Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

39

Địa hình, đất đai

Hồ Vang có 3 loại địa hình là miền núi, trung du và đồng bằng.

Vùng đồi núi: phân bố ở phía Tây, có diện tích khoảng 56.476,7 ha,

bằng 79,84% tổng diện tích đất tự nhiên tồn huyện. Bốn xã miền núi, bao

gồm Hoà Bắc, Hoà Ninh, Hoà Phú và Hồ Liên, có độ cao khoảng từ 400500m, cao nhất là đỉnh núi Bà Nà (1.487 m), độ dốc lớn >40 0, là nơi tập trung

rừng đầu nguồn có ý nghĩa bảo vệ mơi trường sinh thái của thành phố Đà

Nẵng. Đất đai có nguồn gốc chủ yếu đá biến chất, đất đỏ vàng ... phát triển

trên các đá mẹ như mắc-ma, gra-phit…Địa hình đất đai của vùng này thích

hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp và du lịch.

Vùng trung du: chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao trung bình từ 50 đến

100m, xen kẽ là những cánh đồng hẹp, bao gồm các xã Hoà Phong, Hoà

Khương, Hoà Sơn, Hoà Nhơn với diện tích 11.170 ha, chiếm 15,74 % diện

tích tồn huyện; phần lớn đất đai bị bạc màu, xói mòn trơ sỏi đá, chỉ có rất ít

đất phù sa bồi tụ hàng năm ven khe suối. Địa hình và đất đai ở vùng này phù

hợp cho việc trồng các cây cạn, có nhu cầu nước ít, chịu được hạn.

Vùng đồng bằng: bao gồm ba xã Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước vớí

tổng diện tích là 3.087 ha, chiếm 4,37% diện tích tự nhiên. Đây là vùng nằm ở

độ cao thấp 2-10 m, hẹp nhưng tương đối bằng phẳng. Đất phù sa ven sông và

đất cát là hai loại đất đặc trưng của vùng, thích hợp cho việc trồng rau, lúa

màu. Tuy nhiên, có yếu tố khơng thuận lợi là do địa hình thấp, khu vực này

thường bị ngập lụt trong những ngày mưa lũ lớn.

Địa hình đa dạng của Hồ Vang cùng với kết cấu đất vững chắc thuận

lợi cho bố trí các cơng trình hạ tầng kỹ thuật, tạo cho huyện tiềm năng phát

triển một nền kinh tế với thế mạnh về nông lâm nghiệp và du lịch nhưng đồng

thời cũng có nhiều khó khăn, thách thức như hạn hán, lũ lụt… cần phải giải

quyết. Cần phải có quy hoạch sử dụng đất hợp lý và phải tính đến những tác



40

động tích cực cũng như tiêu cực của q trình khai thác sử dụng nhằm đảm

bảo trạng thái cân bằng về địa hình, bảo vệ mơi trường sinh thái.

2.1.1.2. Khí hậu, thuỷ văn

Hồ Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ

cao và ít biến động. Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8

đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 01 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt

rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài.

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,8 0C cao nhất vào các tháng 6, 7, 8,

với nhiệt độ trung bình 28-30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình

18-23°C. Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung

bình khoảng 20°C.

Độ ẩm khơng khí trung bình hàng năm là 82%, cao nhất vào các tháng

10, 11, trung bình khoảng 85-87%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình

khoảng 76-77%.

Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800 mm, mưa lớn thường

tập trung vào hai tháng 10 và 11 gây lũ lụt, ngập úng cho vùng đất thấp. Tuy

nhiên có những năm lượng mưa thấp, như năm 2003 đạt 1.375,1 mm gây thiếu

nước cho sản xuất nơng nghiệp và đời sống. Các hướng gió thịnh hành là gió

mùa Đơng Bắc từ tháng 11 đến tháng 2; gió mùa Đơng Nam và Tây Nam vào

tháng 5 đến tháng 7. Huyện thường xuyên bị chịu ảnh hưởng của bão, trung

bình hàng năm có 1-2 cơn bão đi qua, hai năm thường có một cơn bão lớn.

Số giờ nắng bình quân hàng năm là 2.076,9 giờ; nhiều nhất là vào tháng

5, 6 trung bình từ 233 đến 262 giờ/tháng; lớn nhất là vào tháng 12 và tháng 1

trung bình từ 58 đến 122 giờ/tháng.

Hệ thống sơng ngòi của Hồ Vang bao gồm các sơng chính là sơng Cu

Đê, sông Yên, sông Túy Loan, sông Vĩnh Điện; một số sông nhỏ là sông Tây

Tịnh, Qúa Giáng,.. và hệ thống nhiều ao hồ tự nhiên. Nhìn chung chất lượng



41

nước các sông đều đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương, trừ

sông Cẩm Lệ và sông Cu Đê bị nhiễm mặn thủy triều vào thời gian mùa khô

từ tháng 5 đến tháng 6.

Về nước ngầm: Theo đánh giá sơ bộ, Hồ Vang có trữ lượng nước

ngầm lớn, mực nước ngầm cao. Trong tương lai có thể sử dụng nguồn nước

ngầm phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Tại Đồng

Nghệ (xã Hoà Khương) có nguồn nước khống nóng nhưng hiện tại chưa

được đầu tư khai thác.

Nhìn chung, các điều kiện khí hậu và thuỷ văn của huyện Hồ Vang có

nhiều thuận lợi, song cũng có nhiều khó khăn như hạn hán, lũ lụt gây ảnh

hưởng không nhỏ đối với sản xuất, đời sống của nhân dân, gây hư hại các

cơng trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.

2.1.1.3. Tài nguyên

Tài ngun đất

Tổng diện tích đất huyện Hồ Vang là 73.691 hecta; hai nhóm đất có ý

nghĩa quan trọng đối với sản xuất nơng nghiệp là nhóm đất phù sa ở khu vực

đồng bằng thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau, hoa quả và nhóm đất đỏ

vàng ở vùng đồi núi thích hợp với cây cơng nghiệp dài ngày, cây đặc sản,

dược liệu, chăn nuôi đại gia súc.

Tài nguyên đất chia theo mục đích sử dụng như sau:

Đất nơng lâm nghiệp 61.923,8 ha, chiếm 84,0% diện tích tự nhiên, đất

phi nông nghiệp là 6.201,1 ha chiếm 8,4% và đất chưa sử dụng 5.566,1 ha

chiếm 7,6%.

Diện tích đất đã được sử dụng của huyện chiếm 93,3% cho các mục

đích nơng nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và cho các mục đích phi

nơng nghiệp khác. Hiệu quả sử dụng đất cho phát triển nông nghiệp tương đối

cao. Thu nhập thuần/1 ha đất nông nghiệp đạt 32 triệu đồng/ ha. Đối với lâm



42

nghiệp, theo ước tính, chỉ số này chỉ vào khoảng 2 triệu đồng/ ha rừng sản

xuất. Hệ số sử dụng đất cây hàng năm 2007 khá cao, ước đạt 1,95 lần.

Tài ngun rừng

Huyện Hồ Vang có nguồn tài ngun rừng phong phú, đây là một

trong các thế mạnh của huyện. Diện tích đất lâm nghiệp hiện có là 53.306,1

ha chiếm 89,3%. Trong đó, đất rừng sản xuất là 29.794,6 ha (42,1% diện tích

đất tự nhiên), tập trung chủ yếu ở Hồ Bắc, Hồ Ninh và Hồ Phú, đất rừng

phòng hộ là 12.658,7 ha (chiếm tỷ trọng 17,9% diện tích tự nhiên), đất rừng

đặc dụng là 10.852 (15,3% diện tích tự nhiên) thuộc địa bàn các xã Hoà Ninh

và Hoà Bắc. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2007 đạt khoảng 75%.

Rừng đặc dụng nằm trong địa phận xã Hoà Ninh và Hòa Bắc, thuộc

vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Bạch Mã, là khu bảo tồn được thành

lập với mục đích bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phục hồi, tái tạo vốn rừng

nhằm nâng độ che phủ của rừng, phát huy tác dụng phòng hộ mơi trường của

rừng. Trong vùng rừng đặc dụng có rừng nguyên sinh với hệ sinh thái đa

dạng, các tài nguyên động thực vật phong phú, đặc biệt có nhiều loại gỗ quý,

nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp rất hấp dẫn với khách du lịch như khu vực Bà

Nà-Núi Chúa.

Rừng và tài nguyên rừng của huyện Hồ Vang có vai trò quan trọng đối

với đời sống kinh tế- xã hội của nhân dân trong huyện. Ngoài vai trò phòng hộ

cho huyện và thành phố Đà Nẵng, rừng còn là thế mạnh có nhiều tiềm năng

trong việc phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như khai thác chế biến lâm

sản, dịch vụ du lịch.

Tài nguyên khoáng sản

Tài ngun khống sản đã được phát hiện ở Hồ Vang chủ yếu là các

loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng, bao gồm: đá ốp lát, đá phục vụ xây

dựng, đá mỹ nghệ, tập trung chủ yếu ở các xã trung du và miền núi Hòa Nhơn,



43

Hòa Sơn, Hòa Ninh và Hòa Phú. Các mỏ cát xây dựng ở dọc sông Cẩm Lệ,

Tuý Loan, Quá Giáng. Đất sét với trữ lượng lớn để sản xuất gạch ngói có ở

hầu hết các xã đồng bằng và trung du. Ngoài ra, đã phát hiện quặng Volfram ở

Nà Hoa (Hoà Ninh), quặng thiếc ở Đồng Nghệ (Hồ Khương) nhưng trữ

lượng khơng lớn.

Tài nguyên nước

Tài nguyên nước: Trữ lượng nước ngọt lớn trên các sông Yên, sông Túy

Loan, sông Cu Đê ... là nguồn cung cấp nước chính cho các nhà máy nước của

thành phố Đà Nẵng và một phần cho huyện Hoà Vang.

Trữ năng thuỷ điện của các sông trên địa bàn huyện hiện đang được

Công ty Cổ phần thuỷ điện GERUCO Sông Côn khảo sát nghiên cứu. Trước

mắt Công ty này đang triển khai đầu tư cụm dự án thuỷ điện sơng Hương Lng Đơng tại xã Hồ Phú với tổng công suất dự kiến 4.300 KW (tổng vốn

đầu tư khoảng 67 tỷ đồng) và cụm dự án thuỷ điện sông Nam- sơng Bắc tại xã

Hồ Bắc với tổng cơng suất dự kiến 12 MW (vốn đầu tư khoảng 877 tỷ đồng).

2.1.1.4. Đánh giá chung quá trình sử dụng các điều kiện tự nhiên

Những mặt đạt được

Từ những đặc điểm tự nhiên đã trình bày ở trên cho thấy Hồ Vang đã

phát huy những lợi thế về điều kiện tự nhiên để thúc đẩy quá trình phát triển

kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện, thể hiện qua các điểm sau:

- Về vị trí địa lý: với lợi thế bao bọc phía Tây khu nội thị của thành phố

Đà Nẵng nên các dịch vụ phục vụ đô thị đã được phát huy, là địa bàn tập trung

những cơ sở sản xuất phục vụ trực tiếp quá trình phát triển của khu vực đô thị

như: sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp các sản phẩm nông nghiệp, thảm

thực vật phong phú nhằm đảm bảo môi trường tự nhiên cho khu vực đơ thị.

- Về điều kiện đất đai: Hồ Vang đã từng bước phát huy các tiềm năng

đất đai để phát triển nông nghiệp đa dạng, bao gồm cả nông nghiệp, lâm



44

nghiệp và thuỷ sản. Ngoài ra, trong những năm gần đây, trên địa bàn huyện đã

thu hút các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ từ thành phố do có điều kiện bố

trí đất mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh.

- Điều kiện tài nguyên: Huyện đã tận dụng lợi thế về tài nguyên sản

xuất vật liệu xây dựng để thu hút các doanh nghiệp sản xuất gạch, đá, cát, sạn.

Một số điểm còn hạn chế:

- Do lực lượng kinh tế ngồi quốc doanh còn non trẻ nên quá trình khai

thác các điều kiện tài nguyên còn ở mức độ chậm, quy mơ khai thác còn nhỏ.

- Quá trình khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa tương xứng với

tiềm năng của huyện, còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện bên ngoài, tiềm năng

đất nhất là đất lâm nghiệp chưa được khai thác hiệu quả, tiềm năng du lịch

chưa được quy hoạch và thu hút đầu tư còn hạn chế.

- Khai thác tiềm năng thiên nhiên còn nặng về khai thác tài ngun

khống sản, chưa tập trung khai thác tài nguyên du lịch.

- Thời tiết khắc nghiệt, trong năm thường có vài trận mưa bão xảy ra

với cường độ lớn thời gian dài đã gây hư hại nhiều các cơng trình hạ tầng kỹ

thuật gây ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của nhân dân.

2.1.2. Sử dụng các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp

2.1.2.1. Quỹ đất đai:

Địa hình huyện Hòa Vang phân bố khơng đồng đều, có 3 vùng rõ rệt,

vùng đồng bằng với 3 xã Hòa Châu, Hòa Tiến và Hòa Phước, vùng trung du

gồm các xã Hòa Nhơn, Hòa Phong, Hòa Khương, Hòa Sơn, Hòa Liên; vùng

miền núi gồm các xã Hòa Ninh, Hòa Phú và Hòa Bắc. Đất đai khá màu mỡ,

có nhiều sơng hồ

Đất của huyện Hòa Vang được phù sa của các sông Cu Đê, sông Cầu

Đỏ cung cấp cho đồng ruộng.



45

Trong tầng đất canh tác của huyện, những nơi có độ cao đều có thành

phần cơ giới thuộc loại đất cát, đất thịt nhẹ. Những vùng thấp thuộc loại đất

thịt, thịt nặng hoặc pha sét không thật thuận lợi cho việc canh tác, sản xuất

nông nghiệp. Tuy nhiên trong điều kiện tiến bộ kỹ thuật hiện nay cùng với

việc tăng cường đầu tư theo chiều sâu, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý của các

hộ nơng dân thì những trở ngại về thành phần cơ giới đất có thể khắc phục

được mà vẫn đảm bảo hiệu quả cao.

Bảng 2.1. Tình hình biến động đất trên địa bàn huyện

2006

Thứ

tự



Chỉ tiêu



1



TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN

NHĨM ĐẤT NƠNG NGHIỆP

Đất SXNN



1.1

1.2

1.3

2

2.1

2.2

2.4

2.5

2.6

3



- Đất trồng cây hằng năm

- Đất trồng cây lâu năm

Đất lâm nghiệp

Đất ni trồng thuỷ sản

NHĨM ĐẤT PHI NN

Đất ở

Đất chun dùng

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

Đất sông suối và MNCD

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

NHĨM ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG



Tăng,

giảm



2009



Diện

Diện



Cơ cấu

Diện tích

tích

tích

cấu

(%)

(ha)

(ha)

(ha)

(%)

73.691 100,00 70.735

2.956

66.097,7 89,7% 59.973,5 84,8% 6.124,2

6.527,9

9,9% 6288,4 10,5% - 239,5

5.266,6

8% 4.946,7 8,2% - 319,9

1.451,3

51.255,2

106,6

6.666,8

2.361,4

1.425,2

487,23

1.695,5

4.754,2



2,2%



1,259,7



2,1%



-191,6



77,5% 51.106,3 89%

0,2%

111,4

9% 6.807,1

35,4% 2.595,2

21,4% 1.817,1

7,3%

511,3

25,4% 1.701,9

37,7

6,5% 2480,5 3,5%



-148,9

+ 4,8

+ 5979,7

+ 233,8

+ 391,9

+ 24,07

+ 6,4



- 2273,7



Như vậy, đến nay huyện Hòa Vang đã sử dụng đến 96,5% diện tích đất

tự nhiên. Diện tích đất tự nhiên chưa sử dụng còn lại khoảng 3,5%, khơng kể

diện tích hồ đầm vì thực tế diện tích này đã được sử dụng trong nuôi trồng

thủy sản hoặc trong tương lai sẽ phải giữ lại vì mục đích mơi trường. Nếu so

sánh với số liệu điều tra thống kê năm 2005 thì sau 5 năm cơ cấu sử dụng đất

của huyện đã thay đổi đáng kể: Diện tích đất nơng nghiệp từ 66.097,7 ha



46

(89,7%) giảm xuống còn 59.973,5 ha (84,8%); Diện tích đất giảm từ ha

(19,87%) lên 2062, 16 ha (27,38%); Đất ở tăng từ 980,18 ha (13%) lên

1149,79 ha (15,26%); trong khi đó đất chưa sử dụng giảm xuống từ 4754,9ha

(6,5%) còn 2485ha (3,5%). Trong cơ cấu đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng

năm đã giảm từ 86,93% năm 2005 xuống còn 83,03% năm 2010, trong khi

đất trồng cây lâu năm tăng từ 270ha năm 2000 lên 325,66ha năm 2007 (tỷ lệ

tăng từ 6,27% lên 9,44%). Đối với đất chuyên dùng không chỉ tỷ lệ trên đất tự

nhiên tăng lên mà trong cơ cấu đất chuyên dùng cũng có sự thay đổi theo xu

thế: Đất giao thông tăng từ 26,54% lên 28,83%; Đất xây dựng tăng và đất ở

cũng tăng lên đáng kể.

Từ sự phân tích trên đây có thể thấy hiện nay quỹ đất chưa sử dụng của

Hòa Vang còn khá lớn, trong đó đất rừng là chủ yếu….. Trong thời gian tới,

xu thế đơ thị hóa sẽ ngày càng diễn ra nhanh chóng và hệ quả tất yếu là đất

nơng nghiệp sẽ nhanh chóng bị thu hẹp, nhường chỗ cho phát triển đơ thị, các

cơng trình cơng cộng, cho cơng nghiệp và thương mại dịch vụ v.v… Theo dự

báo quá trình đơ thị hóa sẽ diễn ra với tốc độ nhanh hơn nhiều lần so với thời

gian qua, đòi hỏi phải có sự tính tốn trước tất cả các vấn đề của đời sống

kinh tế - xã hội liên quan đến vấn đề sử dụng đất.

Đất đai là yếu tố quan trọng bậc nhất trong sản xuất nơng nghiệp. Diện

tích đất nơng nghiệp của huyện Hòa Vang chiếm 84,8% diện tích đất tự nhiên,

đây là con số khơng nhỏ, do đó cần nâng cao hiệu quả sử dụng đất này phải

được chú trọng. Tuy nhiên, thực tế là người nông dân phải canh tác, tổ chức

sản xuất trên những mảnh đất xấu, đất đai manh mún, không thể tập trung

vùng sản xuất cho nên đầu tư đồng bộ sẽ không hiệu quả, khoa học kỹ thuật

ứng dụng có nhiều hạn chế.

2.1.2.2. Nguồn nhân lực:

Tính đến 31/12/2009, dân số của huyện Hòa Vang là 117.790 người,

chiếm 17,2% dân số tồn thành phố. Với diện tích tự nhiên 736,91km 2, mật



47

độ dân số của huyện là 159 người/km 2 là huyện có mật độ dân số thấp nhất

trong các quận, huyện của thành phố (không kể huyện đảo Trường Sa).

Tỷ lệ tăng dân số của huyện Hòa Vang trong những năm gần đây (20052009) là 2,8%, trong đó tăng tự nhiên là 11,93%0. Xét cả giai đoạn từ năm

2005-2009, tỷ lệ suất sinh thô (CBR) trên địa bàn tăng giảm từ 17,93%o đến

16,51%o. Nhìn chung, biến động cơ học của Huyện trong những năm qua

tương đương với các quận trong thành phố, giao động trong khoảng 4,0-4,5%

hàng năm. Tuy nhiên trong giai đoạn tới, dự báo xu thế đơ thị hóa sẽ diễn ra

mạnh mẽ trên địa bàn và chắc chắn biến động cơ học sẽ có xu thế tăng lên. Sau

5 năm, dân số huyện đã tăng lên 11%, chủ yếu là do tăng cơ học. Điều đó cho

thấy, huyện Hòa Vang đã, đang và sẽ là điểm đến đầy hấp dẫn đối với dân cư từ

các vùng, nhất là từ các quận và các tỉnh, thành phố khác chuyển đến, càng đặt

ra những vấn đề cấp bách trong quản lý đô thị thời kỳ quy hoạch sắp tới.

Về cơ cấu giới tính: Dân số của huyện có tỷ lệ nữ và nam tương đối

cân bằng, chưa có sự mất cân đối nghiệp trọng về giới tính. Tính chung

trong tồn huyện tỷ lệ nữ chiếm tỷ lệ 50,13% và nam chiếm 49,87% theo

số liệu năm 2009.

Về cơ cấu tuổi: Cơ cấu tuổi của huyện Hòa Vang qua 5 năm (20052009) đã có sự thay đổi theo xu thế hợp lý, tuy nhiên ở mức độ chậm. Tỷ lệ

dân số trẻ (dưới 15 tuổi) giảm từ 33% (2005) xuống còn 27,4% (năm 2009)

và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cũng có sự dịch chuyển mạnh từ 55,5%

lên 60,5%. Điều này chứng tỏ dân số huyện đang có xu hướng già đi và đây là

vấn đề hợp quy luật phổ biến trong thời kỳ hiện đại hóa đất nước.

Nguồn nhân lực của huyện trong giai đoạn 2005-2009 tương đối dồi

dào, chiếm 60,7% dân số, tăng bình quân 2,3%/năm. Lao động có việc làm

hàng năm tăng 2,7%/năm; tỷ lệ thất nghiệp nhìn chung thấp so với các khu

vực đơ thị của Thành phố nằm ở mức dưới 5%. Tuy nhiên nguồn lực lao động



48

của huyện còn hạn chế là: chất lượng hay trình độ chun mơn kĩ thuật thấp,

tình trạng thiếu việc trong lao động nơng nghiệp còn cao, tỷ lệ thất nghiệp

đang có chiều hướng tăng lên do mất đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề

chưa phù hợp…( xem Bảng 2.2).

Bảng 2.2. Dân số và nguồn nhân lực trên địa bàn giai đoạn 2005-2009

Tăng bq 05-09

Nội dung

I. Dân số

DS trung bình

DS trong độ tuổi



ĐVT



2005



2006



người 104.93 105.84



2007



2008



2009



106.91 108.25 117.79



‘’

62.35 62.74

64.00

lao động

II. Nguồn LĐ

người 64.83 65.86

67.05

Lực lượng LĐ

‘’

53.00 55.60

56.72

LĐ có việc làm

‘’

51.28 53.32

54.19

Tỷ lệ thất nghiệp

%

3,2

4,1

4,4

Nguồn: Niên giám thống kê Hòa Vang.



66.05



70.76



68.28

57.76

54.94

4,8



71.01

59.98

57.01

4,9



(%)

2,8

3,2

2,3

3,1

2,7



Theo số liệu “Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và Thủy sản năm

2006”, tồn huyện có 25.675hộ, trong đó: Số hộ nông nghiệp chiếm, 14,36%;

hộ thủy sản 0,12%; hộ công nghiệp 15,32%; hộ xây dựng 7,63%; hộ thương

nghiệp 25,1%; hộ vận tải 4,5%; hộ dịch vụ khác 26,68% và hộ khác 6,37%.

Số hộ có số nhân khẩu từ 3-5 người chiếm tỷ lệ chủ yếu (72,63%), số hộ có số

nhân khẩu 2 người và 6-9 người có tỷ lệ xấp xỉ bằng nhau (trên 10%).

Về lao động: Lực lượng lao động ở Hòa Vang vào thời điểm điều tra là

49,38%, trong đó số người tuổi từ 15 trở lên đang làm việc chiếm 46,74%, số

người chưa có việc làm là 6556 người, chiếm tỷ lệ khoảng 5,35% lao động

trong độ tuổi. Về chất lượng lao động theo số liệu điều tra suy rộng, so sánh

hai thời kỳ cho thấy, chất lượng lao động của huyện Hòa Vang đã được cải

thiện một bước đáng kể. Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cơng



49

nghiệp hóa - đơ thị hóa và chuyển đổi cơ cấu thì Hòa Vang vẫn còn phải tiếp

tục đẩy mạnh công tác đào tạo hơn nữa trong thời kỳ mới.

Về cơ cấu lao động chia theo ngành kinh tế, hiện tại lao động nơng

nghiệp của Hòa Vang chiếm tỷ lệ khoảng 53,2% lực lượng lao động tồn

huyện. Có thể thấy nơng nghiệp trên địa bàn huyện đã thu hút một lượng lớn

lao động huyện đồng thời việc áp dụng máy móc, kỹ thuật cho phát triển nơng

nghiệp vẫn còn hạn chế. Trong xu thế đơ thị hóa nhanh chóng sắp tới, thành

phố cũng như huyện cần có sự đầu tư trong việc chuyển đổi ngành nghề, đào

tạo nghề cho lao động nơng thơn, để q trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và

giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là lao động nông nghiệp bị mất

đất được giải quyết hợp lý và đảm bảo.

Bảng 2.3. Cơ cấu lao động theo ngành nghề

Năm

Nông lâm, thủy sản

Công nghiệp, xây dựng

Thương mại, dịch vụ



2005

62,65

10,89

14,35



2006

60,7

17,6

21,7



2007

58,7

18,8

22,5



2008

56,3

19,8

23,9



2009

53,2

21

25,8



2010

50,1

23

26,9



2.1.2.3. Khả năng huy động vốn cho phát triển nông nghiệp:

Nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp trong thời gian qua ở

huyện Hòa Vang đã được mở rộng và đa dạng hóa, số lượng vốn tăng lên

đáng kể. Tổng vốn đầu tư phát triển nông nghiệp giai đoạn 2005-2011 đạt

89,196 tỷ đồng, bình quân mỗi năm thực hiện được 14,86 tỷ đồng, chiếm

19,79% vốn đầu tư toàn xã hội đặc biệt năm 2007, vốn đầu tư phát triển nông

nghiệp tăng vượt bậc, ước đạt 2,85tỷ đồng. Sở dĩ tăng cao như trên là sau khi

hứng chịu hậu quả bão lịch sử năm 2006, các đơn vị, tổ chức cá nhân và nhà

nước tập trung vốn, nguồn lực để kiến thiết, phục hồi và hỗ trợ cho người dân

khắc phục hậu quả.

Bảng 2.4. Vốn đầu tư cho nơng nghiệp

Đơn vị tính: Triệu đồng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×