Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2015

Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

68

năng hội nhập cao; Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý đô thị;

tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị nhanh, đồng bộ, hiện đại; Thực

hiện cơ chế, chính sách đồng bộ để thu hút đầu tư; đẩy mạnh hội nhập kinh tế

quốc tế, phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế; Xây dựng và triển khai

chương trình thành phố mơi trường; quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả các

nguồn tài nguyên; Phát triển các lĩnh vực: giáo dục và đào tạo, khoa học và

cơng nghệ, văn hóa, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân; Xây

dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực và hiệu

lực điều hành, quản lý nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính, tư pháp; Tăng

cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an

tồn xã hội, tạo mơi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế.

Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế theo các định

hướng đề ra, việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là yêu cầu cấp thiết, trong đó

Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng đóng vai trò quan trọng trong việc

giúp chính quyền huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư phát

triển vào các dự án kết cấu hạ tầng theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội

của thành phố đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua, đồng thời hỗ

trợ cho các doanh nghiệp trên địa bàn đầu tư sản xuất, xuất khẩu, nuôi dưỡng,

phát triển các nguồn thu nhằm tăng tiềm lực, khả năng tài chính của thành phố.

3.1.2. Định hướng và mục tiêu phát triển hoạt động Quỹ Đầu tư phát

triển thành phố Đà Nẵng5

Mục tiêu phát triển của Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng trong

thời gian tới là trở thành một công cụ tài chính giúp chính quyền địa phương

thực thi có hiệu quả các chính sách huy động và đầu tư phát triển cơ sở hạ

tầng theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Thơng qua các hình

thức đầu tư đa dạng, Quỹ thực hiện vai trò chủ thể khởi xướng, dẫn dắt các

hoạt động đầu tư, tạo tiền đề cho việc thực hiện xã hội hoá đầu tư tại địa

5



[20]



69

phương. Quỹ đóng vai trò hỗ trợ cho các kênh đầu tư khác tại địa phương,

đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách để đầu tư

vào các cơng trình, dự án kết cấu hạ tầng.

Định hướng phát triển của Quỹ là huy động tối đa các nguồn vốn nhàn

rỗi trên địa bàn phục vụ đầu tư phát triển địa phương. Đặc biệt Quỹ sử dụng

lợi thế là một tổ chức tài chính nhà nước địa phương để khai thác các nguồn

vốn cho vay dài hạn với lãi suất thấp của các tổ chức tài chính quốc tế như

Ngân hàng thế giới, Cơ quan phát triển Pháp đã ký kết tài trợ cho Chính phủ

Việt Nam để cho các Quỹ ĐTPTĐP vay lại, nhằm thực hiện hỗ trợ cho các dự

án thuộc các ngành, lĩnh vực then chốt của địa phương mà các kênh tài trợ

vốn khác chưa vươn tới, hoặc các chủ đầu tư, doanh nghiệp còn khó khăn về

tính khả thi của các dự án nếu khơng có sự hỗ trợ của nhà nước trong việc tiếp

cận vốn chi phí thấp, thời hạn vay dài. Đồng thời, Quỹ nhận uỷ thác của chính

quyền địa phương quản lý nguồn vốn tài trợ dài hạn lãi suất thấp cho các dự

án cơ sở hạ tầng tại địa phương thông qua việc phát hành trái phiếu đơ thị. Để

phát huy vai trò là cơng cụ tài chính của chính quyền địa phương để phát triển

cơ sở hạ tầng, cần xây dựng mơ hình tổ chức của Quỹ phù hợp yêu cầu phát

triển của từng thời kỳ, đa dạng hố loại hình hoạt động để phân tán rủi ro...

3.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ

PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.2.1. Hoàn thiện hoạt động cho vay của Quỹ

Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động đầu tư cho vay vẫn chiếm vai trò

quan trọng và là hoạt động chủ yếu của Quỹ đầu tư phát triển Đà Nẵng. Quỹ

thực hiện cho vay chủ yếu bằng nguồn vốn điều lệ hoặc nguồn vốn huy động

của Quỹ và chịu toàn bộ rủi ro của khoản vốn cho vay. Theo quy định về giới

hạn cho vay đối với 1 dự án không quá 15% vốn hoạt động nên sẽ xảy ra

trường hợp Quỹ không được phép tài trợ đủ vốn cho các dự án có nhu cầu



70

vay với mức vượt giới hạn cho vay của Quỹ bằng nguồn vốn hoạt động của

mình. Với lợi thế là tổ chức tài chính nhà nước có thể huy động được các

nguồn vốn có chi phí thấp, thời gian cho vay dài như vốn được cấp từ ngân

sách nhà nước, vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế, Quỹ hồn tồn có thể chủ

động liên kết cùng các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tài chính khác để

hợp vốn cho vay dự án. Bằng nguồn vốn cho vay với lãi suất thấp của mình,

Quỹ sẽ hợp vốn cùng với các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài

chính khác trên địa bàn với tỷ lệ vốn tham gia hợp lý, khơng vượt giới hạn

quy định để hình thành nguồn vốn đảm bảo tài trợ đủ theo nhu cầu vay của dự

án với mức lãi suất hợp lý, đảm bảo hiệu quả của dự án cho vay và hiệu quả

hoạt động cho vay của các tổ chức cùng tham gia hợp vốn. Do vậy, trong thời

gian tới để triển khai thực hiện hình thức cho vay hợp vốn với các tổ chức tài

chính khác trên địa bàn, Quỹ cần chủ động tăng cường mối quan hệ với các tổ

chức tài chính khác để hồ nhập vào xu thế cùng hợp tác, cùng chia xẻ rủi ro

trên thị trường tài chính. Trong đó Quỹ cần làm tốt vai trò là đầu mối hợp vốn

nhằm huy động hiệu quả các nguồn vốn, góp phần đẩy nhanh tiến độ đầu tư

và giải ngân cho các dự án.

Mặt khác, để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của việc cho vay đầu tư,

dự án cần phải tuân thủ các quy định về đối tượng cho vay, điều kiện cho vay,

thời hạn cho vay và thẩm quyền quyết định cho vay. Đối tượng cho vay của

Quỹ là các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng có phương án thu hồi vốn trực tiếp

thuộc các chương trình, mục tiêu theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã

được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Điều kiện cho vay là chủ đầu

tư là các tổ chức, đã hoàn thành các thủ tục đầu tư theo quy định, có phương

án đảm bảo trả được nợ. Do đó, Quỹ phải được quyền chủ động quyết định

cho vay đối với các dự án thuộc đối tượng cho vay của Quỹ, đáp ứng đủ các

điều kiện cho vay với hạn mức cho vay không quá 15% vốn chủ sở hữu và



71

thời hạn cho vay không quá 15 năm theo đúng thẩm quyền đã quy định tại

Điều lệ Quỹ. Ủy ban nhân dân thành phố chỉ quyết định cho vay đối với các

dự án có mức cho vay lớn hơn 15% vốn chủ sở hữu hoặc thời gian cho vay

trên 15 năm. Mặt khác, Quỹ được quyền từ chối cho vay đối với các dự án

khơng khả thi, khơng có khả năng thu hồi vốn vay, không thuộc đối tượng cho

vay theo quy định.

Về lãi suất cho vay, Quỹ cần đề xuất Ủy ban nhân dân chỉ ban hành

khung lãi suất cho vay với 2 mức tối đa và tối thiểu nhưng đảm bảo mức tối

thiểu không thấp hơn lãi suất cho vay đầu tư của nhà nước và cho Quỹ được

quyền chủ động thỏa thuận lãi suất cho vay đối với các dự án trong giới hạn

khung lãi suất do Ủy ban nhân dân thành phố ban hành. Lãi suất cho vay sẽ

được xác định phù hợp với từng loại dự án căn cứ vào mức độ sinh lời của dự

án đó theo kết quả thẩm định của Quỹ.

Đối với các hoạt động cho vay hỗ trợ sản xuất, xuất khẩu với thời hạn

ngắn theo quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố, hoặc chỉ định cho vay

với lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay đầu tư nhà nước, do không thuộc đối

tượng cho vay của Quỹ và sai quy định về lãi suất cho vay nên cần được chấm

dứt hoặc Quỹ phải chuyển sang hình thức cho vay theo ủy thác của Chính

quyền thành phố để tránh rủi ro cho hoạt động. Theo đó ngân sách thành phố

sẽ ủy thác vốn cho Quỹ để thực hiện cho vay ngắn hạn và cần có thỏa thuận

về trách nhiệm chịu rủi ro của khoản vốn cho vay để có cơ sở xây dựng mức

phí ủy thác hợp lý với trách nhiệm chịu rủi ro.

3.2.2. Chú trọng triển khai hoạt động đầu tư trực tiếp

Tuy đã hoạt động hơn 4 năm, nhưng cho đến nay Ủy ban nhân thành

phố vẫn chưa đồng ý chủ trương cho phép Quỹ trực tiếp đầu tư các dự án cơ

sở hạ tầng của thành phố do chưa có đủ các điều kiện về nhân lực cũng như

nguồn vốn. Trong hồn cảnh đó, để triển khai hoạt động đầu tư trực tiếp Quỹ



72

cần lựa chọn một hình thức hoạt động đầu tư trực tiếp phù hợp với khả năng

hiện tại của Quỹ. Để thực hiện vai trò là chủ thể khởi xướng, dẫn dắt các hoạt

động đầu tư, tạo tiền đề cho việc thực hiện xã hội hoá đầu tư tại địa phương,

Quỹ cần sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu của Quỹ như là một khoản “vốn mồi”

để thu hút các nguồn vốn khác tham gia vào các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng

địa phương. Quỹ có thể thực hiện hình thức đầu tư trực tiếp thơng qua việc

góp vốn với vai trò là cổ đơng chi phối và sáng lập để thành lập các doanh

nghiệp mới tham gia đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội có

tính chất quan trọng tại địa phương. Hình thức này còn nhằm mục đích xã hội

hóa đầu tư, thu hút các nguồn vốn vào việc phát triển đơ thị qua việc hình

thành một đơn vị có chun mơn và năng lực. Đối tượng đầu tư là các dự án

nằm trong kế hoạch đầu tư của địa phương, có tính chất quan trọng,có tính

cấp bách, có khả năng thu hồi vốn, có hiệu quả kinh tế mà ngân sách không

nhất thiết đầu tư. Với vai trò là nhà đầu tư mở đường, khi thành lập các công

ty này Quỹ chỉ cần tham gia vốn không q 30% vốn điều lệ cơng ty, phần

còn lại huy động từ các cá nhân và tổ chức khác. Như vậy việc hình thành

cơng ty đáp ứng được vốn đối ứng là 30%, qua đó tiếp tục huy động 70% vốn

còn lại để thực hiện dự án. Hiệu quả đầu tư dựa theo phương thức này còn

được mở rộng và phát triển hơn khi các công ty cổ phần này lớn mạnh, lại tiếp

tục tham gia đầu tư vào nhiều dự án kết cấu hạ tầng khác. Qua đó một đồng

vốn đầu tư của Quỹ được khai thác triệt để và đem lại hiệu quả lớn hơn rất

nhiều lần, đồng thời góp phần giải quyết bài tốn vốn cho một số dự án quan

trọng của địa phương không nhất thiết phải đầu tư bằng vốn của ngân sách

nhà nước. Bên cạnh đó, sự tham gia của Quỹ với vai trò cổ đông sáng lập và

chi phối trong quản lý điều hành ở nhiều mức độ khác nhau sẽ đảm bảo các

doanh nghiệp này sẽ phát triển đúng định hướng, chính sách , kế hoạch phát

triển kinh tế xã hội từng thời kỳ của địa phương. Hình thức này đã được Quỹ



73

đầu tư phát triển đơ thị thành phố Hồ Chí Minh (HIFU)(nay là Cơng ty đầu tư

tài chính nhà nước thành phố Hồ Chí Minh (HFIC)) thực hiện thành cơng,

điển hình tại Cơng ty Hạ tầng kỹ thuật đơ thị thành phố Hồ Chí Minh(CII).

Với phần vốn thực góp là 45 tỷ đồng, HIFU đã huy động thêm vốn từ các

thành phần kinh tế khác hình thành cơng ty với mức vốn điều lệ khoảng 400

tỷ đồng và huy động vốn khoảng 460 tỷ đồng, trong đó 80% là vốn trung và

dài hạn. Bình quân 1 đồng vốn của HIFU đầu tư vào CII có thể huy động

được khoảng 152 đồng vốn đầu tư khác của xã hội thông qua hoạt động của

CII. Mặt khác CII tiếp tục đầu tư vào một số dự án khác như dự án cầu Phú

Mỹ, dự án nhà máy nước Thủ Đức... sẽ huy động thêm một số nguồn khác,

mang ý nghĩa vừa giảm nhẹ gánh nặng ngân sách vừa giúp cho địa phương đủ

lực đầu tư các dự án lớn trên địa bàn.

Khi có đủ điều kiện về nhân lực và nguồn lực và cơ chế cho phép, Quỹ

có thể thực hiện đầu tư trực tiếp các dự án cơ sở hạ tầng theo các hình thức

đầu tư BOT, BT, trên cơ sở thu hút nguồn vốn đầu tư của khu vực tư nhân

thơng qua chính sách hợp tác cơng-tư (PPP) tại địa phương.

“Hợp tác công – tư là việc nhà nước và tư nhân cùng thực hiện dự án

đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và cung cấp dịch vụ công. Đặc

điểm của hợp tác công tư là đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi hài hòa giữa các

bên tham gia, có sự tham gia của nhà nước, khả thi về mặt tài chính, khơng

làm tăng nợ cơng.”6

Hợp tác cơng - tư được hình thành trên cơ sở kết hợp lợi thế của khu

vực nhà nước và khu vực tư nhân trong từng lĩnh vực cụ thể nhằm tận dụng

thế mạnh của mỗi khu vực, bổ sung cho nhau tạo ra hiệu quả tổng hợp trong

quá trình cung cấp dịch vụ cơng. Lợi ích từ hợp tác cơng - tư mang lại đó là

tận dụng được sự năng động, sáng tạo và hiệu quả từ khu vực tư nhân do khu

vực tư nhân được tự chủ trong việc cung cấp sản phẩm đầu ra theo đặt hàng

6



[17]



74

của nhà nước; Tối ưu hóa chi phí của dự án, huy động được nhiều nguồn lực

từ tư nhân tham gia đầu tư vào các dự án hạ tầng, qua đó giảm áp lực cho

ngân sách, giảm áp lực nợ công.

Do nguồn vốn luôn hạn chế so với nhu cầu nên đối với hoạt động đầu

tư trực tiếp Quỹ cần xây dựng cơ chế đầu tư và thoái vốn linh hoạt nhằm đảm

bảo phân tán rủi ro và tăng sự quay vòng của đồng vốn để tập trung vào các

dự án kết cấu hạ tầng chủ chốt và quan trọng của địa phương.

3.2.3. Đẩy mạnh cơng tác tìm kiếm và mở rộng hoạt

động quản lý vốn ủy thác

Trong thời gian qua, Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng còn hạn

chế khả năng khai thác các nguồn vốn thông qua hoạt động quản lý vốn ủy

thác từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Theo xu hướng chuyên

nghiệp hoá trong hoạt động quản lý và đầu tư ngày càng tăng, nhu cầu thực

hiện ủy thác quản lý nguồn vốn của các cá nhân, tổ chức cũng tăng theo. Do

vậy với vai trò là một tổ chức tài chính hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh

vực đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, Quỹ cần chủ động khai thác và mở

rộng các hoạt động quản lý vốn ủy thác tại địa phương bằng cách đề xuất

chính quyền địa phương cho phép Quỹ được quản lý uỷ thác các nguồn vốn

của các Quỹ tài chính nhà nước trên địa bàn đã và đang thành lập như Quỹ

phát triển nhà ở, Quỹ bảo lãnh doanh nghiệp vừa và nhỏ; Quỹ phát triển khoa

học và công nghệ... nhằm tập trung tối đa nguồn vốn hoạt động cho Quỹ để

đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của địa phương. Đồng thời đề nghị Uỷ ban

nhân dân thành phố uỷ thác cho Quỹ cấp phát nguồn vốn đầu tư cho các cơng

trình dự án thực hiện bằng vốn NSNN để nâng cao hiệu quả quả lý nguồn vốn

đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cũng như củng cố và tăng cường kinh

nghiệm cho cán bộ nghiệp vụ .

Đối tượng quản lý vốn ủy thác của Quỹ ngồi chính quyền địa phương



75

còn có các tổ chức, cá nhân trong và ngồi nước. Để thu hút được các nguồn

vốn này, Quỹ cần chủ động nâng cao tính chuyên nghiệp bằng cách thành lập

một bộ phận chuyên nghiệp quản lý nguồn vốn uỷ thác để chứng minh khả

năng thực hiện nhiệm vụ của mình. Khi tham gia hoạt động quản lý vốn ủy

thác, Quỹ được hưởng phí quản lý vốn ủy thác, trường hợp hiệu quả đầu tư

cao, Quỹ được thưởng trên cơ sở hiệu quả tài chính dự án hoặc theo cam kết

với tổ chức ủy thác quản lý vốn tại hợp đồng quản lý vốn ủy thác.

3.2.4. Thực hiện huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu

Với đặc thù không thực hiện huy động vốn ngắn hạn của các cá nhân,

tổ chức trong nền kinh tế, phát hành trái phiếu là kênh quan trọng để huy

động vốn trung và dài hạn của Quỹ đầu tư phát triển địa phương. Tuy nhiên,

theo quy định, Quỹ ĐTPTĐP được quyền phát hành trái phiếu quỹ, nhưng

khung pháp lý hiện hành chưa cho phép Quỹ ĐTPTĐP phát hành trái phiếu để

huy động vốn cho mình như là một doanh nghiệp. Do vậy, trong khi chờ

Chính phủ ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể việc phát hành trái phiếu

cho các Quỹ ĐTPTĐP, Quỹ có thể thực hiện việc huy động vốn thơng qua thị

trường trái phiếu bằng các hình thức gián tiếp. Các phương thức gián tiếp có

thể thực hiện như góp vốn cùng với các tổ chức khác để thành lập công ty và

bản thân các công ty này sẽ trực tiếp phát hành trái phiếu hoặc bằng cách

nhận ủy thác phát hành trái phiếu chính quyền địa phương.

Đối với phương thức góp vốn thành lập cơng ty và sử dụng cơng ty này

tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp có ý nghĩa trong trường hợp để tài

trợ tài chính cho một dự án cơ sở hạ tầng theo mơ hình hợp tác công – tư

nhằm xây dựng và khai thác một cơng trình được giao thực hiện. Với phương

thức này sẽ giúp Quỹ huy động được nguồn vốn để đầu tư phát triển hạ tầng

nhưng sẽ phát sinh khó khăn là phải đảm bảo để trái phiếu trở nên hấp dẫn đối

với nhà đầu tư, và khi đó chi phí vay nợ có thể cao hơn nhiều và điều này sẽ



76

dẫn đến rủi ro. Mặt khác với vai trò là chủ sở hữu của công ty, kết quả hoạt

động kinh doanh của công ty sẽ ảnh hưởng đến phần vốn góp của Quỹ.

Trong trường hợp Ủy ban nhân dân thành phố chỉ định Quỹ thực hiện

đầu tư các dự án và sẵn sàng chấp nhận các rủi ro của các dự án này như các

dự án nhà ở xã hội Quỹ có thể nghiên cứu đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố

cho phát hành trái phiếu chính quyền địa phương theo hình thức trái phiếu nợ

chung hoặc trái phiếu doanh thu và đảm nhận việc thu nguồn vốn từ việc phát

hành đó dưới dạng ủy thác để thực hiện đầu tư các dự án theo chỉ định. “Trái

phiếu nợ chung là loại trái phiếu được phát hành chủ yếu dựa trên sự tin cậy

của nhà đầu tư đối với nhà phát hành. Trái phiếu này thường được chính

quyền địa phương phát hành nhằm cung cấp nguồn tài chính cho việc cải tạo,

nâng cấp cơ sở hạ tầng” 7. Do vậy bên cạnh việc đảm bảo mức sinh lời hợp lý

cho nhà đầu tư, trái phiếu loại này còn có ý nghĩa hỗ trợ nhà nước thực hiện

các dự án vì lợi ích cơng cộng. Trái phiếu nợ chung được bảo đảm hoàn trả

bằng ngân sách địa phương. Lãi suất tùy thuộc vào kỳ hạn của trái phiếu và

lãi suất ngân hàng. “Trái phiếu doanh thu là loại trái phiếu được phát hành

để thu hút vốn đầu tư cho các dự án, cơng trình cụ thể có sinh lãi. Mức lãi

suất tùy thuộc vào hiệu quả của dự án mang lại. Nguồn hoàn trả được bảo

đảm từ thu nhập của dự án. Kỳ hạn trái phiếu phụ thuộc vào thời gian đầu tư

và thu hồi vốn của dự án”8.

Với hình thức nhận ủy thác phát hành trái phiếu chính quyền địa

phương, nguồn vốn huy động này được Quỹ thay mặt chính quyền địa

phương để đầu tư vào các dự án cụ thể, nguồn vốn này không nằm trong

nguồn vốn hoạt động của Quỹ và Quỹ không chịu trách nhiệm gánh chịu rủi

ro. Hiện tại một số các thành phố đã thực hiện phương thức này như Thành

phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai...thực hiện uỷ thác phát hành trái phiếu

đơ thị cho chính quyền địa phương, từng bước tạo dựng hình ảnh, uy tín để

7

8



[13]

[13]



77

tiến tới thực hiện phát hành trái phiếu Quỹ hoặc trái phiếu cơng trình để khai

thác tối đa các nguồn vốn trung và dài hạn trên địa bàn.

Một phương án khác để huy động vốn từ thị trường trái phiếu đó là

Chính quyền địa phương phát hành trái phiếu dự án cho các dự án được giao

cho Quỹ và cho Quỹ vay lại toàn bộ số tiền này. Phương án này khác với

phương án ủy thác phát hành trái phiếu cho Quỹ. Theo phương án này, Quỹ

có quyền chủ động lựa chọn những dự án khả thi trong danh mục dự án được

giao và Chính quyền địa phương sẽ phát hành trái phiếu cho những dự án này.

Nguồn vốn huy động được sẽ được Chính quyền địa phương cho Quỹ vay lại

nên nó nằm trong nguồn vốn hoạt động của Quỹ và Quỹ chịu rủi ro từ nguồn

vốn huy động này.

Lợi ích của việc phát hành trái phiếu đó là quy mơ huy động vốn lớn nhờ

khả năng huy động rộng rãi trong cộng đồng; có thời gian vay tương đối dài ; chi

phí rẻ hơn so với nguồn vay từ ngân hàng thương mại; nhờ đó đáp ứng nhu cầu

vốn tài trợ cho các dự án. Mặt khác, việc phát hành trái phiếu tạo áp lực cho Quỹ

đầu tư phát triển địa phương phải tự nâng cao khả năng quản trị, tăng cường tính

minh bạch, nâng cao uy tín để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư.

Khi thực hiện phát hành trái phiếu, Quỹ cần tính tốn xây dựng kế

hoạch cho các luồng tiền vào và ra, trong đó xác định được quy mô và thời

hạn trái phiếu phải gắn với kế hoạch đầu tư trong từng giai đoạn cụ thể. Do

các dự án kết cấu hạ tầng đòi hỏi lượng vốn lớn và thời kỳ chuẩn bị dự án dài

nên trái phiếu có kỳ hạn 10-15 năm hoặc hơn nữa là phù hợp. Đặc biệt phải

xác định mức lãi suất của trái phiếu cho phù hợp để hấp dẫn nhà đầu tư,

thường phải cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng có cùng kỳ hạn và lãi suất trái

phiếu chính phủ. Quỹ cần phải có phương án sử dụng vốn linh hoạt để khai

thác tối đa hiệu quả vốn huy động, tránh lãng phí chi phí huy động vốn khơng

cần thiết.



78



1) Quỹ ĐTPTĐP tự phát hành trái phiếu

của Quỹ (chưa rõ loại trái phiếu nào )

NĐT trái phiếu



2) Quỹ ĐTPTĐP sử dụng công ty

TNHH để phát hành trái phiếu

(Trái phiếu doanh nghiệp)

NĐT trái phiếu



Quỹ ĐTPTĐP



Quỹ ĐTPTĐP



Dự án



Có thể là

các NĐT

khác



Cơng ty TNHH



3) Quỹ ĐTPTĐP nhận vốn ủy thác từ việc phát hành trái phiếu của

UBND cấp tỉnh (khôngthuộc vốn hoạt động của Quỹ)

(Trái phiếu chính quyền

địa phương)

Quỹ ĐTPTĐP



NĐT trái phiếu



Dự án



Dự án



UBND cấp tỉnh



Sơ đồ 3.1. Các phương án phát hành trái phiếu hỗ trợ phát triển hoạt

động Quỹ ĐTPTĐP



(Nguồn Vụ tài chính ngân hàng, Bộ Tài chính)



3.2.5. Đẩy mạnh việc huy động nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất

hợp lý từ các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới WB,

Cơ quan phát triển Pháp(AFD)

Phát triển cơ sở hạ tầng ln đòi hỏi nguồn vốn lớn trong khi thời gian

thu hồi vốn dài nên việc tìm kiếm nguồn tài chính thích hợp là chìa khóa

thành cơng của dự án. Nếu khơng có nguồn tài trợ dài hạn lãi suất thấp thì chi

phí cho cơ sở hạ tầng sẽ trở thành gánh nặng rất lớn vì phải trả nợ trong ngắn

hạn. Trong khi đó khả năng thu hồi còn phụ thuộc vào khả năng đáp ứng của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×