chính sách xã hội thành phố, ngân

hàng nông nghiệp & PTNT để phục vụ cho mục tiêu xố đói giảm nghèo, vay

vốn phát triển sản xuất, phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn thành phố.

- Phối hợp với các ngân hàng thương mại để có chính sách, hình thức

cho vay vốn phù hợp với điều kiện với từng hộ vay, có hình thức ưu tiên để

các hộ nông ngư dân tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng: vay bằng tín chấp,

vay theo dự án sản xuất, thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay,...

3.2.2.3. Vốn nhân dân và nguồn vốn khác:

- Xây dựng chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp, nông thôn nhằm khai thác nguồn lực trong nhân dân đầu tư, phát triển

kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn.

- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư hạ tầng, cải tạo đồng

ruộng, vay vốn sản xuất, đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, cơ sở bảo quản,

chế biến nông lâm thuỷ sản, sản xuất giống cây trồng, con vật nuôi, đầu tư

trồng rừng,...

- Tạo mơi trường thơng thống để thu hút các nguồn lực đầu tư vào

nông nghiệp, nông thôn huyện. Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức nước

ngoài để tăng cường đầu tư, nhất là đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất cho vùng

núi, vùng đồng bào dân tộc,...



104

3.2.3. Giải pháp chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng chất

lượng cao

Kết quả chuyển dịch cơ cấu SXNN và kinh tế nơng thơn huyện 5 năm

qua còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng đất đai, lao động và nguồn lực

đầu tư. Trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi chăn ni tuy có nhiều

tiềm năng nhưng chưa được chú trọng phát triển, nhất là chăn nuôi đại gia súc

theo hướng tập trung. Tác động của việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng,

vật ni chưa nhiều, còn mang tính làm mẫu, làm điểm; đa số cây trồng, vật

nuôi năng suất, hiệu quả chưa cao, chất lượng cây, con giống chưa đảm bảo.

Các chỉ tiêu chủ yếu về chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nơng nghiệp chưa

đạt u cầu.

Nhìn chung, SXNN Hoà Vang chủ yếu diễn ra ở kinh tế hộ, quy mô

nhỏ, phân tán, phần lớn sản xuất theo hướng tự phát, tự sản tự tiêu, chưa bám

theo mục tiêu sản xuất hàng hóa và nhu cầu thị trường. Công nghiệp và dịch

vụ nông thôn nhất là công nghiệp chế biến hàng nông sản hầu như chưa phát

triển, nông sản làm ra chủ yếu bán dưới dạng thô và sơ chế nên giá trị sản

phẩm thấp, kém sức cạnh tranh, không đáp ứng nhu cầu thị trường, chủ yếu

tiêu thụ tại chỗ; đây là điều khó khăn trong phát triển sản xuất hàng hóa, cũng

như tạo thêm việc làm ở nơng thơn. Những hạn chế, yếu kém nói trên có

nhiều ngun nhân, song theo tơi có một số ngun nhân sau: Đó là q trình

chuyển dịch chưa được định hướng, hoặc chưa gắn kết chặt chẽ giữa việc

định hướng quy hoạch với tổ chức thực hiện quy hoạch và bố trí sản xuất theo

quy hoạch; hay nói cách khác là chưa có qui hoạch của ngành. Sản xuất còn

nhiều yếu tố tự phát, chưa có vùng sản xuất hàng hố tập trung, nhiều nơi diện

tích canh tác nơng nghiệp ngày càng thu hẹp, ngoài do tác động của q trình

đơ thị hố, có nơi còn bỏ hoang làm cho sản xuất kém hiệu quả, thiếu ổn định

và bền vững. Hệ thống thủy lợi thiếu đồng bộ và chưa khép kín, việc cấp thốt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Một số giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Hòa Vang:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×