Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

27

dần thực hiện theo các nguyên tắc thị trường, đảm bảo nguồn vốn để đẩy

nhanh tiến độ thi công các cơng trình trọng điểm có tác động đến phát triển

kinh tế của thành phố, nhiều cơng trình có qui mơ đầu tư lớn được hoàn

thành đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả. Một phần vốn từ ngân sách hoặc

có nguồn gốc từ ngân sách đã được dành để hỗ trợ cho các doanh nghiệp

thành phố có điều kiện phát triển sản xuất - kinh doanh và ưu tiên cho lĩnh

vực xuất khẩu, đây là nỗ lực lớn của thành phố trong điều kiện ngân sách

còn khó khăn.

Bên cạnh những mặt làm được, đầu tư phát triển ở thành phố Đà Nẵng

vẫn còn những mặt hạn chế, trong đó việc huy động các nguồn lực tài chính

cho đầu tư phát triển chưa đáp ứng so với nhu cầu của thành phố, chủ yếu là

nguồn NSNN, các nguồn khác đạt thấp; Chưa sử dụng một cách đầy đủ các

công cụ huy động vốn để tập trung tối đa mọi nguồn lực trong xã hội cho đầu

tư phát triển, những công cụ hiện có hiệu quả cũng còn hạn chế, như: nguồn

vốn tín dụng chủ yếu là vốn ngắn hạn, vốn trung và dài hạn cung ứng không

đủ nhu cầu, hệ thống doanh nghiệp còn nhiều yếu kém…; Chưa xây dựng

chiến lược đầu tư dài hạn để hình thành hệ thống các biện pháp huy động vốn

đầu tư tổng hợp, nên chưa tập trung được các nguồn lực cho từng thời kỳ.

Việc phân bổ sử dụng vốn theo các mục tiêu phát triển xã hội còn lúng túng

trong thực hiện; Việc triển khai phương thức đầu tư mới kêu gọi tư nhân đầu

tư vào cơ sở hạ tầng như hợp tác công tư(PPP), BOT,BTO, BT chưa được

quan tâm chú ý.



28

Bảng 2.1. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

giai đoạn 2006-2010

ĐVT: tỷ đồng

Chi tiêu



2006



1.Tổng vốn

đầu tư phát

triển trên địa

bàn

2. Tổng vốn

ĐTPT huy

động trong

nước

Vốn ngân sách

nhà nước

Vốn tín dụng

đầu tư phát

triển

Vốn tự có (vốn

dân cư và

doanh nghiệp

trong nước)

Vốn khác

3. Vốn đầu tư

nước ngồi



2007



2008



2009



2010



2006-2010



Bình

qn %



9.155,00 11.781,50 14.228,38 16.822,27 21.623,13 73.610,28 23.97%



8.280,00 10.499,00 12.088,68 14.884,89 19.249,70



65.002,27 23,48%



2.637,00 3.231,00



2.681,00



3.858,00



6.193,00



18.600,00 23,79%



2.276,00



3.328,59



5.667,79



7.268,85



20.945,23 31,87%



2.873,70 4.003,00



3.948,45



4.118,03



3.935,35



18.878,53



8,18%



2.404,00



365,30



989,00



2.130,64



1.241,07



1.852,50



6.578,51



50,06%



875



1.282,5



2.139,7



1.937,38



2.373,43



8.608,01



28,33%



(Nguồn: Niên giám thống kê, Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng)

2.1.2. Sự ra đời và cơ cấu tổ chức của Quỹ đầu tư phát triển thành phố

Đà Nẵng

Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc huy động

vốn để thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là đầu tư phát triển hệ thống kết

cấu hạ tầng, cần phải có một cơng cụ tài chính riêng để thực hiện việc tập

trung các nguồn lực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội của địa phương,

Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã ban hành Quyết định số 7977/QĐUBND ngày 9 tháng 10 năm 2007 thành lập Quỹ đầu tư phát triển thành phố

Đà Nẵng.



29

Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng ( gọi tắt là Quỹ) là một tổ

chức tài chính Nhà nước của địa phương; thực hiện chức năng đầu tư tài chính

và đầu tư phát triển. Quỹ có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân

đối kế tốn riêng, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và

các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Hoạt động của Quỹ thực hiện theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, bảo

tồn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chịu rủi ro. Quỹ chịu trách

nhiệm hữu hạn trong phạm vi nguồn vốn chủ sở hữu của Quỹ. Ngân sách

khơng cấp kinh phí cho hoạt động bộ máy của Quỹ.

Sở Tài chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài chính; giám

sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động của Quỹ. Uỷ ban nhân dân thành phố quyết

định việc thành lập Quỹ và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền.

Vốn điều lệ của Quỹ là 200 tỷ đồng, được cấp từ ngân sách thành phố

theo kế hoạch phân bổ cho từng năm từ 2007 đến 2010. Ngân sách cấp đủ 100

tỷ đồng để hoạt động ngay sau khi Quỹ được thành lập. Ngoài ra, vốn điều lệ

của Quỹ được bổ sung hằng năm trực tiếp từ các khoản tiền đóng góp tự

nguyện, các khoản viện trợ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài

nước, khoản lợi nhuận tích lũy sau thuế từ hoạt động của Quỹ.

Quỹ được huy động vốn trung và dài hạn của các tổ chức cá nhân trong

và ngoài nước để đầu tư cho các dự án theo quy định hiện hành của Nhà nước.

Quỹ được nhận vốn ủy thác từ ngân sách nhà nước, các tổ chức và cá nhân

trong và ngoài nước.

Hoạt động của Quỹ là huy động vốn trung và dài hạn của các cá nhân,

tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; Hoạt động đầu tư

bao gồm đầu tư trực tiếp các dự án, cho vay đầu tư, góp vốn thành lập doanh

nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội;

Thực hiện ủy thác cho vay đầu tư, thu hồi nợ; nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn

đầu tư, cho vay đầu tư, thu hồi nợ, cấp phát vốn đầu tư, phát hành trái phiếu



30

chính quyền địa phương để huy động vốn cho ngân sách địa phương theo ủy

quyền của Ủy ban nhân dân thành phố.

Nhiệm vụ của Quỹ là thực hiện đầu tư trong phạm vi kế hoạch và cơ

cấu đầu tư theo phê duyệt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp thành phố hàng

năm. Việc đầu tư thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, sử dụng vốn

đầu tư đúng mục đích, đúng đối tượng, có hiệu quả theo các mục tiêu kinh tế

xã hội của thành phố đề ra, đảm bảo an toàn và phát triển vốn; Thực hiện

đúng chế độ kế toán, thống kê và báo cáo tài chính theo quy định của pháp

luật; Chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm

quyền theo luật định; cung cấp số liệu, cơng bố cơng khai về tình hình tài

chính theo quy định của pháp luật; Mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm rủi ro và

các loại bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật; Chấp hành nghiêm chỉnh

pháp luật của Nhà nước và các quy định khác có liên quan đến hoạt động của

Quỹ đầu tư phát triển địa phương.

Quỹ được thực hiện các hoạt động phù hợp với mục tiêu và phạm vi

hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương theo quy định của nhà nước;

Được lựa chọn các dự án có hiệu quả phù hợp với kế hoạch và cơ cấu đầu tư

của Ủy ban nhân cấp tỉnh để quyết định đầu tư, trường hợp đặc biệt do Ủy

ban nhân dân thành phố quyết định; Được tuyển chọn, bố trí, sử dụng, đào tạo

lao động và sử dụng lao động theo quy định của pháp luật; Được từ chối mọi

yêu cầu của bất cứ cá nhân hay tổ chức nào về việc cung cấp thông tin và các

nguồn lực khác của Quỹ đầu tư phát triển địa phương, nếu yêu cầu đó trái với

quy định của pháp luật và trái với Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu

tư phát triển địa phương; Được liên hệ với các ngành chức năng, các đơn vị

có liên quan trên địa bàn để tìm kiếm, xây dựng các dự án đầu tư; Được mời

và tiếp các đối tác đầu tư, kinh doanh nước ngoài, được cử cán bộ và nhân

viên của Quỹ đầu tư phát triển địa phương ra nước ngồi cơng tác, học tập,

tham quan, khảo sát theo quy định của pháp luật.



31

Cơ cấu tổ chức bộ máy của Quỹ gồm có Hội đồng quản lý Quỹ, Ban

kiểm soát và bộ máy điều hành.

Hội đồng quản lý



Ban tổng giám đốc



Ban kiểm sốt



Phòng thẩm định



Phòng kế hoạch



Phòng đầu tư



Phòng tài chính kế tốn



Văn phòng



( Nguồn Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng)

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu bộ máy tổ chức của Quỹ đầu tư phát triển

thành phố Đà Nẵng

Hội đồng quản lý Quỹ là cơ quan quản lý Quỹ, do Chủ tịch Ủy ban

nhân dân thành phố quyết định thành lập, gồm từ 5 đến 7 thành viên, do Chủ

tịch Ủy ban nhân dân thành phố làm Chủ tịch Hội đồng quản lý, Giám đốc Sở

Tài chính làm Phó chủ tịch thường trực hội đồng, các thành viên còn lại là

Giám đốc Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng, Giám đốc Sở Kế hoạch

và Đầu tư, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo một số cơ quan liên

quan. Ngoại trừ một thành viên Hội đồng quản lý kiêm nhiệm giám đốc Quỹ,

các thành viên khác không được kiêm nhiệm bất kỳ nhiệm vụ nào khác trong

Quỹ. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thành viên

Hội đồng quản lý do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố quyết định. Nhiệm

kỳ của thành viên Hội đồng quản lý là 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại

với số nhiệm kỳ không hạn chế.

Nhiệm vụ của Hội đồng quản lý Quỹ là xem xét và thông qua phương

hướng hoạt động, kế hoạch huy động vốn, kế hoạch đầu tư, kế hoạch tài chính



32

dài hạn và hàng năm để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;

Thẩm tra và thơng qua báo cáo quyết tốn của Quỹ đầu tư phát triển địa

phương; Giám sát, kiểm tra bộ máy điều hành của Quỹ đầu tư phát triển địa

phương trong việc chấp hành các chính sách và pháp luật, thực hiện các quyết

định của Hội đồng quản lý; Xem xét, thông qua khung lãi suất cho vay đầu tư

trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt; Xem xét, quyết định đầu tư

đối với các dự án thuộc thẩm quyền; Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết

định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát

triển địa phương cho phù hợp với yêu cầu thực tế và các quy định hiện hành

của pháp luật; Xem xét, giải quyết các khiếu nại của các tổ chức, cá nhân có

liên quan đến hoạt động của Quỹ theo quy định của pháp luật; Trình Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng Ban Kiểm

soát quỹ đầu tư phát triển địa phương; quyết định các thành viên khác của Ban

Kiểm soát theo đề nghị của Trưởng Ban Kiểm soát; Ban hành Quy chế hoạt

động, phân công nhiệm vụ đối với các thành viên của Hội đồng quản lý; Ban

hành quy chế hoạt động nghiệp vụ của Quỹ đầu tư phát triển địa phương trên

cơ sở đề nghị của Giám đốc Quỹ; và thực hiện các quyền khác theo quy định

tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương.

Ban kiểm sốt có 5 thành viên, trong đó có 1 trưởng ban và 1 thành viên

chuyên trách, 3 thành viên kiêm nhiệm là cán bộ của Ngân hàng nhà nước

thành phố, Sở Kế hoạch đầu tư và Sở Tài chính. Ban kiểm sốt có trách nhiệm

kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách chế độ và nghiệp vụ hoạt động

của Quỹ nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động và an toàn tài sản của Quỹ; Lập kế

hoạch thực hiện và báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về công tác giám sát, kiểm

tra trước Hội đồng quản lý. Trưởng Ban Kiểm sốt có quyền đề nghị Chủ tịch

Hội đồng quản lý hoặc trong trường hợp không được Chủ tịch Hội đồng quản

lý chấp thuận thì đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố triệu tập phiên

họp bất thường để báo cáo những vấn đề khẩn cấp làm phương hại đến hoạt

động của Quỹ; Trình bày báo cáo, kiến nghị của mình về kết quả kiểm sốt, kết



33

quả thẩm định về quyết tốn tài chính tại các cuộc họp của Hội đồng quản lý

nhưng không tham gia biểu quyết. Các thành viên Ban Kiểm soát được hưởng

phụ cấp và các quyền lợi khác theo quy định của Hội đồng quản lý.

Bộ máy điều hành của Quỹ gồm Giám đốc, các phó giám đốc và các

Phòng, Ban nghiệp vụ. Giám đốc Quỹ là Uỷ viên của Hội đồng quản lý do

Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố bổ nhiệm, là người đại diện pháp nhân

của Quỹ, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân thành phố, Hội đồng quản

lý và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của Quỹ. Phó Giám đốc

và kế tốn trưởng do Giám đốc Quỹ đề nghị Hội đồng quản lý xem xét, trình

Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm.

Các Phòng, Ban Nghiệp vụ của Quỹ do Hội đồng quản lý quyết định thành

lập hoặc giải thể theo đề nghị của Giám đốc Quỹ.

Việc thành lập Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng sẽ tạo ra thêm

kênh huy động và đáp ứng một phần nhu cầu vốn cho những dự án đầu tư

trọng điểm, góp phần thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế-xã

hội của thành phố, sẽ tạo ra nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn để phát triển

kinh tế - xã hội của thành phố. Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng là

cơng cụ tài chính đắc lực để chính quyền địa phương có thể khai thác tối đa

các nguồn lực tài chính trong và ngồi nước; tạo ra các biện pháp huy động

vốn nhàn rỗi còn riêng lẻ, phân tán trong xã hội một cách phù hợp để tập

trung thành một nguồn vốn đầu tư lớn và sẽ được sử dụng có hiệu quả.

Việc hình thành Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng là điều kiện

để huy động, kêu gọi các nhà doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các tổ chức tài

chính trong và ngồi nước tham gia đóng góp vốn đầu tư, tạo cho thành phố

chủ động về nguồn vốn để tính tốn đầu tư cho những ngành, lĩnh vực theo

quy hoạch đã phê duyệt. Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng sẽ thực sự

là mơ hình vốn Nhà nước(NN) và Doanh nghiệp(DN) cùng đầu tư và cả hai

đều cùng hưởng lợi. Với hình thức này, Nhà nước khơng nhất thiết phải bỏ

tồn bộ vốn đầu tư, trách nhiệm rủi ro về đầu tư được chuyển một phần sang



34

cho tư nhân, mà xã hội có thêm nhiều cơ hội được phục vụ thông qua sản

phẩm của dự án. Có thể nói, mơ hình này hồn tồn phù hợp với chủ trương

chính sách của Chính phủ là phải xây dựng được cơ chế chính sách động viên,

phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính có hiệu quả, khai thông các nguồn

nội lực... Đồng thời khuyến khích đa dạng hố các nguồn vốn cho đầu tư phát

triển nhằm xây dựng một thị trường tài chính hiện đại.

2.2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ

PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.2.1. Đáng giá chung tình hình hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển

thành phố Đà Nẵng trong 4 năm qua(2008-2011).

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu chính hoạt động Quỹ đầu tư phát triển thành

phố Đà Nẵng (2008-2011)

ĐVT: triệu đồng



Các chỉ tiêu chính

Đầu tư góp vốn thành lập DN

Số dự án cho vay

Hạn mức cho vay

Tổng vốn đầu tư của các dự án

Hạn mức cho vay /Tổng vốn đầu tư DA(%)

Dư nợ cho vay

Dư nợ / Tổng vốn hoạt động(%)

Dư nợ bình quân/1 dự án

Vốn chủ sở hữu(CSH)

Vốn huy động

Vốn hoạt động

Vốn vay/Vôn hoạt động(%)

Vốn CSH/ Dư nợ+Vốn góp đầu tư(%)

Vốn nhận ủy thác

Doanh thu

Chi phí

Thuế thu nhập

Lợi nhuận sau thuế

Tỷ suất sinh lời /vốn hoạt động(%)

Nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn/Dư nợ (%)



2008

3.750

17

145.208

1.026.713

14%

102.561

43.40%

6.033

236.299

0

236.299

0

222%

0

6.348

2.394

1.107

2.847

1

0

0%



2009

48.726

16

68.529

648.435

11%

108.743

36.19%

6.796

300.449

0

300.449

0

191%

0

12.080

2.072

1.747

8.261

3

0

0%



2010

48.726

21

91.117

563.763

16%

91.606

28.43%

4.362

322.203

0

322.203

0

230%

32

22.842

2.989

4.808

15.044

5

0

0%



2011

48.726

20

177.936

554.810

32%

130.089

33.15%

6.504

362.645

29.825

392.470

8%

203%

50

49.040

4.714

9.633

34.693

9

0

0%



( Nguồn: Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng)



35

Sau khi được thành lập, Quỹ đầu tư phát triển Đà Nẵng đã được Ngân

sách thành phố đã cấp 100 tỷ đồng vốn điều lệ, tạo điều kiện thuận lợi để có

thể đi ngay vào hoạt động. Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ là lãnh đạo Ủy ban

nhân dân thành phố nên hoạt động của Quỹ đã có sự chỉ đạo kịp thời của

chính quyền thành phố trong giai đoạn đầu mới thành lập còn có nhiều khó

khăn. Sau 4 năm hoạt động (2008-2011) vốn hoạt động của Quỹ đã tăng

trưởng đáng kể với mức tăng trưởng bình quân là 18,73%. Ngoài việc bổ sung

thêm vốn điều lệ cho Quỹ từ nguồn vốn ngân sách là 100 tỷ đồng, Chính

quyền địa phương bổ sung vốn hoạt động cho Quỹ bằng cách gom các nguồn

vốn nhà nước nhỏ lẻ tại các doanh nghiệpđược cổ phần hóa từ các doanh

nghiệp nhà nước trên địa bàn chuyển về cho Quỹ quản lý và sử dụng với số

vốn hơn 48 tỷ đồng. Mặt khác, lợi nhuận sau thuế của Quỹ tăng trưởng mạnh

qua 4 năm hoạt động và cũng là nguồn bổ sung đáng kể vốn hoạt động cho

Quỹ trong thời gian qua. Đặc biệt hoạt động huy động vốn từ các tổ chức tài

chính quốc tế như Ngân hàng thế giới, Cơ quan phát triển Pháp...được triển

khai tích cực ngay tư khi Quỹ mới thành lập và đến cuối năm 2010 Quỹ đã

chính thức ký hợp đồng vay lại Bộ Tài chính số tiền là 60 tỷ đồng từ nguồn

vốn do Ngân hàng thế giới tài trợ và thực hiện giải ngân trong năm 2011 số

vốn gần 30 tỷ đồng, bước đầu đã chứng minh Quỹ thật sự đang dần trở thành

công cụ huy động vốn hữu hiệu cho đầu tư phát triển địa phương.

Hoạt động cho vay là hoạt động chính của Quỹ từ khi thành lập đến

nay, đối tượng cho vay chủ yếu là các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng theo quyết

định phê duyệt của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng. Quy trình phê

duyệt và thẩm định dự án được Quỹ thực hiện rất chặt chẽ, theo đó Quỹ trình

Hội đồng quản lý thơng qua danh mục các dự án do Quỹ xúc tiến cho vay.

Sau đó Hội đồng quản lý trình ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt các dự

án đã được Hội đồng quản lý thông qua. Ủy ban nhân dân thành phố sẽ ban



36

hành quyết định phê duyệt sau khi có ý kiến chấp thuận cho vay của Hội đồng

nhân dân thành phố. Mặt khác, do Quỹ mới đi vào hoạt động mới 4 năm nên

chưa xảy ra tình trạng nợ quá hạn. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của Quỹ qua các

năm đều rất lớn cho thấy rủi ro hoạt động đầu tư của Quỹ đang rất thấp. Tuy

nhiên, hoạt động cho vay đầu tư vẫn còn những hạn chế nhất định. Quỹ chưa

chủ động thực hiện cho vaycác dự án theo đúng thẩm quyền do nhà nước quy

định chưa được. Quy trình phê duyệt cho vay các dự án còn qua nhiều khâu,

kéo dài làm mất cơ hội hoạt động của Quỹ. Tổng số dự án cho vay vẫn còn

hạn chế, trong 4 năm số dự án cho vay là 74 dự án, số dư nợ còn chiếm tỷ lệ

thấp so với tổng vốn hoạt động. Hoạt động quản lý vốn ủy thác cũng như ủy

thác vốn còn chưa chủ động triển khai mà chỉ thực hiện tạm ứng vốn ngân

sách để cho các doanh nghiệp vay hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu. Hoạt động

đầu tư góp vốn thành lập doanh nghiệp còn chưa được chính quyền địa

phương chấp thuận về chủ trương, tuy nhiên, Quỹ đã được Ủy ban nhân dân

thành phố chuyển giao quyền quản lý phần vốn nhà nước tại các doanh

nghiệp cổ phần hóa địa phương, tạo điều kiện cho Quỹ nâng cao năng lực

hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp.

Tuy hoạt động của Quỹ khơng vì mục tiêu lợi nhuận, nhưng chỉ tiêu lợi

nhuận trong những năm qua đã phản ánh một phần hiệu quả hoạt động của

Quỹ. Lợi nhuận hoạt động của Quỹ tăng trưởng khá nhanh cùng với đó tỷ suất

sinh lợi trên vốn hoạt động theo chiều hướng ngày càng tăng lên.

Tóm lại, từ khi thành lập đến nay, Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà

Nẵng đã có bước phát triển trong hoạt động huy động vốn và hoạt động sử

dụng vốn cho vay các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn

thành phố, dần thể hiện vai trò là cơng cụ tài chính của chính quyền địa

phương trong việc huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên do mới

thành lập còn nhiều khó khăn và hạn chế nên một số hoạt động cho đến nay



37

vẫn chưa triển khai được như đầu tư trực tiếp các dự án, quản lý vốn ủy thác,

cho vay hợp vốn...

2.2.2. Hoạt động đầu tư

Hoạt động đầu tư bao gồm hoạt động cho vay đầu tư, hoạt động đầu tư

trực tiếp vào các dự án, hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp. Trong thời

gian qua, Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng thực hiện chủ yếu là hoạt

động cho vay các dự án, trong đó ưu tiên cho các dự án phát triển hạ tầng kinh

tế - xã hội, các dự án hỗ trợ dịch vụ y tế, giáo dục,..Với khả năng về nguồn vốn

còn hạn chế, Quỹ đã tập trung đầu tư cho vay vào các dự án trọng điểm của địa

phương, góp phần giảm bớt một phần bức xúc về nhu cầu đầu tư của địa

phương.Ngoài ra Quỹ nhận vốn tạm ứng từ ngân sách cho các doanh nghiệp

trên địa bàn thành phố vay để mở rộng sản xuất và xuất khẩu. Đối với hoạt

động góp vốn thành lập doanh nghiệp, Uỷ ban nhân dân thành phố đã chuyển

giao quyền đại diện vốn nhà nước tại 4 doanh nghiệp trên địa bàn với tổng số

vốn là 48,7 tỷ đồng để bổ sung vốn điều lệ và giao cho Quỹ tham gia hoạt động

quản lý. Hoạt động đầu tư trực tiếp các dự án cho đến nay Quỹ vẫn chưa thực

hiện do còn hạn chế về nhân lực, nguồn vốn, khả năng triển khai dự án.



Biểu đồ 2.1. Cơ cấu hoạt động đầu tư của Quỹ đầu tư phát triển thành

phố Đà Nẵng ( Nguồn Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×