Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG

Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

6

đầu tư không trực tiếp làm tăng tài sản thực cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng

giá trị tài sản tài chính cho chủ đầu tư. Tuy nhiên, đầu tư tài chính là kênh

huy động vốn rất quan trọng cho hoạt động đầu tư phát triển và là một trong

những loại hình đầu tư lựa chọn để tối đa hóa lợi ích, giảm thiểu rủi ro cho

các chủ đầu tư.

b. Khái niệm Quỹ đầu tư:

Quỹ đầu tư được thành lập với vai trò là một định chế trung gian trên

thị trường tài chính. Quỹ đầu tư giữ vai trò cầu nối giữa người có vốn và

người cần vốn; tham gia vào việc huy động các nguồn tài chính để áp ứng các

nhu cầu tài trợ cho các dự án của Chính phủ hoặc hoạt động kinh doanh của

các doanh nghiệp. Chủ thể tham gia góp vốn vào Quỹ đầu tư theo các nguyên

tắc và mục tiêu khác nhau nhưng tựu chung đều nhằm tối đa hóa các lợi ích

mang lại từ các nguồn tài chính hiện có của mình.

Quỹ đầu tư thực hiện đầu tư theo 2 phương thức: đầu tư trực tiếp và

đầu tư gián tiếp.

Đầu tư trực tiếp là hình thức quỹ đầu tư bỏ vốn trực tiếp tham gia quản

lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư của mình, thơng

qua các phương thức như góp vốn thành lập doanh nghiệp để đầu tư theo danh

mục đầu tư của Quỹ; mua lại cổ phần, vốn góp của các doanh nghiệp khác

nhằm mục tiêu tham gia quản lý, điều hành hoặc mua lại toàn bộ doanh

nghiệp, thực hiện tái cấu trúc để nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp;

trực tiếp đầu tư với vai trò là chủ đầu tư của các dự án; góp vốn tham gia đầu

tư các dự án dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó quỹ đầu tư không trực tiếp

tham gia điều hành quản lý quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu

tư, theo các phương thức như cho vay dự án thuộc đối tượng cho vay của Quỹ

đầu tư trên cơ sở phải đảm bảo nguyên tắc về điều kiện, tiêu chuẩn và phải



7

được Quỹ thẩm định trước khi cho vay; thực hiện mua, bán cổ phiếu, trái

phiếu trên thị trường chứng khoán nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận.

Đối với các Quỹ đầu tư thuộc dạng định chế tài chính cơng (quỹ do

Chính phủ, chính quyền địa phương sở hữu 100% vốn), thông thường hoạt

động kết hợp một cách đa dạng giữa tính thị trường và tính mục tiêu theo định

hướng phát triển của từng quốc gia hoặc từng địa phương.

1.1.1.2. Quỹ đầu tư phát triển địa phương

a.Khái niệm:

“Quỹ đầu tư phát triển địa phương (viết tắt là Quỹ ĐTPTĐP) là một tổ

chức tài chính nhà nước của chính quyền địa phương, thực hiện chức năng

đầu tư tài chính và đầu tư phát triển2. Chính quyền địa phương thành lập Quỹ

đầu tư phát triển địa phương nhằm tạo công cụ để tập trung các nguồn vốn

nhỏ lẻ của mình để hình thành các nguồn vốn lớn hơn, đồng thời thông qua cơ

chế đòn bẩy tài chính để thu hút thêm các nguồn vốn từ dân cư để thực hiện

đầu tư cho các mục tiêu theo định hướng phát triển của Chính quyền địa

phương trong từng thời kỳ.

Quỹ ĐTPTĐP có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối

kế toán và con dấu riêng. Quỹ ĐTPTĐP hoạt động phục vụ cho mục tiêu phát

triển kinh tế xã hội của địa phương, không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tuy

nhiên hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP phải được thực hiện theo nguyên tắc tự

chủ về tài chính, bảo tồn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chịu rủi

ro. Ngân sách nhà nước khơng cấp kinh phí cho hoạt động của bộ máy Quỹ

đầu tư phát triển địa phương. Quỹ ĐTPTĐP chịu trách nhiệm hữu hạn trong

phạm vi nguồn vốn chủ sở hữu của mình.

Nguồn hình thành vốn chủ sở hữu của Quỹ ĐTPTĐP bao gồm vốn điều

lệ, tiền đóng góp tự nguyện, các khoản viện trợ, tài trợ của các tổ chức cá

nhân trong và ngoài nước. Vốn điều lệ được bố trí trong dự tốn chi ngân sách

2



[4]



8

hoặc nguồn tăng thu ngân sách địa phương hàng năm và được bổ sung từ

phần lợi nhuận dành cho quỹ đầu tư phát triển. Việc thay đổi vốn điều lệ của

Quỹ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định nhưng không được thấp hơn

mức tối thiểu quy định là 100 tỷ đồng. Để phát triển bền vững, Quỹ ĐTPTĐP

cần được bổ sung vốn điều lệ đáp ứng ngưỡng cần thiết để Quỹ có thể tận

dụng tối đa lợi thế vốn điều lệ của mình để huy động vốn dài hạn.

b. Đặc điểm:

Quỹ ĐTPTĐP được thành lập dưới dạng định chế tài chính cơng do

chính quyền địa phương sở hữu 100% vốn, chưa có sự tham gia của cơng

chúng đầu tư. Chính quyền địa phương góp vốn vào Quỹ ĐTPTĐP nhằm tạo

công cụ để thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội theo định hướng

phát triển của Chính quyền địa phương trong từng thời kỳ.

Theo quy định hiện hành, Quỹ ĐTPTĐP không phải là doanh nghiệp

nhưng được tổ chức theo mơ hình tự quản lý, với cơ cấu đầy đủ như một

doanh nghiệp bao gồm: Hội đồng quản lý, ban kiểm soát và bộ máy điều hành

Quỹ. Mơ hình này được xây dựng trên cơ sở tính chất sở hữu của Quỹ, cơ chế

kiểm sốt và phân cấp trong quản lý các hoạt động đầu tư của Quỹ.

Hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP được thực hiện với các giới hạn về phạm

vi hoạt động , về đầu tư trực tiếp, về cho vay đầu tư, về huy động vốn…theo

quy định của Nhà nước và theo điều lệ của Quỹ ĐTPTĐP được đại diện chủ

sở hữu phê duyệt. Mục tiêu hoạt động của Quỹ là phát triển cơ sở hạ tầng theo

các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo nguyên tắc bảo

tồn vốn và tự bù đắp chi phí hoạt động.

Ngồi nguồn vốn ngân sách nhà nước, Quỹ ĐTPTĐP còn có thể vay từ

ngân hàng, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước, kêu gọi các tổ chức, cá

nhân cùng hợp vốn để đầu tư, phát hành trái phiếu để huy động vốn,.. tạo các

nguồn lực sẵn có để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa



9

phương. Tuy nhiên do đặc điểm là hoạt động đầu tư vào các dự án kết cấu hạ

tầng có thời gian đầu tư dài nên Quỹ ĐTPTĐP khơng được huy động vốn

ngắn hạn mà chỉ thực hiện huy động vốn trung và dài hạn để đảm bảo nguồn

vốn hoạt động, tránh rủi ro trong hoạt động đầu tư.

c.Vai trò của Quỹ ĐTPTĐP:

Bất kỳ quốc gia nào cũng dành một phần lớn ngân sách nhà nước

(NSNN) để đầu tư phát triển và mở rộng cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ tăng

trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Ở một số nước đang phát triển, khi

nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ngày càng tăng lên theo sự phát triển

của nền kinh tế thì ngân sách nhà nước (NSNN) không đủ khả năng để đáp

ứng nhu cầu này. Tất yếu dẫn đến nhu cầu cần huy động thêm nhiều nguồn

lực trong xã hội để đáp ứng cho hoạt động đầu tư phát triển.

Mặt khác việc sử dụng NSNN để đầu tư phát triển được cấp phát theo

kế hoạch ngân sách từng năm, không thu hồi vốn, quản lý không đồng bộ,

thiếu động cơ để giảm thiểu chi phí và đạt chất lượng cao nên thường dễ dẫn

đến lãng phí và kém hiệu quả.

Từ đó dẫn đến nhu cầu thành lập một công cụ nhằm huy động nhiều

nguồn lực tài chính hơn trong xã hội cho hoạt động đầu tư phát triển và hoạt

động mang tính chuyên nghiệp hơn để tăng cường hiệu quả đầu tư nhà nước.

Mơ hình Quỹ đầu tư phát triển địa phương đã chính thức được Chính

phủ cho phép thành lập tại các địa phương trên cả nước hoạt động với vai trò

là một định chế tài chính riêng cho địa phương nhằm giúp chính quyền địa

phương khắc phục được các khó khăn về cung cấp vốn dài hạn, huy động các

nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong xã hội đầu tư vào các dự án phát

triển kết cấu hạ tầng thuộc khu vực nhà nước theo chiến lược phát triển kinh

tế xã hội của địa phương, nhằm tăng cường hiệu quả đầu tư nhà nước.

Với nhiệm vụ là một cơng cụ tài chính của Chính quyền địa phương,



10

Quỹ ĐTPTĐP trở thành một kênh huy động và tài trợ vốn dài hạn với lãi suất

thấp làm tăng tính khả thi cho các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng theo các mục

tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Thông qua hoạt động huy động

vốn của Quỹ ĐTPTĐP sẽ làm giảm nhẹ một phần gánh nặng ngân sách địa

phương trong việc đầu tư cho các dự án cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế xã

hội. Thông qua hoạt động đầu tư của Quỹ ĐTPTĐP hệ thống kết cấu hạ tầng

kinh tế xã hội phát triển làm tăng tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế ,

phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Hoạt động đầu

tư của Quỹ sẽ tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, nhà ở

cho người thu nhập thấp, làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường sinh thái, tạo

các khoản thuế đáp ứng một phần nhu cầu chi tiêu quản lý xã hội.

Mặt khác, Quỹ ĐTPTĐP là một định chế tài chính cơng nhưng hoạt

động của Quỹ ĐTPTĐP khơng thay thế Ngân sách địa phương thực hiện cấp

phát các dự án đầu tư, hoặc thay thế Ngân hàng phát triển Việt nam thực hiện

cho vay tín dụng phát triển của Nhà nước, mà tập trung vào các dự án cơ sở

hạ tầng đang cần nhà nước hỗ trợ trực tiếp thuộc chương trình phát triển kinh

tế xã hội của từng địa phương và có thu hồi vốn.

1.1.2. Hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương

Với đặc điểm hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP như đã nêu ở trên, nội dung

nghiên cứu của luận văn về hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP được giới hạn trong

phạm vi hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP theo quy định của nhà nước hiện hành,

bao gồm hoạt động đầu tư, trong đó bao gồm: đầu trực tiếp vào các dự án,

cho vay đầu tư, góp vốn thành lập các tổ chức kinh tế; hoạt động nhận ủy thác

và ủy thác và hoạt động huy động vốn.

1.1.2.1. Hoạt động đầu tư

a. Đầu tư trực tiếp vào các dự án

Đầu tư trực tiếp vào các dự án là việc Quỹ ĐTPTĐP sử dụng vốn hoạt



11

động của mình để đầu tư vào các dự án; trong đó, Quỹ có thể trực tiếp quản lý

dự án theo quy định của pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng.

Đối tượng đầu tư trực tiếp là các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng thuộc các

chương trình, mục tiêu theo chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã

được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua, bao gồm các dự án xây dựng kết

cấu hạ tầng kỹ thuật; Các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng của khu công

nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao; các dự án phụ trợ bên

ngồi hàng rào khu cơng nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế và khu công nghệ

cao; Các dự án đầu tư xây dựng nhà ở và các dự án phát triển khu đô thị mới;

Các dự án bảo vệ và cải tạo môi trường; Các dự án đầu tư trọng điểm khác

theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Điều kiện để Quỹ ĐTPTĐP đầu tư trực tiếp vào các dự án là dự án phải

có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và đã được quyết định đầu tư

theo quy định của pháp luật. Quỹ ĐTPTĐP có thể là chủ đầu tư hoặc tham gia

góp vốn với các tổ chức khác để đầu tư và chịu trách nhiệm về quyết định đầu

tư của mình theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quỹ ĐTPTĐP có

thể trực tiếp quản lý dự án đầu tư hoặc thuê các tổ chức chuyên môn quản lý

dự án đầu tư theo quy định của pháp luật.

Hoạt động đầu tư trực tiếp của Quỹ đầu tư phát triển địa phương được

thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: đầu tư trọn gói bằng nguồn

vốn tự có của Quỹ; hợp vốn với các tổ chức kinh tế để cùng thực hiện dự án;

góp vốn thành lập các doanh nghiệp để đầu tư vào các dự án hạ tầng kinh tế,

kỹ thuật trên địa bàn, tham gia mua cổ phiếu của các doanh nghiệp với mục

tiêu tham gia quản lý doanh nghiệp...

Tuỳ từng điều kiện cụ thể, Quỹ ĐTPTĐP thực hiện đầu tư theo các hình

thức: hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây

dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao



12

(BT) theo quy định của pháp luật. Quỹ đầu tư phát triển địa phương có thể

tìm kiếm dự án, thực hiện các công việc chuẩn bị đầu tư sau đó thực hiện đầu

tư, hoặc chuyển nhượng lại dự án cho chủ đầu tư khác thực hiện đầu tư.

Mức vốn đầu tư đối với một dự án đến 10% vốn chủ sở hữu của Quỹ

đầu tư phát triển địa phương do Quỹ đầu tư phát triển địa phương quyết định.

Mức vốn đầu tư đối với một dự án trên 10% vốn chủ sở hữu của Quỹ đầu tư

phát triển địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Giới hạn tỷ lệ

vốn đầu tư trực tiếp vào các dự án của Quỹ ĐTPTĐP tối đa bằng 50% vốn

hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP tại thời điểm thực hiện.

Mục tiêu đầu tư trực tiếp của Quỹ đầu tư phát triển địa phương là huy

động thêm các nguồn vốn khác để thực hiện dự án kết cấu hạ tầng theo chiến

lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đồng thời tạo cơ hội cho các

nhà đầu tư có cơ hội tham gia vào các dự án kết cấu hạ tầng của địa phương;

thực hiện chủ trương xã hội hoá đầu tư của Nhà nước.

b.Cho vay đầu tư

Cho vay để đầu tư các dự án là hình thức đầu tư gián tiếp chủ yếu của

Quỹ ĐTPTĐP. Đối tượng cho vay là các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng có

phương án thu hồi vốn trực tiếp thuộc các chương trình, mục tiêu theo chiến

lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

thông qua, bao gồm các dự án về: giao thông; cấp nước; nhà ở khu đô thị, khu

dân cư; di chuyển sắp xếp lại các cơ sở sản xuất; xử lý rác thải của các đô thị;

Các dự án quan trọng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Quỹ đầu tư phát triển địa phương được làm đầu mối cho vay hợp vốn

hoặc cùng hợp vốn với tổ chức tín dụng và tổ chức khác để cho vay dự án.

Việc cho vay hợp vốn phải lập thành hợp đồng và phải tuân theo quy định của

nhà nước về hoạt động cho vay đầu tư của Quỹ đầu tư phát triển địa phương.

Điều kiện để Quỹ ĐTPTĐP cho vay là: (i) Chủ đầu tư bảo đảm đã hoàn



13

thành thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật; (ii) Có phương án sản xuất,

kinh doanh có lãi và phương án bảo đảm trả được nợ; (iii) Có cam kết mua

bảo hiểm đối với tài sản hình thành từ vốn vay thuộc đối tượng mua bảo hiểm

bắt buộc tại một công ty bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam; (iiii)

Chủ đầu tư là các tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc các doanh nghiệp thuộc

mọi thành phần kinh tế.

Thời hạn cho vay được xác định theo khả năng thu hồi vốn phù hợp với

đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng dự án và khả năng trả nợ của chủ đầu

tư nhưng tối đa là 15 năm. Trường hợp đặc biệt vay trên 15 năm, Ủy ban nhân

dân cấp tỉnh quyết định.

Mức vốn cho vay đối với một dự án đến 15% vốn chủ sở hữu của Quỹ

ĐTPTĐP do Quỹ ĐTPTĐP quyết định. Mức vốn cho vay đối với một dự án

trên 15% vốn chủ sở hữu của Quỹ ĐTPTĐP do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

quyết định. Giới hạn cho vay đối với 1 dự án tối đa bằng 15% vốn hoạt động

của Quỹ ĐTPTĐP tại thời điểm thực hiện.

Lãi suất cho vay của Quỹ ĐTPTĐP thực hiện theo nguyên tắc không

thấp hơn lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước cơng bố. Tuỳ thuộc vào từng

dự án cụ thể, Quỹ đầu tư phát triển địa phương sử dụng các biện pháp bảo

đảm tiền vay theo các hình thức: (i) Cầm cố, thế chấp tài sản của chủ đầu tư;

(ii) Cầm cố, thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay; (iii) Bảo lãnh của

bên thứ ba; (iiii) Các biện pháp bảo đảm tiền vay khác theo quy định của

pháp luật.

Để đảm bảo an toàn trong hoạt động, Quỹ ĐTPTĐP thực hiện phân loại

nợ, trích dự phòng rủi ro đối với hoạt động cho vay đầu tư như các tổ chức tín

dụng. Trong trường hợp xảy ra rủi ro do các nguyên nhân khách quan thì việc

xử lý rủi ro được thực hiện như sau:

Thứ nhất, trường hợp do chính sách Nhà nước thay đổi làm ảnh hưởng



14

trực tiếp đến hoạt động của dự án mà dẫn đến việc chủ đầu tư gặp khó khăn

trong trả nợ vay thì chủ đầu tư được xem xét gia hạn nợ; xoá, giảm lãi tiền

vay; khoanh nợ.

Thứ hai, trường hợp thiên tai, hoả hoạn, tai nạn do nguyên nhân khách

quan gây thiệt hại tài sản mà chủ đầu tư không trả được nợ và được cơ quan

nhà nước có thẩm quyền xác nhận, thì việc xử lý rủi ro được thực hiện theo

trình tự như sau: (i) Sử dụng các nguồn tài chính của chủ đầu tư theo quy định

để thu hồi nợ; (ii) Tiền bồi thường của cơ quan bảo hiểm (nếu có); (iii) Được

xem xét, xố nợ một phần hoặc tồn bộ số nợ vay còn lại.

Về thẩm quyền xử lý rủi ro, cấp nào quyết định cho vay thì quyết định

gia hạn nợ. Thời gian gia hạn nợ tối đa không vượt quá 1/3 thời hạn của khoản

vay. Hội đồng quản lý quyết định việc xoá nợ lãi. Chủ tịch Ủy ban nhân dân

cấp tỉnh quyết định việc khoanh nợ, xoá nợ gốc. Trường hợp xoá nợ, sau khi

quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Hội đồng nhân dân

cấp tỉnh.

c. Hoạt động góp vốn thành lập các tổ chức kinh tế

Quỹ ĐTPTĐP có thể góp vốn với các tổ chức, cá nhân khác để thành

lập các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn theo các qui định của

việc thành lập mới doanh nghiệp để thực hiện đầu tư trực tiếp vào các cơng

trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội thuộc các chương trình, mục tiêu

theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội địa phương.

Mức vốn góp đối với một doanh nghiệp đến 10% vốn chủ sở hữu của

Quỹ ĐTPTĐP do Quỹ ĐTPTĐP quyết định. Mức vốn góp đối với một doanh

nghiệp trên 10% vốn chủ sở hữu của Quỹ ĐTPTĐP do Ủy ban nhân dân cấp

tỉnh quyết định. Giới hạn đầu tư góp vốn thành lập các tổ chức kinh tế tối đa

bằng 20% vốn hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP tại thời điểm thực hiện.



15

1.1.2.2. Hoạt động uỷ thác và nhận uỷ thác

Quỹ đầu tư phát triển địa phương được nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn

đầu tư, cho vay đầu tư và thu hồi nợ, cấp phát vốn đầu tư cho các cơng trình,

dự án từ ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong

và ngồi nước thơng qua hợp đồng nhận uỷ thác giữa Quỹ đầu tư phát triển

địa phương với tổ chức, cá nhân ủy thác.

Quỹ đầu tư phát triển địa phương được nhận ủy thác quản lý hoạt động

của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; Quỹ phát triển

nhà ở, các quỹ khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập. Quỹ đầu tư phát

triển địa phương được thực hiện phát hành trái phiếu chính quyền địa phương

theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để huy động vốn cho ngân sách

địa phương theo quy định của pháp luật.

Quỹ đầu tư phát triển địa phương được uỷ thác cho các tổ chức tín

dụng và Ngân hàng phát triển Việt Nam thực hiện cho vay và thu hồi nợ một

số dự án thuộc đối tượng vay vốn của Quỹ đầu tư phát triển địa phương

thông qua hợp đồng uỷ thác giữa Quỹ đầu tư phát triển địa phương với tổ

chức nhận uỷ thác.

Khi nhận uỷ thác, Quỹ đầu tư phát triển địa phương được hưởng phí

dịch vụ nhận uỷ thác; khi uỷ thác Quỹ đầu tư phát triển địa phương phải trả

phí uỷ thác cho đơn vị nhận uỷ thác. Mức phí uỷ thác và nhận uỷ thác cụ thể

được thoả thuận và ghi trong hợp đồng nhận uỷ thác và nhận uỷ thác ký kết

giữa các bên.

1.1.2.3. Huy động vốn

Quỹ ĐTPTĐP được huy động các nguồn vốn trung và dài hạn của các

tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư vào các dự án kinh tế - xã

hội có tình hình tài chính lành mạnh và có khả năng thu hồi vốn. Các hình

thức huy động vốn của Quỹ đầu tư phát triển địa phương đó là: Vay của các



16

ngân hàng thương mại trong nước để bổ sung vốn hoạt động; Huy động từ các

nguồn vốn nhàn rỗi trên địa bàn như vốn khấu hao tài sản cố định, lợi nhuận

sau thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn; Vay vốn của các tổ chức tài chính

nước ngoài với lãi suất thấp và thời gian kéo dài; Phát hành trái phiếu Quỹ

ĐTPTĐPđể huy động vốn cho Quỹ. Quỹ ĐTPTĐP còn có các khoản vốn ủy

thác mà Quỹ có thể thay mặt cho các đơn vị, tổ chức khác quản lý. Khoản vốn

này được quản lý riêng và khơng được tính vào nguồn vốn hoạt động của

Quỹ. Thơng thường, Quỹ sẽ khơng chịu những rủi ro tài chính đối với khoản

vốn ủy thác này. Trong trường hợp tổ chức, đơn vị ủy thác yêu cầu bảo toàn

nguồn vốn ủy thác thì phải lập dự phòng để đảm bảo thu hồi vốn trong hoạt

động cho vay hoặc đầu tư.

Hoạt động huy động vốn phải đúng theo các qui định của pháp luật và

Điều lệ của Quỹ do chính quyền địa phương ban hành. Các Quỹ ĐTPTĐP

không được vay vốn ngắn hạn để phục vụ các mục đích đầu tư dài hạn để tạo

ra sự cân đối giữa tài sản và công nợ. Tổng mức vốn huy động theo các hình

thức được quy định tối đa bằng 6 lần vốn chủ sở hữu của Quỹ đầu tư phát

triển địa phương tại cùng thời điểm. Mục tiêu của hoạt động huy động vốn là

đảm bảo khả năng tài trợ và đóng góp vai trò của mình vào phát triển kinh tế

xã hội của địa phương, thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân và các khu vực khác

vào địa phương.

Để xác định lượng vốn cần huy động, Quỹ ĐTPTĐP cần dự tính nhu

cầu vốn, tiếp cận các nguồn vốn, đánh giá các nguồn vốn và có sự lựa chọn

phù hợp. Đồng thời Quỹ cần phải có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả bao gồm

việc tuân thủ các giới hạn đầu tư và các biện pháp giảm thiểu rủi ro cũng như

các nguyên tắc phê duyệt nội bộ đối với việc lựa chọn nguồn vốn huy động.

Quỹ ĐTPTĐP lựa chọn và sử dụng nguồn vốn cụ thể căn cứ vào đặc

điểm, quyền hạn vay vốn, danh mục dự án và tiềm năng nguồn vốn. Bảng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×