Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

65



3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG KSNB THU CHI TẠI

TRƯỜNG ĐH PHẠM VĂN ĐỒNG

3.1.1. Những định hướng phát triển của Trường

Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành Giáo dục, Trường Đại học

Phạm Văn Đồng luôn đưa ra những mục tiêu trung và dài hạn để đáp ứng được

nhu cầu phát triển đó.

Mục tiêu trung hạn: Đến năm 2017, xây dựng nhà trường đạt chuẩn về cơ

sở vật chất và nguồn lực.

Mục tiêu dài hạn (phát triển thương hiệu): Đến năm 2022, Trường Đại học

Phạm Văn Đồng trở thành cơ sở giáo dục - đào tạo có uy tín trong khu vực Miền

Trung - Tây Nguyên.

3.1.2. Sự cần thiết phải hồn thiện kiểm sốt nội bộ thu, chi tại

Trường ĐH Phạm Văn Đồng

Sự đầu tư ngày càng lớn của Đảng và Nhà nước ta cho giáo dục về quy

mô và nguồn lực.

Định hướng phát triển kinh tế xã hội: chỉ số phát triển của con người phải

tăng lên, ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân

lực khoa học cơng nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và cơng

nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh

tế.

Nghị quyết Số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Chính

phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục ĐH Việt Nam giai đoạn 2006 –

2020 đã chỉ rõ mục tiêu đến năm 2020 là: Giáo dục đại học, cao đẳng đạt trình

độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực

cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa.

Trường có quy định KSNB nhưng còn rời rạc, chưa có hệ thống và việc

thực hiện cũng còn một số tồn tại. Vì vậy Trường chưa kiểm sốt được tồn bộ



66



hoạt động kinh tế tài chính, tình hình đó đòi hỏi phải hồn thiện hệ thống kiểm

sốt nội bộ.

Khơng có hệ thống kiểm sốt nội bộ vững mạnh người lao động rất dễ vì

lợi ích riêng của mình mà gây tổn thất đến lợi ích chung, mọi người sẽ khơng

tn thủ pháp luật từ đó có thể gây ra gian lận.

3.2. HỒN THIỆN MƠI TRƯỜNG KIỂM SỐT

3.2.1. Điều chỉnh cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức công ty phải gọn nhẹ nhưng phải có hiệu quả phù hợp với

yêu cầu quản lý. Hiện nay có cấu tổ chức của trường còn cồng kềnh (một phòng

có đến 02 phó phòng) Trường nên gộp phòng HCQT và phòng Tổ chức lại thành

phòng Hành chính-Tổ chức. Trong phòng Tổ chức - Hành chính chia làm 2 phần:

phần 1 là tổ chức có nhiệm vụ và chức năng quản lý về nhân sự, chính sách tiền

lương…, phần 2 là hành chính có chức năng tham mưu cho Hiệu trưởng về công

tác hành chính. Trong mỗi phần chỉ cần có một phó phòng phụ trách và trưởng

phòng là người phụ trách chung (khơng như hiện nay, phòng Hành chính có 2

phó phòng, phòng tổ chức có 2 phó phòng).

Việc xây dựng một cơ cấu tổ chức hợp lý, gọn nhẹ, khoa học và phù hợp

với đặc thù của đơn vị là vấn đề quan trọng đối với các đơn vị bởi nó ảnh hưởng

lớn đến q trình vận hành hệ thống KSNB. Nó giúp cho việc kiểm soát được

chặt chẽ hơn, cụ thể:

- Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ sẽ giảm được chi phí tiền lương.

- Hàng tháng khi chi trả tiền lương cho cán bộ cơng nhân viên nếu phòng

Tổ chức phối hợp tốt với phòng Kế hoạch –Tài chính trong việc kiểm sốt giờ

cơng của người lao động thì sẽ giúp nhà trường chi trả tiền lương đúng đối

tượng, chi theo số thực tế điều này giảm bớt tình trạng những người không làm

việc mà vẫn hương lương.

3.2.2. Chú trọng công tác nhân sự: bao gồm chú trọng khâu sử dụng,

tuyển dụng, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, viên chức.



67



Tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ đặc biệt là các cán bộ chủ

chốt của Trường. Thường xuyên rà soát năng lực quản lý của đội ngũ trưởng,

phó phòng ban, bộ phận để đào tạo lại hoặc chuyển công tác sang những công

việc phù hợp hơn; tạo điều kiện nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ này cũng

như cả hệ thống quản lý của trường. Có một đội ngũ cán bộ có năng lực thì hệ

thống kiểm soát nội bộ càng hiệu quả.

Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, viên chức của nhà trường bởi vì nguồn kinh

phí thực hiện nhiệm vụ của trường phụ thuộc hồn tồn vào quy mơ đào tạo của

trường. Hiện nay chỉ tiêu đào tạo chưa được sáng sủa mấy và phải cạnh tranh

quyết liệt trong nhiều năm đến mới xác định sự đứng vững của mình trong

thương trường giáo dục. Nếu tuyển dụng nhân sự mà không cân nhắc thì sẽ

khơng đủ kinh phí để chi trả.

Đối với bộ phận kế tốn: những người khơng có năng lực chun mơn thì

có thể nghỉ theo chế độ tạo điều kiện để bộ máy kế tốn vững mạnh.

Vậy muốn có một đội ngũ cán bộ có năng lực thực sự thì nhà trường cần

phải có chính sách tuyển dụng nhân sự hiệu quả: Muốn tuyển dụng nhân sự hiệu

quả cần tuân thủ 4 nguyên tắc sau:

+ Tuyển dụng theo nhu cầu thực tiễn

+ Dân chủ và công bằng

+ Tuyển dụng tài năng qua thi tuyển

+ Tuyển dụng phải có điều kiện, tiêu chuẩn rõ ràng

Có đội ngũ ngn nhân lực có trình độ chun mơn sẽ giúp cho việc kiểm

sốt được thuận lợi, cụ thể nếu tất cả cán bộ phòng Kế hoạch - Tài chính có trình

độ chun mơn vững vàng thì khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì họ sẽ kiểm

sốt chứng từ chặt chẽ hơn, giảm thiểu tình trạng sai sót, chi khơng đúng chế độ

từ đó tránh tình trạng chi thừa, thiếu….

Mặc khác khi tuyển viên chức nên tuyển những người thật sự có tâm

huyết với trường, khi tuyển vào không nên cho đi đào tạo ngay mà phải để



68



những viên chức đó có thời gian thử thách vì nếu cho đi đào tạo ngay có những

người sau khi học xong thì khơng ở lại trường, lúc đó nhà trường sẽ bị thiệt hại

về kinh phí đào tạo và thời gian đào tạo.

3.2.3. Chuẩn hố quy trình lập kế hoạch

Căn cứ lập kế hoạch của Trường là chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm mà Bộ

Giáo dục - Đào tạo giao cho Trường. Hiện nay Trường lập kế hoạch về giờ

giảng, kế hoạch về tiến độ đào tạo về mặt nội dung, kế hoạch về phương tiền

dạy học nhưng kế hoạch tài chính là một bộ phận khơng thể thiếu đối với Trường

vì có tài chính thì các kế hoạch khác mới có thể hồn thành được.

Hiện nay quy trình lập kế hoạch của Trường tương đối phù hợp nhưng

việc lập kế hoạch về định mức của một số chỉ tiêu còn chưa rõ ràng như định

mức về điện, nước, điện thoại. Trường vẫn chưa có quy định cụ thể về việc sử

dụng điện ở các phòng, ban. Một số phòng còn sử dụng điện rất lãng phí, do đó

cần phải có định mức cụ thể để cơng tác kiểm sốt có hiệu quả tránh lãng phí

NSNN.

Việc lập kế hoạch của các bộ phận phải được ra sốt kỹ lưỡng, phải căn cứ

trên cơ sở tình hình thực tế của năm trước với nhu cầu của năm tới để từ đó có

một kế hoạch phù hợp.

Đi đôi với việc xây dựng một kế hoạch cụ thể, Trường cần phải quan tâm

đến công tác giám sát việc tuân thủ kế hoạch. Trường cũng cần định kỳ (có thể là

hàng q) tiến hành phân tích tình hình tài chính nhằm đánh giá việc thực hiện

mục tiêu Trường, điểm mạnh, điểm yếu về tình hình tài chính, qua đó có thể giúp

Ban Giám hiệu trong việc đánh giá tổng quát tình hình hoạt động của Trường

như: tình hình sử dụng nguồn NS, tình hình mua sắm ... để từ đó có những điều

chỉnh hợp lý nhằm bảo đảm mọi tài sản tiền vốn và mọi nguồn lực tài chính của

Trường được sử dụng một cách hiệu quả nhất.

Kế hoạch là cơ sở để kiểm sốt do đó việc lập kế hoạch một cách hợp lý

sẽ giúp rất nhiều trong việc kiểm sốt tình hình chi tiêu của từng bộ phận, nếu kế



69



hoạch khơng được rà sốt kỹ thì việc chi tiêu khơng có căn cứ cụ thể, gây tình

trạng chi tiêu khơng hợp lý…

3.2.4. Thành lập tổ kiểm tốn nội bộ

Hiện nay khái niệm kiểm toán nội bộ ở trường học còn mới mẻ, KTNB

chỉ phổ biến ở các doanh nghiệp sản xuất nhưng nếu ở Trường có bộ phận

KTNB thì sẽ giúp ích rất nhiều cho việc kiểm sốt vì:

Kiểm tốn nội bộ là cơng cụ quản lý thực hiện sự giám sát và đánh giá

thường xuyên về tồn bộ hoạt động của nhà trường trong đó có cả hệ thống

KSNB.

Việc xác lập và duy trì một hệ thống kiểm tra, KTNB có ý nghĩa hết sức

quan trọng cho việc đảm bảo trong quá trình thực thi nghiệp vụ của mỗi cán bộ ở

trường, phát hiện kịp thời những hành vi lợi dụng, làm sai quy định làm thiệt hại

đến tài sản của Nhà nước và của đơn vị, đồng thời đảm bảo cho mỗi nghiệp vụ

phát sinh đều có sự kiểm tra, kiểm sốt lại. Việc kiểm tra, kiểm sốt lại tạo cho

mỗi cán bộ có ý thức tuân thủ quy định của Nhà nước. Trong thực hiện nhiệm vụ

được phân công, trách nhiệm của kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động của Trường

trước tiên là của Hiệu trưởng và Hiệu trưởng phải sử dụng tốt lực lượng kiểm

tra, kiểm sốt của mình để tăng cường vai trò lãnh đạo, đảm bảo cơng việc hoạt

động của đơn vị được kiểm tra đầy đủ và chặt chẽ đúng quy định của pháp luật.

Chính vì vậy Trường Đại học Phạm Văn Đồng cần thiết lập một tổ chuyên môn

để đánh giá sự tuân thủ các chính sách và thủ tục kiểm sốt, đó là tổ Kiểm tốn

nội bộ.

Tổ chức bộ máy của tổ Kiểm tốn nội bộ

Trưởng phòng



Kiểm tốn viên



Kiểm toán viên



70



Sơ đồ 3.1. Tổ chức bộ máy tổ KTNB

Quan hệ chỉ đạo

Quan hệ phối hợp

Trưởng phòng là người phụ trách chung

Nhân sự của KTNB:

Trưởng phòng là người có trình độ chun mơn về kế tốn và phải được

đào tạo kiểm tốn. Các nhân viên ít nhất tốt nghiệp cao đẳng chuyên ngành kế

toán – kiểm toán.

- Chức năng của KTNB: phối hợp với phòng Kế hoạch-Tài chính, phòng

Đào tạo… xây dựng và tham mưu cho Hiệu trưởng ban hành hệ thống các quy

chế nội bộ như quy chế chi tiêu nội bộ liên quan đến chế độ chính sách trong lĩnh

vực tài chính đồng thời kiểm tra việc tuân thủ của các bộ phận đối với những

quy chế đã được xây dựng trước đó.

- Nhiệm vụ: + Hàng q khi có các báo cáo tài chính thì kiểm tra các báo

cáo đó trước khi gửi cơ quan có thẩm quyền.

+ Trong q trình kiểm tra nếu có sai thì đề xuất biện pháp xử lý.

+ Có thể kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu nghi ngờ vi phạm của các bộ phận.



Nội dung của kiểm toán nội bộ: là kiểm tốn tính tn thủ.

3.3. HỒN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TỐN

3.3.1. Hồn thiện hệ thống chứng từ và ghi chép ban đầu

Vấn đề kiểm sốt tình hình nhập, xuất vật tư trong suốt quá trình sử dụng

là một vấn đề phức tạp, bởi lẽ vật tư sử dụng trong Nhà trường bao gồm nhiều

loại, có nhiều phẩm cấp, chất lượng, số lượng là khác nhau. Tuy nhiên nội dung

trên Phiếu xuất kho chưa kiểm sốt được tình hình sử dụng vật tư.



71



Trong thực tiễn việc kiểm soát chứng từ, vẫn còn tình trạng chứng từ được

bộ phận thực hiện chuyển trực tiếp cho Lãnh đạo phê duyệt trước khi chuyển đến

bộ phận kế toán, bỏ qua chức năng kiểm sốt của kế tốn. Do đó khi thanh tốn,

thường bị vướng mắc về các thủ tục kiểm soát.

Việc kiểm tra, đối chiếu giữa chứng từ và số liệu đã vào máy chưa được

thực hiện thường xuyên, vì vậy số liệu của chứng từ lập theo phương pháp thủ

công không chính xác so với số liệu đã vào máy hoặc nhầm lẫn khi định khoản

trên máy. Tình trạng này gây khó khăn và mất nhiều thời gian khi đối chiếu, tổng

hợp, cân đối, quyết tốn.

Từ thực tế đó, tác giả đưa ra một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Về tình hình nhập xuất vật tư

Có phiếu xuất kho vật tư thực hành cho lớp Cao đẳng cơ khí – Khoa KTCN như

sau:

STT

1



Mã và tên VT



DVT



1

2

3

4

5

6

7



3

BG-000

cái

DAU0-Dầu Diesil lít

GNH

Tờ

MT-Đá mài tay

viên

LC- Lưỡi cưa

Hộp

QH-Que hàn

Bịch

TT4-Thép tấm 4 Kg



8

9



ly

-KO-Khí O2

GTBH-Găng



10



2



Chai

tay đơi



Số lượng

u Thực



Đơn giá



Thành tiền



cầu

5

2

75

66

5

3

14



xuất

6

2

75

66

5

3

14



7

30.000

15.000

1.000

10.000

55.000

130.000



8

60.000

1.125.000

66.000

50.000

165.000

1.820.000



36



36



18.500



666.000



3



3



70.000



210.000



11

11

8.000

88.000

bảo hộ

BK-Băng keo

Cuộn

5

5

17.000

85.000

Như vậy qua phiếu xuất ta thấy Trường chỉ quản lý được số thực xuất chứ



không biết định mức sử dụng của vật tư đó là bao nhiêu do đó cần phải xây dựng

định mức tiêu hao cho từng loại vật tư văn phòng, dụng cụ thực hành điều này



72



ảnh hưởng đến việc kiểm soát chi đối với những loại vật tư này, do đó để tiết

kiệm trong sử dụng và có cơ sở để kiểm sốt thì trường nên xây dựng định mức

tiêu hao cho từng loại và từ đó trên Phiếu xuất kho Mẫu số C2-HD nên bổ sung

thêm một nội dung là định mức tiêu hao. Việc bổ sung thêm nội dung định mức

sử dụng trong Phiếu xuất kho giúp cho nhân viên kế toán, người duyệt chứng từ

biết được giá trị vật tư cần sử dụng theo định mức và giá trị vật tư cần xuất dùng

để kiểm soát trực tiếp ngay khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh (ký duyệt chứng từ)

đối với hàng tồn kho.

Thứ hai: Về tổ chức luân chuyển và kiểm soát chứng từ, phải được thực hiện

qua các cấp: Từ bộ phận có nhu cầu đến cấp bộ phận quản lý trực tiếp, bộ phận kế

toán và cuối cùng là kiểm soát và phê duyệt của lãnh đạo Trường. Nếu thực hiện

triệt để được vấn đề này sẽ xóa bỏ tình trạng chứng từ được bộ phận thực hiện

chuyển trực tiếp cho lãnh đạo phê duyệt rồi mới chuyển đến bộ phận kế toán, bỏ

qua chức năng kiểm soát của kế tốn.

Chẳng hạn khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh như sau:

Cán bộ phòng đào tạo muốn ứng tiền. Trình tự ln chuyển và kiểm sốt

chứng từ phải thực hiện như sau:

(1) Ơng Nguyễn Văn A thuộc phòng đào tạo phải làm giấy đề nghị tạm ứng

sau đó Trưởng phòng Đạo tạo sẽ ký vào mục phụ trách bộ phận.

(2) Sau đó sẽ đưa giấy đề nghị tạm ứng trình Kế tốn trưởng, cuối cùng là

trình Hiệu trưởng ký duyệt.

Nhưng thực tế là khi người tạm ứng tiền viết giấy đề nghị tạm ứng trình trực

tiếp lên Hiệu trưởng sau đó mới xuống phòng kế tốn. Điều này bỏ qua chức năng

kiểm soát của kế toán thể hiện ở chỗ: khi kế tốn kiểm tra sổ sách thì thấy ông

Nguyễn Văn A đã tạm ứng một lần nhưng chưa hoàn ứng. Điều này trái với quy chế

chi tiêu nội bộ “những trường hợp tạm ứng phải hoàn ứng sau khi hồn thành

nhiệm vụ và chậm nhất khơng q 15 ngày. Chưa hồn ứng xong đợt trước thì

khơng được tạm ứng đợt sau”



73



Do đó nếu tn thủ đúng trình tự luân chuyển chứng từ sẽ tăng cường được

tính kiểm sốt chi của kế tốn.

Thứ ba: Kế tốn cần có sự kiểm tra thường xuyên theo định kỳ ngắn 5

ngày hoặc 7 ngày bằng cách in ra các bảng kê chứng từ kèm theo chứng từ gốc,

giao cho kế toán viên phụ trách các phần hành kế tốn có liên quan kiểm tra chi

tiết. Tùy theo từng loại chứng từ kế toán liên quan đến bộ phận kế toán nào thì

bộ phận kế tốn đó có trách nhiệm kiểm tra. Ví dụ, các chứng từ về TSCĐ, xuất

nhập kho vật tư được giao cho bộ phận kế toán tài sản vật tư kiểm tra, các chứng

từ về học phí chính quy giao cho kế tốn học phí kiểm tra… các sai sót phát hiện

khi kiểm tra được ghi hoặc đánh dấu lại trên bảng kê chứng từ để chỉnh sửa các

thông tin sai. Đối với loại chứng từ phải in ngay sau khi nhập vào máy như các

phiếu thu, phiếu chi, cuối ngày phải in bảng kê chứng từ loại tiền mặt đối chiếu

với sổ quỹ của thủ quỹ để kịp thời phát hiện nhầm lẫn, sai sót. Mục đích của

cơng việc này để đảm bảo tính chính xác của các thơng tin từ các chứng từ kế

tốn đã nhập vào máy.

Cụ thể là có nội dung kinh tế phát sinh như sau: Thanh tốn tiền tổ chức

giao lưu bóng đá nhân ngày 26/3 tổng số tiền thanh toán là 7.000.000 đ. Khi

người đề nghị thanh toán viết giấy đề nghị thanh toán số tiền là 7.000.000 đ, kế

toán là phiếu chi số tiền là 7.000.000 đ, khi qua thủ quỹ thì thủ quỹ vào sổ là

6.000.000 đ. Cuối tháng đối chiếu quỹ thì phát hiện ra giữa sổ kế tốn và sổ quỹ

khơng khớp. Do đó nếu đối chiếu hàng ngày thì sẽ phát hiện ra rất dể dàng.

3.3.2. Hồn thiện tổ chức báo cáo, phân tích và cơng khai BCTC

Tổ chức hệ thống BCTC ở đơn vị nhằm cung cấp thơng tin kế tốn. Thơng

tin kế tốn ở đơn vị là thơng tin về tồn bộ tài sản, về tình hình tài chính, các q

trình và kết quả hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của đơn vị, là cơ sở để các đối

tượng bên trong và bên ngoài Trường đánh giá về tình hình hoạt động của

trường. Vì vậy, yêu cầu của việc lập BCTC là phải chính xác, kịp thời, đầy đủ.

Ngồi ra kế tốn còn phải thực hiện phân tích BCTC, lập các báo cáo cần thiết



74



phục vụ yêu cầu quản lý theo từng chỉ tiêu chi tiết và thực hiện cơng khai tài

chính. Mục đích của việc cơng khai tài chính nhằm thực hiện quy chế dân chủ,

phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của các cấp có thẩm quyền và của tập thể cán

bộ, cơng nhân viên về tình hình quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của Nhà nước

đúng nguyên tắc chế độ, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao; ngăn ngừa lãng phí, thất

thốt và mọi hành vi tham nhũng. Tuy nhiên việc tổ chức báo cáo, phân tích và

cơng khai BCTC tại Trường ĐH Phạm Văn Đồng vẫn còn tồn tại những vấn đề

sau:

Thứ nhất, Phân tích BCTC gần như chưa được thực hiện, nên không đề ra

được những giải pháp tốt nhất để kiểm soát tiết kiệm chi phí; đặc biệt là trong

các khoản chi phí dự tốn, chi phí XDCB.

Thứ hai, Việc cơng khai tài chính vẫn còn thực hiện một cách chiếu lệ,

chưa phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của các đối tượng có quan tâm đến tình

hình tài chính của Trường.

Để đáp ứng yêu cầu quản lý, hàng quý, hàng năm cần phải tiến hành phân

tích BCTC.

Đối tượng phân tích tài chính của Trường là quá trình và kết quả thực hiện

kế hoạch, dự tốn thu, chi, sử dụng nguồn kinh phí trong và ngồi NSNN. Nội

dung phân tích tài chính là: Đánh giá tình hình thực hiện dự tốn thu, chi, tình

hình sử dụng tài sản, tình hình chấp hành các chế độ, tiêu chuẩn, định mức và

chính sách quản lý tài chính của Nhà nước cũng như các quy định của Bộ Giáo

dục và Đào tạo và của Trường. Phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực,

lãng phí trong q trình sử dụng kinh phí. Cung cấp thơng tin đã xử lý theo yêu

cầu quản lý, theo chế độ quản lý tài chính hiện hành. Phương pháp của phân tích

tài chính là so sánh giữa thực tế với dự tốn theo từng chỉ tiêu phản ánh trên

BCTC.

Tổ chức cơng tác phân tích tài chính tại Trường phải được thực hiện hàng

năm và có kế hoạch cụ thể nhằm đưa cơng tác phân tích tài chính vào nề nếp.



75



Thơng qua các số liệu, kết quả của phân tích, Nhà trường tổ chức cơng khai tình

hình tài chính để tất cả cán bộ, giảng viên, công nhân viên nắm được cùng tham

gia vào công việc quản lý, dân chủ trong hoạt động của Nhà trường.

Nội dung phân tích BCTC bao gồm:

Thứ nhất, Phân tích tình hình kinh phí và quyết tốn kinh phí đã sử dụng.

Nguồn số liệu phân tích nội dung này là Báo cáo tổng hợp tình hình kinh phí và

quyết tốn kinh phí đã sử dụng (mẫu số B02-H), Sổ kế toán chi tiết các TK loại 4

và loại 6, TK 241;

Thứ hai, Phân tích kết quả sự nghiệp có thu. Nguồn số liệu để phân tích

nội dung này là Báo cáo kết quả hoạt động sự nghiệp có thu (mẫu số B04-H);

Các sổ chi tiết TK 531, TK 631, TK 421;

Thứ ba, Phân tích tình hình chi phí đầu tư XDCB. Nguồn số liệu này là các

báo cáo tổng hợp và chi tiết liên quan đến đầu tư XDCB;

Thứ tư, Phân tích tình hình vượt giờ giảng. Nguồn số liệu để phân tích

tình hình vượt giờ giảng là bảng tổng hợp giờ giảng vượt giờ của các khoa, bộ

mơn.

Thứ năm, Phân tích tình hình thực hiện tiết kiệm chi phí

Phương pháp phân tích áp dụng là phương pháp so sánh: so sánh giữa thực hiện

với dự toán để xác định số chênh lệch và tìm nguyên nhân, đề ra biện pháp khắc phục.

Từ số liệu phân tích, rút ra nhận xét chung về tình hình sử dụng kinh phí

của đơn vị và xác định các nhóm mục tiêu trọng tâm cần phải đi sâu phân tích

thêm.

Khi phân tích từng nhóm mục chi phí, sử dụng phương pháp thay thế liên

hồn để tính tốn đánh giá tác động của khối lượng công việc thực hiện và định

mức chi phí áp dụng cụ thể cho loại cơng việc đó đến tổng mức chi.

Khi nhận xét đánh giá tình hình tiết kiệm chi phí cần gắn với kết quả hồn

thành nhiệm vụ của đơn vị, tránh tình trạng tìm mọi biện pháp cắt xén các chi phí

khác để dành phần tăng thu nhập cho các cán bộ công chức, viên chức của đơn vị.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×