Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thành tựu chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Singapore giai đoạn 2006- 2014

Thành tựu chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Singapore giai đoạn 2006- 2014

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chính sách kinh tế đối ngoại NEU

Nhờ sự sáng suốt trong hoạch định chính sách thúc đẩy xuất khẩu mà

Singapore đã

những thành

thể hiện qua

sau :



đạt



giá trị



năm



được



tựu đáng kể



xuất



giá trị tổng



khẩu



xuất



giá trị tốc độ



hàng



khẩu



xuất



tăng



hóa



dịch



khẩu



(%)



SGD



vụ SGD SGD



bảng số liêu



(triệu) (triệu) (triệu)

446

94

540

2006



274.4

470



089.2

11



363.6

582



12.70



2007



639.6

499



848.4

126



488.0

626



7.80



2008



409.1

417



877.5

119



286.6

536



7.52



2009



971.9

504



020.1

137



992.0

642



-14.26



2010



848.8

547



484.7

149



333.5

697



19.62



2011



963.2

549



148.1

159



111.3

708



8.53



2012



051.9

552



093.8

171



145.7

724



1.58



2013



651.0

554



803.4

177



454.4

731



2.30



2014

044.0

935.6

Nguồn:http://www.singstat.gov.sg/



979.6



1.04



Bảng 2: Bảng thể hiện giá trị và tốc độ xuất khẩu hàng hóa dịch vụ của

Singapore giai đoạn 2006 – 2014



Chính sách kinh tế đối ngoại NEU

Nhận xét:

Qua bảng số liệu trên ta thấy giá trị xuất khẩu hàng hóa dịch vụ của

Singapore giai đoạn 2006-2014 là tương đối lớn và gần như liên tục

tăng qua các năm ( ngoại trừ năm 2009). Năm 2007, 2008 thì tốc độ

tăng có xu hướng chậm lại nhưng vẫn gi ữ ở mức khoảng 7%, năm 2009

thì đột ngột giảm mạnh cả về giá trị cũng như tốc độ( giá trị xuất khẩu

giảm 89 294,6 triệu UGD, tốc độ đạt -14,26%) do ảnh h ưởng c ủa cuộc

khủng hoảng kinh tế thế giới . Tuy nhiên nh ờ th ực hi ện một lo ạt các

chính sách thúc đẩy xuất khẩu, ngay sau đó, năm 2010, giá tr ị xu ất kh ẩu

không những đã tăng trở lại mà còn ở mức khá cao ( giá tr ị đ ạt 642

333,5 triệu UGD, tốc độ đạt 19,62 %) từ năm 2011 – 2014 giá tr ị xu ất

khẩu vẫn liên tục tăng nhẹ qua các năm và ổn định ở mức khá cao.

Như vậy, xuất khẩu đã góp giá trị khơng nhỏ cho nền kinh tế ở

Singapore, đặc biệt tuy có bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế

nhưng xuất khẩu đã nhanh chóng tăng và lấy lại “phong độ” tr ở l ại v ới

vai trò vơ cùng quan trọng đóng góp vào phát triển kinh t ế n ước nhà.

Đóng góp vào thành cơng đó là nhờ có những chính sách thúc đ ẩy xu ất

khẩu hợp lý và hiệu quả của nhà nước Singapore.

3.2.



Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng mũi nhọn của

Singapore

Đơn vị: Triệu SGD



Mặt hàng

Máy móc



2009

202 512.0



2010

244 128.0



2011

235 345.6



2012

230 884.9



thiết bị

Linh kiện



90 764.6



118 962.0



106 090.6



103 469.9



điện tử

Khoáng



78 398.0



103 511.0



136 773.5



130900.0



sản

Hóa chất



46 597.8



56 644.3



64 777.1



67 418.6



và thiết bị



Chính sách kinh tế đối ngoại NEU



Nguồn:http://www.singstat.gov.sg/

Bảng 1: Bảng thể hiện giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng mũi

nhọn của Singapore qua các năm.

NHẬN XÉT:

Như đã biết, thế mạnh của Singapore là nh ập ngun liêu thơ, sau

đó gia cơng chế biến, chẳng hạn như hóa chất, linh ki ện điện t ử rồi

xuất khẩu. Với một loạt chính sách để hỗ trợ xuất khẩu một số mặt

hàng mũi nhọn nên những mặt hàng này luôn đạt kim ngạch xuất kh ẩu

lớn và đóng góp đáng kể vào tổng kim ngạch.



4.



Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

4.1.



Thuế và chính sách thuế.



- Về hệ thống thuế:

Do tác động của việc đãi ngộ các nhà xuất khẩu (thơng qua hồn thu ế,

ưu đãi thuế) không lớn hơn tác động của cơ cấu thuế nh ập kh ẩu nên

các nhà kinh tế thường nghĩ tới hai giải pháp: Một là, ủng h ộ th ương

mại tự do, nghĩa là loại bỏ cả thuế nhập khẩu và trợ cấp xuất kh ẩu vì

nếu xét tới tác động ròng của khuyến khích xuất khẩu thì thuế nhập

khẩu ngang với trợ cấp xuất khẩu cũng tương đương với khơng có thuế

nhập khẩu và khơng có trợ cấp. Sự can thiệp đồng nh ất sẽ không ph ải

là chính sách tốt nhất của chính sách thương mại vì vi ệc không can

thiệp luôn được ưa chuộng hơn so với sự can thiệp đồng nh ất bởi bất

cứ sự can thiệp nào cũng khơng thể tránh khỏi chi phí qu ản lý; Hai là,

trong trường hợp mà giải pháp tự do hóa thương m ại ngay lập t ức

khơng thể thực hiện được, cần có sự lựa chọn chính sách khác nhằm

giảm khuynh hướng chống xuất khẩu trong nền kinh tế, đó là th ực



Chính sách kinh tế đối ngoại NEU

hiện tăng trợ cấp xuất khẩu đi cùng với giảm thuế nhập khẩu đầu vào

trung gian cho xuất khẩu. Như vậy trên th ực tế sẽ làm gi ảm tăng m ức

độ bảo hộ hiệu quả cho khu vực xuất khẩu. Tuy nhiên, cũng có m ột vài

bất lợi đối với giải pháp này, đó là việc suy giảm nguồn thu, trực tiếp là

do thuế nhập khẩu giảm và gián tiếp là những chi phí liên quan đến

việc hồn thuế hoặc thực hiện chính sách miễn thuế đối v ới khu v ực

nhập khẩu tăng lên. Xu hướng tất yếu của tự do hoá th ương m ại hi ện

nay yêu cầu các nước đang phát triển nói chung và Việt nam nói riêng

hướng tới việc giảm và xố bỏ dần thuế quan, hạn chế định l ượng, và

đồng bộ hoá hệ thống thuế. Chiến lược duy nhất để Việt Nam giảm

khuynh hướng chống xuất khẩu là đơn giản các loại thuế suất và gi ảm

mức thuế. Chuyển sang hệ thống thuế thống nhất là cách h ữu hiệu đ ể

giảm những tổn thất do phân bổ sai nguồn lực, loại bỏ tham nhũng và

tuỳ tiện trong quản lý thuế, giảm bỡt sự chậm trễ và cách làm sai trái

trong thủ tục hải quan.

-



Về cơ chế hoàn thuế: Cơ sở của việc tính hồn thuế hiện nay ch ưa

được quy định rõ ràng, dựa vào nhận định chủ quan của cán bộ hải

quan là chính. Việc tính hồn thuế dựa theo từng chuyến hàng, trong

đó cán bộ hải quan đưa ra quyết định về tỷ lệ xuất khẩu trong tổng

sản lượng và tỷ lệ đầu vào- đầu ra áp dụng khi tính giá tr ị nh ập

khẩu được hồn thuế. Để tạo một môi trường công bằng và trong

sạch cho các doanh nghiệp, có thể thay hệ thống tính tốn hồn thuế

trực tiếp hiện nay bằng một hệ thống tính tốn hồn thuế trên cơ sở

áp dụng các mức chuẩn về hàm lượng nhập khẩu trong giá tr ị xu ất

khẩu FOB (như hệ thống hoàn thuế ở Hàn Quốc, Đài Loan, Sri

Lanka...). Mức chuẩn này được công bố trước, doanh nghiệp d ựa vào

sản lượng xuất khẩu của mình để xin hồn thuế theo m ức đã cơng

bố, kể cả khi họ thay nguyên liệu đầu vào nhập khẩu bằng nguyên



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thành tựu chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Singapore giai đoạn 2006- 2014

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×