Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VỀ KSNB THU CHI TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP

TỔNG QUAN VỀ KSNB THU CHI TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



trình, kế hoạch,… Sau khi các chương trình kế hoạch đã được kiểm sốt thì có

thể đưa ra các quyết định cụ thể để thực hiện.

Ở khâu tổ chức thực hiện những hướng đã định cần kết hợp các nguồn lực

theo phương án tối ưu, thường xuyên kiểm tra, kiểm sốt diễn biến và kết quả

của các q trình để điều hòa các mối quan hệ, điều chỉnh các mục tiêu nhằm đạt

kết quả tối ưu.

Như vậy, kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo

rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch. Quy trình này bao gồm 3

bước khác nhau: đo lường thành quả lao động, so sánh thành quả thực tế với một

chuẩn mực nào đó và có hành động để chỉnh sửa các sai lệch hoặc các chuẩn

mực không phù hợp. Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu bảo đảm rằng mọi hoạt

động được hoàn tất theo những cách thức đưa đến việc đạt được mục tiêu của tổ

chức.

Theo định nghĩa này, kiểm sốt khơng phải là một giai đoạn hay một khâu

của q trình quản lý mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của q trình

quản lý. Vì vậy có thể hiểu kiểm sốt là một chức năng của quản lý. Tuy nhiên,

chức năng này cũng thể hiện rất khác nhau tùy thuộc vào cơ chế kinh tế và cấp

quản lý, vào loại hình hoạt động cụ thể, vào truyền thống văn hóa cũng như

những điều kiện kinh tế xã hội khác của mỗi nơi trong từng thời kỳ lịch sử cụ

thể.

Một cách tổng qt, kiểm sốt có thể được phân thành kiểm sốt trực tiếp

và kiểm soát tổng quát.

Kiểm soát trực tiếp: Là các thủ tục, các quy chế kiểm soát được xây dựng

trên cơ sở đánh giá các yếu tố, các bộ phận cấu thành hệ thống quản lý. Kiểm

soát trực tiếp bao gồm 3 loại hình cơ bản: kiểm sốt hành vi, kiểm soát xử lý và

kiểm soát bảo vệ.

Kiểm soát hành vi là việc kiểm soát các hoạt động riêng lẻ do những nhân

viên độc lập với người thực hiện hoạt động tiến hành. Đây là biện pháp tương



6



đối hiệu quả nhằm phát hiện và ngăn chặn các gian lận, sai sót. Một hệ thống

kiểm sốt hành vi hữu hiệu sẽ giúp cho tồn bộ cơng việc kiểm sốt được giảm

nhẹ một cách đáng kể.

Kiểm soát xử lý là kiểm soát việc nắm bắt, giải quyết các giao dịch hay

những công việc mà nhờ chúng các giao dịch được công nhận, cho phép, phân

loại, tính tốn, ghi chép, tổng hợp và báo cáo. Trong trường hợp thông tin được

xử lý bằng hệ thống máy tính thì kiểm sốt xử lý được thực hiện thông qua chức

năng xử lý bằng điện toán.

Kiểm soát bảo vệ là các biện pháp, quy chế kiểm sốt nhằm đảm bảo sự

an tồn của tài sản và thông tin trong đơn vị. Các trọng điểm nhằm vào mục đích

này bao gồm:

Một là: Phân định trách nhiệm bảo vệ tài sản, đặc biệt là phân định trách

nhiệm bảo quản với trách nhiệm ghi chép về tài sản, hạn chế sự tiếp cận trực tiếp

của người khơng có trách nhiệm với tài sản và sổ sách của đơn vị khi chưa được

phép của người quản lý. Chẳng hạn ban hành và thực hiện quy chế kiểm soát

việc ra vào kho hàng, quy chế bảo trì và sửa chữa tài sản, kiểm soát việc tham

khảo các tài liệu kế tốn, các dữ liệu lưu trữ trong máy vi tính.

Hai là: Hệ thống an tồn. Ví dụ nhà kho, két sắt chịu lửa, hệ thống báo

động, báo cháy, cài đặt mã truy cập thông tin,…

Bà là: Kiểm kê hiện vật và xác nhận của bên thứ ba.

Kiểm soát tổng quát là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống, nhiều

công việc khác nhau. Trong môi trường tin học hóa quản lý ở mức độ cao thì

kiểm sốt tổng qt thuộc chức năng của phòng điện tốn. Muốn đánh giá kiểm

soát trong trường hợp này phải sử dụng các chuyên gia am hiểu về máy tính.

Như vậy, qua nghiên cứu lý luận về kiểm sốt trong quản lý có thể thấy

kiểm soát là một chức năng của quản lý, gắn liền với quản lý, ở đâu có quản lý ở

đó có kiểm sốt. Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn, nội

dung quản lý càng phức tạp, do đó cơng tác quản lý càng đòi hỏi những cơng



7



việc hết sức phức tạp đòi hỏi người quản lý khơng chỉ có đủ kiến thức, kỹ năng

bản lĩnh mà phải năng động, nhạy bén, am hiểu tình hình thực tế để có những

quyết định phù hợp lên đối tượng quản lý nhằm mục tiêu đã đề ra.

1.1.2. Khái niệm về hệ thống KSNB

Quan điểm của Liên đồn kế tốn quốc tế (IFAC)

Theo quan niệm của IFAC thì “Hệ thống KSNB là một hệ thống những

chính sách và thủ tục nhằm bốn (4) mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo

đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý,

bảo đảm hiệu quả của các hoạt động”.

Theo đó, KSNB là một chức năng thường xuyên của đơn vị, tổ chức và

trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu cơng việc để tìm ra biện

pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đề ra của đơn vị.

 Bảo vệ tài sản của đơn vị

Tài sản của đơn vị được bảo vệ bao gồm tài sản hữu hình, tài sản vơ hình

và các tài sản phi vật chất khác như: sổ sách kế toán, các tài liệu quan trọng,…

của đơn vị.

 Bảo đảm độ tin cậy của thơng tin

Thơng tin muốn nói ở đây chủ yếu là thơng tin kinh tế tài chính do bộ máy

kế tốn xử lý và tổng hợp. Thơng tin này cần được bảo đảm độ tin cậy bởi đó là

căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của nhà quản lý. Các thông

tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác, tin cậy về

thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ, khách quan các nội dung chủ yếu của

mọi hoạt động kinh tế tài chính.

 Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý

Hệ thống KSNB được thiết kế trong đơn vị phải đảm bảo các quyết định

và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động của đơn vị được tuân thủ đúng mức.

 Bảo đảm hiệu quả của các hoạt động và năng lực quản lý



Các quá trình kiểm sốt trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa



8



sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp – nguyên nhân gây ra sự lãng phí trong

hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong đơn vị.

Bên cạnh đó, định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả hoạt động

trong đơn vi mình được thực hiện với cơ chế giám sát của hệ thống KSNB nhằm

nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý đơn vị.

Quan điểm của các kế tốn viên cơng chứng Mỹ (AICPA)

Theo Viện kế tốn viên cơng chứng (IACPA) (Mỹ), KSNB được định

nghĩa như sau:

“KSNB gồm kế hoạch tổ chức và tất cả những phương pháp, biện pháp

phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản của tổ chức,

kiểm tra độ chính xác và độ tin cậy của các thơng tin kế tốn, thúc đẩy hiệu quả

hoạt động và khích lệ bám sát những chủ trương quản lý đã đề ra”.

Theo quan niêm này thì hệ thống KSNB cũng có xu hướng thiên về phục

vụ các mục tiêu của đơn vị gần với quan niệm của Liên đoàn kế toán quốc tế.

Quan điểm của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA)

Theo VSA 400 Hệ thống KSNB được định nghĩa như sau: “Hệ thống

KSNB là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây

dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định

để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập Báo cáo

tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và có hiệu quả tài sản của

đơn vị. Hệ thống KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các

thủ tục kiểm sốt”.

Trong đó:

Hệ thống kế tốn: Là các qui định về kế toán và các thủ tục kế toán mà

đơn vị được kiểm toán áp dụng để thực hiện ghi chép kế tốn và lập Báo cáo tài

chính.

Mơi trường kiểm soát: Là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và

hoạt động của thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban Giám đốc đối với hệ



9



thống KSNB trong đơn vị.

Thủ tục kiểm soát: Là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị thiết

lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể.

Theo quan niệm này thì hệ thống KSNB được mơ tả theo con mắt của các

kiểm tốn viên độc lập bên ngồi đơn vị và nó cũng hướng đến phục vụ các mục

tiêu của các kiểm toán viên khi thực hiện kiểm tốn tại đơn vị.

Tóm lại, “Hệ thống KSNB là hệ thống các cơ chế kiểm soát đơn vị được

cụ thể bằng các quy chế quản lý do Ban lãnh đạo ban hành nhằm giảm thiểu

những rủi ro làm cho đơn vị không đạt được mục tiêu của mình”.

Qua các định nghĩa đã nêu cho thấy KSNB khơng chỉ giới hạn trong chức

năng tài chính kế tốn mà còn có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như

hành chính, quản lý, nó khơng chỉ thuộc về nhà quản lý mà đòi hỏi phải có sự

phối hợp đồng bộ của tất cả thành viên trong tổ chức.

KSNB được phân biệt thành hai dạng là kiểm soát kế toán và kiểm soát

quản lý.

KSNB về kế toán là hệ thống các chế độ, thủ tục và các quy định mà Ban

Giám đốc chịu trách nhiệm tổ chức, thiết lập nhằm tập trung vào các hệ thống

cung cấp số liệu cho việc đưa ra quyết định như: hệ thống sổ sách kế tốn, báo

cáo tài chính cùng các phương tiện sử dụng để xác định, định lượng phân loại

thông tin. Mục tiêu của KSNB về kế toán là đảm bảo tin cậy, tính xác thực và

tồn vẹn của thơng tin tài chính và thơng tin nghiệp vụ nhằm đưa ra các biện

pháp bảo vệ tài sản và thẩm tra sự tồn tại của tài sản đó.

KSNB về quản lý là hệ thống các chế độ, thủ tục và các quy định mà Ban

Giám đốc chịu trách nhiệm tổ chức thiết lập nhằm:

- Đảm bảo sự tuân thủ của tổ chức đối với các chính sách, kế hoạch, thủ

tục pháp luật và các quy định hiện hành, từ đó tránh các sai phạm do thiếu tuân

thủ.

- Đề ra những chuẩn mực điều hành rõ ràng để định hướng việc sử dụng



10



các nguồn lực tiết kiệm và có hiệu quả.

- Xây dựng các mục tiêu và mục đích cho các hoạt động hoặc chương

trình, triển khai và thực hiện các thủ tục kiểm soát và hướng tới các kết quả hoạt

động chương trình mong muốn. Đồng thời tìm ra những chính sách và thủ tục tốt

hơn, hoàn thiện hơn và từ đó đề ra những mục tiêu cao hơn.

Mục tiêu của hệ thống kiểm soát quản lý bao gồm đảm bảo chắc chắn

rằng nhà quản lý và nhân viên hiểu rõ các công việc cần thiết mà họ phải thực

hiện để đạt được mục tiêu đó; thơng qua kết quả cơng việc đến từng bộ phận

trong tổ chức; hệ thống kiểm soát quản lý chú trọng vào việc ra quyết định quản

trị nội bộ và xúc tiến việc thực hiện theo sát với mục tiêu của tổ chức. Để đạt

được các mục tiêu tổ chức, KSNB về quản lý phải phù hợp với cơ cấu tổ chức

của đơn vị: một số đơn vị có thể tổ chức theo chức năng như sản xuất, bán hàng

và dịch vụ; còn một số đơn vị khác thì tổ chức theo khu vực có trách nhiệm tạo

ra lợi nhuận theo từng sản phẩm hoặc theo từng vùng.

Nội dung chủ yếu của mỗi hoạt động kiểm sốt quản lý cũng tùy thuộc

vào loại hình hoạt động. Với hoạt động kinh doanh thì mục tiêu là lợi nhuận nên

kiểm soát sẽ hướng tới việc xem xét hiệu quả của vốn, lao động, tài nguyên. Với

hoạt động sự nghiệp thì mục tiêu hoạt động lại là thực hiện tốt các nhiệm vụ về

xã hội, về quản lý với chi phí hợp lý nên kiểm sốt thường xem xét tính tn thủ

và hiệu năng của quản lý. Kiểm sốt quản lý phù hợp với các loại kiểm soát các

hoạt động nhân sự, kiểm soát tổ chức, kiểm soát chất lượng kỹ thuật,…

Như vậy, kiểm soát kế toán và kiểm sốt quản lý có vai trò như nhau và

ln hỗ trợ cho nhau. Tuy nhiên, kiểm sốt kế tốn có ảnh hưởng trực tiếp đến

tính chính xác của thơng tin kế toán hơn là kiểm soát quản lý. Kiểm soát quản lý

gắn liền với trách nhiệm thực hiện các mục tiêu của tổ chức và là điểm xuất phát

để thành lập kiểm sốt kế tốn.

1.1.3. Vai trò chủ yếu của Hệ thống kiểm soát nội bộ

Từ những khái niệm nêu trên về hệ thống KSNB đã phần nào giúp chúng



11



ta nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống KSNB trong đơn vị. Một hệ

thống KSNB vững mạnh sẽ mang lại cho đơn vị nhiều lợi ích:

Thứ nhất là giúp Ban lãnh đạo đơn vị giảm bớt tâm trạng bất an về những

rủi ro, nhất là về con người và tài sản;

Thứ hai là giúp Ban lãnh đạo đơn vị giảm tải trọng những công việc, sự

vụ hàng ngày và để chỉ tập trung vào vấn đề chiến lược;

Thứ ba là giúp Ban lãnh đạo đơn vị chuyên nghiệp hoá công tác quản lý

điều hành, cụ thể như đơn vị được quản lý một cách khoa học, chứ không phải

thuần túy bằng cảm tính (kinh nghiệm và trực giác). Bên cạnh đó, đơn vị được

quản lý bằng cơ chế và quy chế chứ khơng phải thuần túy dựa vào lòng tin.

Thơng thường, khi đơn vị càng lớn mạnh thì hệ thống KSNB càng có điều

kiện phát huy hiệu quả và lợi ích mang lại cho đơn vị cũng trở nên to lớn hơn.

Một hệ thống KSNB vững mạnh sẽ góp phần minh bạch hóa, nâng cao hiệu quả

hoạt động, qua đó tạo dựng lòng tin của cán bộ viên chức đối với đơn vị. Do vậy,

việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát đang là vấn đề cần được quan

tâm hàng đầu của nhiều Trường học hiện nay.

Để thực hiện thành cơng các biện pháp KSNB đòi hỏi đơn vị cần tuân thủ

chín nguyên tắc chung:

Thứ nhất là một mơi trường văn hố nhấn mạnh đến sự chính trực, giá trị

đạo đức và phân công trách nhiệm rõ ràng;

Thứ hai là quy trình hoạt động và quy trình KSNB được xác định rõ ràng

bằng văn bản và được truyền đạt rộng rãi trong nội bộ đơn vị;

Thứ ba là các hoạt động rủi ro được phân tích rõ ràng giữa những nhân

viên khác nhau;

Thứ tư là tất cả các giao dịch phải được thực hiện với sự uỷ quyền thích hợp;



Thứ năm là mọi nhân viên đều phải tuân thủ hệ thống KSNB;

Thứ sáu là trách nhiệm kiểm tra và giám sát được phân tách rõ ràng;

Thứ bảy là định kỳ tiến hành các biện pháp kiểm tra độc lập;



12



Thứ tám là mọi giao dịch quan trọng phải được ghi lại dưới dạng văn bản;

Cuối cùng là định kỳ phải kiểm tra và nâng cao hiệu quả của các biện pháp KSNB.



Như vậy, hệ thống KSNB thực chất là các hoạt động, biện pháp, kế hoạch,

quan điểm, nội qui chính sách và nỗ lực của mỗi thành viên trong đơn vị để đảm

bảo cho đơn vị đó hoạt động hiệu quả và đạt được mục tiêu đặt ra.

1.1.4. Các bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB

Để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả hoạt động, các

đơn vị cần xây dựng và thường xuyên củng cố, nâng cao chất lượng cho hệ thống

KSNB. Việc xây dựng và củng cố này cần bao quát được bốn yếu tố chính: Mơi

trường kiểm sốt; hệ thống kế toán; các thủ tục kiểm soát và bộ phận kiểm tốn nội

bộ.

1.1.4.1. Mơi trường kiểm sốt: là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng

đến hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra một mơi

trường trong đó tồn bộ thành viên của tổ chức có nhận thức được tầm quan

trọng của hệ thống kiểm sốt nội bộ hay khơng.

Mơi trường kiểm sốt bao gồm mơi trường kiểm sốt chung (bên trong)

và mơi trường kiểm sốt bên ngồi.

Mơi trường kiểm sốt chung: Là hệ thống các nhân tố làm cơ sở để xác

lập thái độ của chủ thể quản lý về việc xây dựng hệ thống KSNB bảo đảm cho hệ

thống này tồn tại và phát triển, xây dựng các chính sách, các trình tự quản lý, các

chỉ dẫn đảm bảo cho sự giám sát liên tục đối với mọi hoạt động của đơn vị. Các

yếu tố chủ yếu trong môi trường kiểm soát chung bao gồm: Đặc thù về quản lý,

cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, cơng tác kế hoạch, ủy ban kiểm sốt, cơ chế

chính sách tài chính – kinh tế.

Mơi trường kiểm sốt bên ngồi: Là hệ thống các nhân tố quy định và

điều chỉnh thái độ của chủ thể quản lý trong việc xây dựng và điều hành hệ

thống KSNB. Các nhân tố này thường gồm: Sự kiểm soát của cơ quan chức năng



13



nhà nước; ảnh hưởng của các chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối phát triển

đất nước…

Mơi trường kiểm sốt giữ vai trò quan trọng để hoạt động KSNB tồn tại và

phát triển. Quản lý chỉ có hiệu quả khi nhà quản lý kiểm sốt được tồn bộ hoạt động

của đơn vị mình, do vậy cần phải tạo lập mơi trường kiểm sốt hồn chỉnh.

1.1.4.2. Hệ thống kế tốn là hệ thống dùng để ghi chép, tính tốn phân

loại, kết chuyển vào Sổ cái, tổng hợp và lập các báo cáo nghiệp vụ kế toán, bao

gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ kế toán

và hệ thống báo cáo kế toán.

Hệ thống chứng từ kế toán bao gồm hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc và

hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn được lập để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế

phát sinh làm cơ sở pháp lý cho các số liệu trên tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế

toán.

Hệ thống tài khoản kế toán bao gồm các tài khoản cấp 1 và cấp 2 dùng để

phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thuộc các loại hình kinh tế phù hợp với

yêu cầu và đặc điểm của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.

Hệ thống sổ kế toán bao gồm các loại sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng

hợp, kết cấu sổ, mối quan hệ kiểm tra đối chiếu giữa các sổ kế toán, trình tự và

phương pháp ghi chép các sổ cũng như việc tổng hợp số liệu để lập báo cáo. Như

vậy hệ thống sổ kế toán được sử dụng để ghi chép các sổ cũng như việc tổng hợp

số liệu để lập báo cáo.

Hệ thống báo cáo kế toán phản ánh một cách tổng qt, tồn diện tình

hình tài sản, cơng nợ, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh

doanh của đơn vị trong một kỳ hạch tốn.

Thơng qua việc quan sát, đối chiếu, tính tốn và ghi chép các nghiệp vụ kinh

tế phát sinh, hệ thống kế tốn khơng những cung cấp thơng tin cho việc quản lý mà

còn có tác dụng kiểm sốt nhiều mặt hoạt động của đơn vị. Chính vì vậy hệ thống kế

tốn là một mắt xích, một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống KSNB.



14



Tính kiểm sốt của hệ thống kế tốn được thể hiện thơng qua 3 giai đoạn của q

trình kế tốn đó là: Lập chứng từ kế toán, phản ánh vào sổ kế toán và lập báo cáo kế

toán.

Lập chứng từ kế toán là giai đoạn đầu tiên của q trình xử lý số liệu kế

tốn. Đây là giai đoạn hết sức quan trọng, việc lập chứng từ đầy đủ, hợp lệ, hợp

pháp và phản ánh trung thực mọi nghiệp vụ phát sinh thì số liệu kế tốn mới bảo

đảm tính chính xác và đáng tin cậy. Các chứng từ kế tốn khơng chỉ là vật mang

tính thuần túy mà còn là minh chứng pháp lý cho sự hình thành các nghiệp vụ

kinh tế. Thơng qua giai đoạn lập chứng từ, kế tốn có thể kiểm tra phát hiện và

ngăn ngừa các sai phạm trong các nghiệp vụ phát sinh, bảo vệ tài sản, sử dụng có

hiệu quả các nguồn lực của đơn vị.

Phản ánh vào sổ kế tốn là giai đoạn chính trong q trình xử lý số liệu kế

toán. Ở đây mọi nghiệp vụ phát sinh sẽ được ghi chép, phân loại tính tốn, tổng

hợp vào sổ kế toán. Hệ thống sổ sách kế tốn có vai trò rất quan trọng trong hệ

thống KSNB. Các sổ chi tiết về vật tư hàng hóa, cơng nợ,… sẽ giúp các nhà

quản lý thu thập được các thông tin đáng tin cậy phục vụ cho việc ra các quyết

định điều hành đơn vị. Ngoài ra, sổ kế tốn còn giúp cho việc tổng hợp, lưu trữ

thơng tin được khoa học và có hệ thống, là trung gian giữa chứng từ ban đầu và

hệ thống báo cáo kế tốn, vì vậy đó là cơ sở để kiểm tra, đối chiếu các chứng từ.

Lập báo cáo kế toán là giai đoạn cuối cùng của q trình xử lý thơng tin

kế toán nhằm tổng hợp số liệu trên sổ kế tốn thành những chỉ tiêu trên báo cáo

kế tốn. Thơng tin thể hiện trên báo cáo kế tốn khơng đơn thuần chỉ là sự mang

sang từ sổ kế toán mà nó còn phải phản ánh trung thực tình hình tài chính và kết

quả hoạt động của đơn vị đồng thời phải được trình bày theo đúng các chuẩn

mực kế tốn và các quy định có liên quan.

Mục đích của một hệ thống kế toán của một tổ chức là sự nhận biết, thu

thập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức đó,

thỏa mãn chức năng thơng tin và kiểm tra của hoạt động kế toán. Một hệ thống



15



kế toán hữu hiệu phải bảo đảm các mục tiêu kiểm soát chi tiết: Một là, Tính có

thực: Ngun tắc kiểm sốt khơng cho phép ghi chép những nghiệp vụ khơng có

thực vào sổ sách của đơn vị; Hai là, Sự phê chuẩn: Bảo đảm mọi nghiệp vụ xảy

ra phải được phê chuẩn hợp lý; Ba là, Tính đầy đủ: Bảo đảm việc phản ánh trọn

vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh; Bốn là, Sự đánh giá: Bảo đảm khơng có sai phạm

trong việc tính tốn các khoản giá và phí; Năm là, Sự phân loại: Bảo đảm các nghiệp

vụ được ghi chép đúng theo sơ đồ tài khoản và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ

sách kế tốn; Sáu là, Tính đúng kỳ: Bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh

được thực hiện kịp thời theo qui định; Bảy là, Q trình chuyển sổ và tổng hợp

chính xác: Số liệu kế toán được ghi vào sổ phải được tổng cộng và chuyển sổ

đúng đắn, tổng hợp chính xác trên các BCTC của đơn vị.

1.1.4.3. Thủ tục KSNB là các cách thức, các thao tác trong quy trình quản

lý. Để đạt được các mục tiêu kiểm soát, các nhà quản lý phải thiết lập và duy trì

các bước cũng như các cách thức kiểm soát trong đơn vị. Các bước và cách thức

kiểm soát này được thiết kế tùy thuộc vào đặc thù của từng đơn vị. Chính vì vậy,

các bước kiểm sốt và cách thức kiểm sốt có thể khơng giống nhau, thậm chí rất

khác nhau giữa các đơn vị và các loại nghiệp vụ.

Tuy nhiên các loại KS trên đều được xây dựng theo các nguyên tắc cơ bản:

Một là: Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: Theo nguyên tắc này, quyền

hạn và trách nhiệm cần được phân chia cho nhiều người trong một bộ phận hoặc

nhiều bộ phận khác nhau trong một tổ chức. Mục đích của nguyên tắc này là

không nên để một cá nhân hay bộ phận nào được thực hiện một nghiệp vụ trọn

vẹn từ khâu đầu đến khâu cuối. Cơ sở của nguyên tắc là nhiều người cùng làm

một cơng việc thì sai sót dễ phát hiện hơn và các gian lận khó xảy ra hơn. Trong

một đơn vị, công việc của người này sẽ liên quan và tự động được kiểm soát bởi

người khác. Việc phân cơng phân nhiệm còn có tác dụng tạo nên sự chun mơn

hóa, tạo cơ chế kiểm tra, thúc đẩy lẫn nhau trong công việc.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VỀ KSNB THU CHI TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×