Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các phương pháp này xem xét lòng trung thành trên nhiều khía cạnh: hành vi, thái độ, cảm nhận…, do đó cung cấp các thông tin về những nhân tố tác động đến lòng trung thành khách hàng một cách chính xác và toàn diện. Hơn nư

Các phương pháp này xem xét lòng trung thành trên nhiều khía cạnh: hành vi, thái độ, cảm nhận…, do đó cung cấp các thông tin về những nhân tố tác động đến lòng trung thành khách hàng một cách chính xác và toàn diện. Hơn nư

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



trên 60% các khách hàng biết đến ngân hàng đang sử dụng nhờ vào người

thân và bạn bè trong khi đó chỉ 18% biết đến thơng qua các quảng cáo và

chương trình truyền thơng của ngân hàng và việc được giới thiệu bởi người

thân/bạn bè là nhân tố quan trọng thứ hai (ngoài nhân tố đầu tiên là phải sử

dụng bởi được trả lương thông qua hệ thống ngân hàng đó) tác động đến

quyết định lựa chọn ngân hàng của khách hàng, tiếp đó là nhân tố lãi suất hấp

dẫn và vị trí thuận lợi. Hơn nữa, họ cũng đưa ra nghiên cứu cho thấy sự thân

thiện của đội ngũ nhân viên và tốc độ độ giao dịch nhanh là hai lý do chính

cho việc khách hàng có cảm nhận tích cực về những trải nghiệm khi giao dịch

tại ngân hàng.

Ngoài ra, theo nghiên cứu của Levesque và McDougall (1996) thì

những nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng cũng như lòng trung thành

của khách hàng trong ngành ngân hàng như là: sự tiện lợi, lãi suất, chi phí

dịch vụ, sự đa dạng của sản phẩm và vị trí giao dịch.

Dựa trên đó, nghiên cứu đã đưa ra một số nhân tố chính như: lãi suất, vị

trí giao dịch, sự đa dạng của sản phẩm, thái độ của nhân viên, tốc độ và thủ

tục giao dịch để xác định lý do khách hàng đánh giá khả năng sẽ giới thiệu

dịch vụ tại ngân hàng cho người khác.

- Chính sách lãi suất: Lãi suất là mối quan tâm hàng đầu chủ yếu khi một

cá nhân nào đó muốn gửi tiền vào ngân hàng. Do đó NHTM phải hoạch định

chính sách lãi suất linh hoạt, phù hợp với tín hiệu thị trường, tiếp tục thực

hiện lãi suất dương trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền, ngân

hàng và người sử dụng vốn. Mức lãi suất huy động cần phải thấp hơn lãi suất

cho vay để đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng và cũng phải thấp hơn lợi

nhuận của doanh nghiệp để đảm bảo quyền lợi ích người vay nhưng mức lãi

suất này không được thấp hơn tỷ lệ lạm phát để đảm bảo cho người gửi tiền

vẫn có một tỷ lệ thu nhập hợp lý. Có như vậy người gửi tiền mới thấy việc gửi



18



tiền vào ngân hàng là có lợi. Do đó các NHTM cần phải duy trì một chính

sách lãi suất nhạy cảm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế để thu hút các

nguồn tiền nhàn rỗi của ngân hàng.

- Vị trí giao dịch: Đối với các khách hàng cá nhân, địa điểm thuận tiện là

một trong những vấn đề quan trọng. Ngày nay, để tiếp cận một ngân hàng

khách hàng không chỉ có cách duy nhất là tới các chi nhánh, họ có thể tiếp

cận với ngân hàng một cách gián tiếp thông qua các hệ thống homebanking,

EFTPOS, máy rút tiền tự động. Nếu một ngân hàng có đầy đủ các hệ thống

trên sẽ thu hút đuợc khách hàng gửi tiền tại ngân hàng của mình. Bên cạnh

đó, khơng thể phủ nhận sự tồn tại của các chi nhánh, các phòng giao dịch.

Những phòng giao dịch khang trang với hệ thống máy móc hiện đại hoặc nằm

trong những cao ốc ln tạo những cảm giác an toàn với khách hàng. Ngày

nay, một số ngân hàng Việt Nam đã chú ý đến vấn đề này.

- Sự đa dạng của sản phẩm: Trong nền kinh tế thị trường, việc đưa ra

nhiều sản phẩm khác nhau cho người tiêu dùng lựa chọn là hết sức cần thiết,

bởi vì nhu cầu của mỗi người là khác nhau. Các sản phẩm của ngân hàng là

khá đơn điệu, việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn là rất khó. Tuy

nhiên, các ngân hàng thương mại cho ra đời nhiều sản phẩm vừa mang tính

truyền thống, vừa mang tính hiện đại. Qua đó từng bước đã thu hút được

nhiều khách hàng hưởng ứng. Một ngân hàng thương mại có sự đa dạng trong

nghiệp vụ huy động vốn thỏa mãn được nhu cầu của người gửi tiền, một sản

phẩm phù hợp sẽ làm cho khách hàng quan tâm và bị thu hút về việc gửi tiền

vào ngân hàng thương mại hơn là tìm kiếm các cơ hội đầu tư khác. Vì vậy đa

dạng hóa sản phẩm, đặc biệt là một cơng việc rất cần thiết và nó có thể coi là

“cuộc chạy đua” khơng có đích cuối cùng của các ngân hàng thương mại hiện

nay.

- Thái độ của nhân viên: Đây là tiêu chí trình độ nghiệp vụ, cách ứng xử



19



và xử lý công việc của nhân viên ngân hàng trong quá trình giao dịch, tư vấn,

giải đáp thắc mắc. Một số khách hàng khi lựa chọn giao dịch và đặc quan hệ

lâu dài thì yếu tố con người luôn được họ xem quan trọng.

- Tốc độ và thủ tục giao dịch: Việc khách hàng phải chờ đợi lâu mới thực

hiện được giao dịch của mình. Điều này rất dễ gây phiền hà cho khách. Vì vậy

các NHTM cần phải đơn giản hóa thủ tục, bên cạnh đó nhân viên tiết kiệm

cần thực hiện các thao tác nghiệp vụ nhanh, rút ngắn thời gian giao dịch, giải

phóng nhanh cho khách hàng thì mới tạo động lực thu hút, khuyến khích

người dân gửi tiền vào ngân hàng.

1.2. Chỉ số Net Promoter score (NPS).

1.2.1. Giới thiệu chỉ số NPS

Nhận thấy các chương trình về lòng trung thành đang ngày càng phổ

biến, nhưng giá trị thực sự của các chương trình này vẫn chưa được nhận thấy

rõ ràng. Việc có một chuẩn đo lường chính xác lòng trung thành khách hàng

là rất khó và Reichheld (2003) chỉ ra rằng chỉ đo lường sự hài lòng của khách

hàng thơi vẫn chưa đủ. Sametrix đã hợp tác chặt chẽ với Frederick Reichheld

đã bắt tay vào một dự án nghiên cứu độc lập vào năm 2003 nhằm hướng đến

việc tiêu chuẩn hóa việc đo lường lòng trung thành khách hàng. Reichheld đã

tiến hành xác định thước đo thái độ của khách hàng nào có sự tương quan

thống kê mạnh mẽ nhất đến hành vi thực sự của khách hàng: mua lại và giới

thiệu. Nghiên cứu đã tìm thấy một câu hỏi được xem là tốt nhất và phù hợp

nhất cho hầu hết các ngành trong việc đánh giá mức độ trung thành của khách

hàng: “Khả năng bạn sẽ giới thiệu công ty X cho người thân, bạn bè hay

đồng nghiệp là bao nhiêu?” (“How likely are you recommend me/us/our

product… to a colleague and friend?”). Câu hỏi này sử dụng thang đo 11

điểm, từ 0 – 10 (trong đó, 10 là chắc chắn sẽ giới thiệu và 0 là hồn tồn



20



khơng giới thiệu), dựa vào đó, ta sẽ xếp loại khách hàng thành 3 nhóm:

detractors, passives và promoters.

“Khả năng bạn sẽ giới thiệu công ty (X) cho người thân, bạn bè hay đồng

nghiệp là bao nhiêu?”



- Nhóm đầu tiên là những khách hàng ủng hộ công ty (Promoters): đây

là những khách hàng đánh giá khả năng sẽ giới thiệu công ty ở mức 9 và 10.

Khách hàng ủng hộ công ty là những người trung thành, thỏa mãn với sản

phẩm và dịch vụ của công ty, tỷ lệ mua lại sản phẩm và dịch vụ của công ty

cao, đồng thời họ sẽ giới thiệu, thuyết phục bạn bè, người thân của họ làm

tương tự, đặc biệt nhóm này tạo ra và lan truyền đến 80 – 90% các thơng điệp

truyền miệng tích cực cho cơng ty.

- Nhóm thứ hai là các khách hàng thờ ơ (Passives): nhóm này trả lời

câu hỏi với mức 7 và 8. Đây là những người hài lòng với sản phẩm và dịch

của cơng ty nhưng khơng nhiệt tình, tỷ lệ mua lại và giới thiệu công ty cho

người khác của nhóm này thấp hơn đáng kể so với nhóm trên. Họ có thể dễ

dàng bị các đối thủ cạnh tranh của cơng ty lơi kéo.

- Nhóm cuối cùng là những người đánh giá khả năng sẽ giới thiệu ở

mức 0 – 6 và được gọi là những khách hàng nói khơng tốt về cơng ty

(Detractors). Khách hàng thuộc nhóm Detractors đây là những khách hàng

không vui vẻ khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ của cơng ty vì bị mắt vào mối

quan hệ tồi tệ với cơng ty. Nhóm này có rất ít khả năng sẽ mua lại và sử dụng



21



sản phẩm/dịch vụ của công ty và tạo ra và lan truyền đến 80% các thông điệp

truyền miệng tiêu cực về cơng ty.

Việc phân chia nhóm như vậy phụ thuộc vào câu trả lời của khách hàng

với câu hỏi cốt tử. Một cổ máy tăng trưởng hoạt động với năng suất cao nhất

có thể biến 100% khách hàng của công ty thành khách hàng ủng hộ công ty

(Promoters). Một cỗ máy hoạt động kém hiệu quả có thể biến 100% khách

hàng của cơng ty thành khách hàng nói khơng tốt về công ty (Detractors).

Cách tốt nhất để đánh giá hiệu quả của cổ máy tăng trưởng đó là lấy tỷ lệ

khách hàng ủng hộ công ty trừ đi tỷ lệ khách hàng nói khơng tốt về cơng ty.

Chỉ số NPS được tính bằng hiệu số giữa phần trăm các khách hàng ủng

hộ công ty và phần trăm các khách hàng nói khơng tốt về cơng ty:

NPS



%Promoters



%Detractors



Chỉ số này được phát triển bởi Frederick Fred Reichheld. Câu trả lời

cho câu hỏi này được Frederick F. Reichheld chứng minh là một phương tiện

đo lường lòng trung thành của khách hàng và sự tăng trưởng trong tương lai

của doanh nghiệp một cách đơn giản và có thể so sánh.

1.2.2. Ý nghĩa và giá trị của chỉ số NPS

Chỉ số NPS được xem như là một tiêu chuẩn để từ đó các doanh nghiệp

có thể dễ dàng nắm được thực trạng của khách hàng hiện tại và từ đó có giải

pháp cải thiện lòng trung thành khách hàng. Hơn nữa, NPS cũng phản ánh

thực tế của kênh thông tin truyền miệng của công ty.

Một trong những điểm mạnh của chỉ số này là sự đơn giản trong đo

lường cũng như cách tiếp cận. Điều này giúp việc nghiên cứu giảm thiểu được

các chi phí mà có thể gia tăng hiệu quả.



22



Hơn nữa, chỉ số NPS giúp cho mọi người từ ban giám đốc đến các nhân

viên trong cơng ty có thể hiểu rõ và nắm bắt dễ dàng một khái niệm phức tạp:

lòng trung thành. Qua đó, có được những chiến lược đúng đắn để giảm thiểu

các khách hàng thuộc nhóm Detractors và gia tăng số lượng các khách hàng

ủng hộ công ty.

1.2.3. Nghiên cứu ứng dụng chỉ số NPS trong dịch vụ ngân hàng

bán lẻ tại Bắc Mỹ.

Sức mạnh của lòng trung thành của khách hàng là rõ ràng và thuyết

phục, nó dẫn đến sự tăng trưởng có nhiều lợi nhuận hơn. Khách hàng trung

thành ở lại lâu hơn với các ngân hàng đối đãi tốt với họ. Họ mua nhiều sản

phẩm, và chi phí phục vụ ít hơn. Họ giới thiệu các ngân hàng của họ cho bạn

bè và đồng nghiệp của họ, có hiệu lực, độ tin cậy cao về năng lực bán hàng

tình nguyện. Đầu tư vào lòng trung thành có thể tạo ra lợi nhuận hấp dẫn hơn

so với kế hoạch quảng cáo hoặc xây dựng chi nhánh mới.

Làm thế nào để đạt được lòng trung thành của khách hàng và ràng buộc

những điều này với kết quả kinh tế. Bain & Company hợp tác với e-Reward

tổ chức thăm dò ý kiến của 89.025 khách hàng của 90 ngân hàng chi nhánh

quốc gia, khu vực, các ngân hàng tư nhân, ngân hàng cộng đồng, liên hiệp tín

dụng ở Hoa Kỳ, Canada và Mexico. Sử dụng thước đo đơn giản đáng tin cậy

cho việc theo dõi lòng trung thành, được gọi là chỉ số NPS.

Được sử dụng như một chuẩn mực cạnh tranh, NPS chứng minh rõ

ràng rằng chiến thắng lòng trung thành của khách hàng là giá trị khơng chỉ bởi

vì nó là điều "phải" để làm mà còn vì lòng trung thành gắn bó chặt chẽ với

tăng trưởng lợi nhuận. Thật vậy, nó thu hút mối quan hệ giữa các chỉ số lòng

trung thành và tốc độ tăng trưởng tiền gửi diễn ra trong các mơ hình ngân

hàng kinh doanh khác nhau. Các ngân hàng trực tiếp thấy tiền gửi của họ tăng



23



giữa năm 2007 và 2009 ở mức 13% tỷ lệ hàng năm. Cơng đồn tín dụng và

ngân hàng cộng đồng, từ lâu đã dành vị trí vào khách hàng thân thiện, đã được

khen thưởng với NPS cao và mức trung bình tăng trưởng tiền gửi mạnh,

tương ứng, 6,1% và 7,5% hàng năm.

Hoàn thành chu kỳ sống còn, những người ủng hộ cũng có nhiều khả

năng giới thiệu khách hàng mới cho các ngân hàng của họ hơn so với những

người khơng nói tốt hoặc những người thờ ơ. Các ngân hàng cho rằng trong

những năm qua, những người ủng hộ mẫu của chúng tôi đã giới thiệu nhiều

hơn sáu lần so với những người không nói tốt và nhiều hơn hai lần so với

những người thơ ơ.

Kết quả này nhấn mạnh rằng trong khi các ngân hàng lớn đầu tư rất

nhiều vào chi nhánh của họ và sự tiếp thị để mang về khách hàng mới, các

nhà lãnh đạo lòng trung thành có khách hàng của họ sẽ bán hàng cho họ.

1.3. Mối quan hệ giữa chỉ số NPS và lòng trung thành của khách

hàng

Đo lường chỉ số NPS là phương pháp đo lường mới với việc kết hợp

khái niệm truyền miệng và lòng trung thành vào một thước đo. NPS được đo

lường dựa vào thái độ truyền miệng điều mà có liên kết với hành vi trung

thành thông qua các quan sát cho thấy rằng những khách hàng sẵn sàng nói

tốt về cơng ty cũng đồng thời thể hiện lòng trung thành cao hơn (Reichheld,

2003). Có nhiều nghiên cứu cho thấy truyền miệng có ảnh hưởng mạnh mẽ

đến hành vi của khách hàng và ảnh hưởng đến khách hàng bằng nhiều cách

như: trong việc hình thành thái độ (Bone, 1995), trong việc ra quyết định

mua, giảm rủi ro cảm nhận khi quyết định mua (Murray, 1991), và sự chấp

nhận các loại sản phẩm/dịch vụ mới và lựa chọn nhãn hiệu (East và cộng sự,

2008).



24



Truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong ngành dịch vụ khi chiếm

đến 50% lý do thay đổi nhà cung cấp dịch vụ (Keaveney, 1995). Một số

nghiên cứu cũng thừa nhận sự ảnh hưởng của truyền miệng khi phát hiện thấy

rằng các khách hàng khơng hài lòng có tác động tiêu cực rất lớn đến khả năng

tăng trưởng của công ty bởi họ sẽ lan truyền cho 9 người khác về những trải

nghiệm không tốt tại công ty (Anderson, 1998). Hơn nữa, nhiều nghiên cứu

cũng cho thấy rằng các khách hàng khơng hài lòng có nhiều khả năng sẽ nói

cho người khác về điều đó hơn so với các khách hàng hài lòng (Wilson và

cộng sự, 1989). Nói chung các nghiên cứu đều cho thấy truyền miệng có tác

động đáng kể đến hành vị thực tế của khách hàng. Sử dụng ý định giới thiệu

như là một thước đo để nắm bắt cảm nhận của khách hàng, Kamakura (2002)

đã tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ cho mối quan hệ thuận chiều giữa khả năng

giới thiệu và hành vi thực sự của khách hàng.

1.4. Khái quát về dịch vụ tiền gửi tiết kiệm trong ngân hàng thương

mại

1.4.1. Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm trong ngân hàng thương mại

Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền

gửi tiết kiệm, được xác định trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định

của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp

luật về bảo hiểm tiền gửi [1].

1.4.2. Phân loại tiền gửi tiết kiệm trong ngân hàng thương mại

Căn cứ theo thời hạn gửi tiền, tiền gửi tiết kiệm gồm có các loại sau:

- Tiền gửi tiết kiệm khơng kỳ hạn:

Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được thiết kế dành cho đối

tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi



25



ngân hàng vì mục tiêu an tồn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế

hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai.

Đối với khách hàng khi chọn lựa hình thức tiền gửi này thì mục an tồn

và tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu sinh lợi.

Đối với ngân hàng, vì loại tiền gửi này khách hàng muốn rút bất cứ lúc

nào cũng được nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế

hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Do vậy, ngân hàng thường trả lãi rất

thấp cho loại tiền gửi này. (khoảng 0,25%/tháng).

Thủ tục mở sổ tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn rất đơn giản. Chỉ cần

khách hàng đến bất cứ chi nhánh nào của ngân hàng điền vào mẫu giấy đề

nghị gửi tiết kiệm khơng kỳ hạn có kèm theo giấy chứng minh nhân dân và

chữ ký mẫu. Nhân viên sẽ hoàn tất thủ tục nhận tiền và cấp sổ tiền gửi ngay

cho khách hàng.

Với sổ tiền gửi tiết kiệm khơng kỳ hạn, khách hàng có thể gửi tiền và

rút tiền bất cứ lúc nào trong giờ giao dịch. Tuy nhiên khác với hình thức tài

khoản tiền gửi cá nhân mỗi lần giao dịch khách hàng phải xuất trình sổ tiền

gửi và chỉ có thể thực hiện được các giao dịch ngân quỹ như là gửi tiền và rút

tiền chứ không thể thực hiện được các giao dịch thanh toán như trong trường

hợp tài khoản tiền gửi thanh toán.

Mặc dù, số dư trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của khách

hàng thường không lớn (do chỉ được hưởng lãi suất ở thấp) nhưng nếu ngân

hàng thu hút được số lượng khách hàng khá lớn thì tổng khối lượng vốn huy

động qua hình thức tiền gửi này có thể trở nên lớn đáng kể.

- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:

Khác với tiền gửi tiết kiệm khơng kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

được thiết kế dành cho khách hàng cá nhân và tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì

mục tiêu an tồn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương

lai.

Đối tượng khách hàng chủ của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có

thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc



26



hàng quý. Đa số khách hàng thích lựa chọn hình thức gửi tiền này là cơng

nhân, viên chức hưu trí. Mục tiêu quan trọng của họ khi lựa chọn hình thức

tiền gửi này là lợi tức có được theo định kỳ. Do vậy lãi suất đóng vai trò quan

trọng để thu hút được đối tượng khách hàng này. Dĩ nhiên, lãi suất trả cho loại

tiền gửi tiết kiệm định kỳ hơn lãi suất trả cho loại tiền gửi khơng kỳ hạn.

Ngồi ra mức lãi suất còn thay đổi tùy theo loại kỳ hạn gửi tiền, tùy theo loại

tiền gửi tiết kiệm (USD, VND, EUR hay vàng) và tùy theo uy tín và rủi ro của

ngân hàng nhận tiền gửi.

Về thủ tục mở sổ, theo dõi hoạt động và tính lãi cũng tiến hành tương

tự như tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, chỉ khác ở chỗ khách hàng chỉ được

rút tiền gửi theo đúng kỳ hạn đã cam kết, không được phép rút tiền trước hạn.

Tuy nhiên để khuyến khích và thu hút khách hàng gửi tiền đơi khi ngân hàng

cho phép khách hàng được rút tiền gửi trước hạn nếu có nhu cầu, nhưng khi

đó khách hàng bị mất tiền lãi, hoặc chỉ được trả lãi theo lãi suất tiền gửi

không kỳ hạn.

Tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn có thể phân chia thành nhiều loại. Căn cứ vào

thời hạn có thể chia thành tiền gửi kỳ hạn 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13

tháng hoặc lâu hơn đến 36 tháng. Căn cứ vào phương thức trả lãi có thể chia

thành:

+ Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ

+ Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ

+ Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi theo định kỳ

Việc phân chia tiền gửi kỳ hạn thành nhiều loại khác nhau làm cho sản

phẩm tiền gửi của ngân hàng trở nên đa dạng và phong phú có thể đáp ứng

được nhu cầu gửi tiền đa dạng của khách hàng.

- Các loại tiền gửi tiết kiệm khác

Ngoài 2 loại tiền gửi tiết kiệm chính là tiết kiệm khơng kỳ hạn và tiết

kiệm có kỳ hạn, hầu hết các ngân hàng thương mại đều có thiết kế những loại

tiền gửi tiết kiệm khác như tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm có thưởng, tiết kiệm an

khang với nét đặc trưng riêng nhằm làm cho sản phẩm của mình ln được



27



đổi mới theo nhu cầu của khách hàng vào tạo ra rào cản về sự khác biệt để

chống lại sự bắt chước của các đối thủ cạnh tranh.

1.4.3. Ý nghĩa của tiền gửi tiết kiệm đối với hoạt động ngân hàng.

Tiền gửi tiết kiệm của dân cư là nguồn vốn ln chiếm tỉ trọng cao và có

ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động của các NHTM, thể hiện thơng

qua đặc điểm của các loại hình tiết kiệm, cụ thể như sau:

- Đối với tiết kiệm không kỳ hạn, ngân hàng phải thường xuyên chi trả

theo yêu cầu bất thường của khách hàng nên tốn kém nhiều chi phí do đó lãi

suất thấp. Nhưng chính vì lãi suất thấp nên chi phí đầu vào thấp, nhờ đó ngân

hàng có thể nâng cao lãi suất đầu ra khi cần thiết mà vẫn đạt mức chênh lệch

lãi suất đảm bảo lợi nhuận ngân hàng.

- Đối với tiết kiệm có kỳ hạn, do có hẹn đến một ngày nhất định mới trả

lại vốn cho khách hàng. Điều này giúp ngân hàng nắm chắc được khoản vốn

trong một thời kỳ để có kế hoạch cho vay, không cần phải tồn quỹ cao để đề

phòng sự rút vốn bất thường. Do đó việc sử dụng nguồn vốn này để cho vay

rất hiệu quả, cũng chính vì thế mà lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ

hạn.

Như vậy, nguồn tiền gửi tiết kiệm là nguồn quan trọng góp phần làm

tăng nguồn vốn huy động của ngân hàng, đảm bảo vốn đáp ứng nhu cầu đa

dạng của nền kinh tế.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các phương pháp này xem xét lòng trung thành trên nhiều khía cạnh: hành vi, thái độ, cảm nhận…, do đó cung cấp các thông tin về những nhân tố tác động đến lòng trung thành khách hàng một cách chính xác và toàn diện. Hơn nư

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×