Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
IV. Đối với chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

IV. Đối với chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

Tải bản đầy đủ - 0trang

98

- Việc quan sát hệ thống kho, quy trình cơng nghệ, quá trình xử lý nghiệp vụ...

KTV căn cứ vào các câu trả lời trong Bảng câu hỏi về hệ thống KSNB này sẽ nhận

thấy sự có mặt hay vắng mặt đối với từng dấu hiệu kiểm soát CPSX của khách hàng.

KTV cần phải xác định được sự vắng mặt của q trình kiểm sốt chủ yếu vì sự vắng mặt

này thường làm khả năng sai phạm tăng lên. Sự vắng mặt của các q trình kiểm sốt chủ

yếu đối với CPSX thường là các nội dung sau:

- Khách hàng không thực hiện kiểm kê CPSX dở dang cuối kỳ nghiêm túc và

khách quan;

- Các khoản chi phí hạch tốn không đúng kỳ;

- Việc phân loại các khoản mục chi phí khơng đúng tính chất và nội dung;

- Các hố đơn mua hàng chưa có sự phê duyệt và khơng thực hiện ghi sổ kế toán

kịp thời.

Sau khi xác định được sự vắng mặt của từng dấu hiệu kiểm soát CPSX của khách

hàng đặc biệt là sự vắng mặt của q trình kiểm sốt chủ yếu, KTV tổng hợp lại sẽ đánh

giá được hệ thống KSNB đối với CPSX của khách hàng ở mức khá, trung bình hoặc yếu.

Tuy nhiên, việc đánh giá hệ thống KSNB ở các mức độ khác nhau này còn phụ thuộc vào

quan điểm của từng KTV.

Nhược điểm của Bảng câu hỏi về hệ thống KSNB chuẩn này là lập chung cho mọi

loại hình khách hàng, do đó nó có thể sẽ khơng sát với tình hình thực tế tại một số khách

hàng và khơng khả thi đối với các khách hàng nhỏ. Do đó, khi đánh giá hệ thống KSNB

đối với CPSX bên cạnh việc sử dụng Bảng câu hỏi về hệ thống KSNB thì rất cần đến

kinh nghiệm thực tế của KTV.

3.3.2. Hoàn thiện việc lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác để lựa

chọn bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn thực hiện kiểm toán CPSX

VSA số 530 định nghĩa “Lấy mẫu kiểm toán (gọi tắt là lấy mẫu) là áp dụng các

thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tài khoản

hay còn gọi là một loại nghiệp vụ sao cho mọi phần tử đều có cơ hội được chọn. Lấy mẫu



99

sẽ giúp KTV thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán về các đặc trưng của các phần tử

được chọn, nhằm hình thành hay cũng cố kết luận về tổng thể. Lấy mẫu có thể tiến hành

theo phương pháp thống kê hay phi thống kê” và yêu cầu "Khi thiết kế thủ tục kiểm toán,

KTV phải xác định các phương pháp thích hợp để lựa chọn các phần tử thử nghiệm nhằm

thu thập bằng chứng kiểm toán thoả mãn mục tiêu thử nghiệm kiểm toán...."

Trong mỗi cuộc kiểm tốn, khoản mục CPSX thường có quy mơ lớn và phức tạp,

do những hạn chế về mặt thời gian và chi phí, do đó, trong q trình kiểm tra chi tiết

CPSX , phương pháp chọn mẫu thường được áp dụng. KTV lựa chọn mẫu từ tổng thể

theo phương pháp thích hợp, tiến hành phân tích, kiểm tra với mẫu được chọn và suy rộng

kết quả cho toàn bộ tổng thể.

Tại AISC, trong q trình thực hiện kiểm tốn, hầu hết các KTV căn cứ trên kinh

nghiệm kiểm toán của mình để tiến hành chọn mẫu và điều này hồn tồn mang tính xét

đốn nghề nghiệp của KTV. Trong trường hợp đối với những khách hàng thường xuyên

thì nguyên tắc lấy mẫu này rất dễ bị khách hàng nắm bắt. Hay KTV thường tiến hành

chọn mẫu theo nguyên tắc số lớn có nghĩa là các nghiệp vụ có giá trị lớn sẽ có cơ hội được

chọn trước, vì những nghiệp vụ phát sinh với giá trị lớn thường chứa đựng rủi ro cao hơn,

nhưng đây chưa phải là phương pháp chọn mẫu tối ưu vì sai phạm của một nghiệp vụ phát

sinh với số tiền nhỏ nhưng được lặp lại nhiều lần sẽ thành sai phạm trọng yếu. Do vậy, có

thể mẫu sẽ khơng bao qt được các rủi ro khi mẫu chọn không đại diện cao cho tổng thể.

Do vậy, cần đa dạng hoá các phương pháp lựa chọn mẫu. Lựa chọn phương pháp

chọn mẫu hiệu quả trong từng trường hợp sẽ giúp cho các KTV thu thập được bằng chứng

có hiệu lực cao và đồng thời tiết kiệm được thời gian và chi phí.

Trên thực tế, có rất nhiều phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán như: chọn mẫu

ngẫu nhiên, chọn mẫu theo phương pháp phân tầng, chọn mẫu theo nguyên tắc giá trị lũy

tiến, chọn mẫu dựa trên mức độ trọng yếu, chọn mẫu theo xét đoán của KTV… Để có thể

chọn được những mẫu có tính đại diện cao, KTV nên sử dụng kết hợp nhiều phương pháp

chọn mẫu khác nhau. KTV nên tăng cường chọn mẫu ngẫu nhiên với các nghiệp vụ có



100

đặc điểm tương tự nhau. Đồng thời, kết hợp với phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên,

chọn mẫu theo xét đoán của KTV để khơng bỏ sót những nghiệp vụ mà KTV nhận thấy

có dấu hiệu bất thường…

Ngồi ra, kết thúc q trình kiểm tra mẫu các KTV thường chưa chú trọng tới quá

trình xem xét kết quả kiểm tra mẫu, cũng như việc dự tính sai sót trong tổng thể dựa trên

giá trị của sai sót phát hiện trong mẫu. Điều này có thể gây khó khăn cho việc sốt xét,

đánh giá kết quả làm việc sau này.

Để nâng cao chất lượng kiểm tốn và thực hiện VSA số 530, đòi hỏi các cơng ty

kiểm tốn chưa có hướng dẫn về lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác để lựa

chọn bằng chứng kiểm toán cần xây dựng chỉ đạo trên cơ sở tham khảo những căn cứ mà

các cơng ty kiểm tốn có uy tín, các cơng ty kiểm toán quốc tế thường dùng...Việc lấy

mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác để lựa chọn bằng chứng kiểm toán trong

kiểm toán BCTC nên thực hiện theo 4 bước sau:

Bước 1: Lập kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm tốn

Để có mẫu phù hợp, KTV cần nghiên cứu kỹ mục tiêu của thử nghiệm để xác định

sai phạm và tổng thể. Bước này được thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và

bao gồm những công việc chủ yếu sau:

+ Thu nhận bằng chứng kiểm toán về sai phạm trọng yếu trong các cơ sở dẫn liệu

thuộc các mục tiêu kiểm toán khoản mục CPSX.

+ Ước tính giá trị chênh lệch kiểm tốn đối với các cơ sở dẫn liệu của CPSX đang

chứa đựng khả năng có sai phạm trọng yếu.

Bước 2: Xác định cỡ mẫu, lựa chọn các phần tử của mẫu

KTV Lựa chọn các khoản mục CPSX bao gồm cả xác định số lượng các khoản

mục (số lượng mẫu) và chọn mẫu khoản mục để kiểm toán (mẫu chọn). Việc xác định

tổng số khoản mục nghiệp vụ cần hướng tới tính đầy đủ và tin cậy của bằng chứng. Xác

định mẫu chọn cụ thể phải căn cứ vào tình hình thực tế của khách thể kiểm toán và kinh

nghiệm của KTV. Các phương pháp có thể áp dụng để lựa chọn là:



101

- Chọn toàn bộ (Kiểm tra 100%);

- Lựa chọn các phần tử đặc biệt;

- Lấy mẫu ngẫu nhiên.

KTV có thể quyết định kiểm tra toàn bộ các phần tử cấu thành khoản mục chi

phí sản xuất sản phẩm (hoặc một nhóm trong chi phí sản xuất sản phẩm). Kiểm tra

100% phần tử ít được áp dụng trong thử nghiệm kiểm soát nhưng thường được áp

dụng trong thử nghiệm cơ bản. Kiểm tra 100% là thích hợp trong một số trường hợp

sau:

- Những khoản mục chi phí sản xuất sản phẩm có ít phần tử nhưng giá trị của

từng phần tử lớn;

- Khi những khoản mục chi phí sản xuất sản phẩm mà KTV cho rằng rủi ro

tiềm tàng và rủi ro kiểm sốt đều rất cao và các phương thức khác khơng thể cung

cấp đầy đủ bằng chứng thích hợp. Chẳng hạn theo kinh nghiệm của KTV thì những

khoản mục chi phí sản xuất chung (6278- Chi phí bằng tiền khác) thường chứa đựng

những rủi ro tiềm tàng thì KTV sẽ quyết định kiểm tra 100 % các phần tử đó.

- Đơn vị được kiểm tốn có dấu hiệu kiện tụng, tranh chấp;

- Theo yêu cầu của khách hàng.

KTV có thể quyết định các phần tử đặc biệt trong chi phí sản xuất sản phẩm

dựa trên các nhân tố như sự hiểu biết về tình hình sản xuất sản phẩm của khách

hàng, đánh giá ban đầu về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cũng như các đặc

điểm của chi phí sản xuất sản phẩm được thử nghiệm. Việc lựa chọn các phần tử

đặc biệt dựa trên xét đốn có thể dẫn đến rủi ro ngoài lấy mẫu. Các phần tử đặc biệt

có thể bao gồm:

Các phần tử có giá trị lớn hoặc quan trọng. KTV có thể quyết định lựa chọn

các phần tử đặc biệt có giá trị lớn hoặc biểu hiện một số đặc điểm như bất thường,

có khả nghi, rủi ro cao hoặc thường có sai sót trước đây. Chẳng hạn trong chi phí

sản xuất sản phẩm, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng chủ yếu và lớn

nhất. Trên thực tế, ở nhiều doanh nghiệp, hệ thống kiểm sốt nội bộ đối với q

trình sản xuất, quản lý nguyên vật liệu và chi phí sản xuất không chặt chẽ nên đã tạo



102

ra sơ hở dẫn đến những gian lận trong việc sử dụng nguyên vật liệu như: có trường

hợp ngun vật liệu xuất ra khơng được dùng vào sản xuất nhưng vẫn lập chứng từ

và hạch tốn vào chi phí sản xuất (chi phí ngun vật liệu trực tiếp). Ngược lại có

những trường hợp nguyên vật liệu đã được dùng vào sản xuất nhưng không được

hạch tốn vào chi phí sản xuất (chi phí ngun vật liệu trực tiếp) hoặc khơng tính

đúng vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của bộ phận sử dụng. Vì vậy, để tránh

được những sai sót trọng yếu khi kiểm tra khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực

tiếp KTV cần lựa chọn những khoản chi phí nguyên vật liệu có giá trị lớn để xem

xét có trường hợp nào hạch tốn sai hoặc khơng đúng tài khoản. Thí dụ xuất nguyên

vật liệu dùng cho sản xuất nhưng hạch tốn vào chi phí sản xuất chung hoặc chi phí

bán hàng và ngược lại.

Tất cả các phần tử có giá trị từ một khoản tiền nào đó trở lên. Khi kiểm tra

khoản mục chi phí sản xuất sản phẩm KTV có thể quyết định lựa chọn các phần tử

có giá trị bằng và lớn hơn một khoản tiền nào đó nhằm mục đích kiểm tra một bộ

phận lớn trong tồn bộ giá trị của một số loại nghiệp vụ chi phí sản xuất.

Ngồi hai phương pháp trên KTV có thể áp dụng phương pháp lấy mẫu kiểm

toán trong kiểm toán chi phí sản xuất sản phẩm. áp dụng phương pháp này tuy

chiếm một thời gian nhất định song lại có ưu điểm là mọi phần tử trong chi phí sản

xuất sản phẩm đều được chọn vào mẫu. Theo phương pháp này, KTV có thể tiến

hành chọn mẫu dựa vào chương trình chọn số ngẫu nhiên hoặc bảng số ngẫu nhiên

bởi đối tượng chọn mẫu phần lớn được đánh số trước. Ngồi ra KTV có thể lựa

chọn theo hệ thống. Trước hết xác định khoảng cách lấy mẫu được tính bằng cách

chia số lượng phần tử của tổng thể cho cỡ mẫu. Giả sử khi kiểm tra khoản mục chi

phí sản xuất chung có khoảng 500 phiếu chi, cỡ mẫu cần thiết là 50 thì khoảng cách

lấy mẫu là 10. Sau đó chọn điểm xuất phát bất kỳ phiếu chi đầu tiên và cứ thế cách

10 phiếu chi sẽ chọn một phiếu chi vào mẫu. Giả sử điểm xuất phát được chọn là 4,

thì các phiếu chi được chọn tiếp sẽ là 14, 24, 34....

Tuy nhiên khi quyết định lựa chọn các phương pháp trên KTV cần đặc biệt

chú ý việc kiểm tra dựa trên lựa chọn các phần tử đặc biệt từ một khoản mục chi phí



103

sản xuất sản phẩm thường là một phương pháp hiệu quả để thu thập bằng chứng

kiểm tốn, nhưng khơng được xem là lấy mẫu kiểm toán. Kết quả của các thủ tục

lựa chọn áp dụng cho các phần tử đặc biệt không thể nhân lên cho toàn bộ tổng thể.

KTV phải xem xét việc thu thập bằng chứng liên quan đến các phần tử còn lại của

tổng thể nếu các phần tử còn lại này được coi là trọng yếu.

Khi phân tích những sai sót đã được thực hiện, KTV có thể nhận thấy nhiều

sai sót có đặc điểm chung, ví dụ cùng loại nghiệp vụ, cùng địa điểm, cùng chủng

loại sản phẩm hoặc một thời kỳ. Trong trường hợp đó, KTV phải xác định tất cả

những nghiệp vụ có cùng đặc điểm và mở rộng thủ tục kiểm toán đối với các nghiệp

vụ đó. Những sai sót như thế có thể cố ý và có khả năng có gian lận.

Khi KTV chứng minh được một sai sót phát sinh từ một sự kiện cá biệt mà sự

kiện này không lặp lại trừ khi xảy ra những tình huống đặc biệt thì sai sót này khơng

đại diện cho những sai sót trong tổng chi phí sản xuất sản phẩm (sai sót cá biệt). Để

khẳng định sai sót là cá biệt và khơng đại diện cho chi phí sản xuất sản phẩm, KTV

phải thực hiện một số công việc bổ sung. Số lượng công việc bổ sung phụ thuộc vào

từng tình huống cụ thể, nhưng phải đủ để khẳng định rằng sai sót khơng ảnh hưởng

đến phần còn lại của chi phí sản xuất sản phẩm. Ví dụ (1) sai sót do máy tính bị sự cố

nhưng chỉ xảy ra trong một ngày trong năm, KTV đánh giá ảnh hưởng của sự cố

bằng cách kiểm tra việc xử lý các nghiệp vụ cụ thể của ngày đó, xem xét sự ảnh

hưởng của nguyên nhân gây ra sự cố đến sự cố các thủ tục kiểm tốn và đưa ra kết

luận. Ví dụ (2) việc sử dụng sai cơng thức tính tốn tiền lương tìm thấy ở một chi

nhánh sẽ được coi là cá biệt khi các chi nhánh khác sử dụng đúng công thức

Bước 3: Dự tính sai sót cho tổng thể

Khi thực hiện thử nghiệm cơ bản, KTV cần dự tính sai sót trong CPSX dựa trên

giá trị của sai sót phát hiện trong mẫu. KTV phải xem xét sự ảnh hưởng của sai sót dự tính

này đối với từng mục tiêu thử nghiệm cơ bản đối với các khâu của cuộc kiểm toán. KTV

dự tính sai sót trong CPSX để đánh giá tổng quát về sai sót và so sánh sai sót đã dự tính

với sai sót có thể bỏ qua. Khi thực hiện kiểm tra chi tiết khoản mục CPSX, sai sót có thể



104

bỏ qua là số tiền sai lệch có thể chấp nhận được và là số nhỏ hơn số ước tính của KTV về

mức trọng yếu được dùng cho từng khoản mục CPSX.

Khi một sai sót được coi là cá biệt thì được loại trừ trước khi dự tính sai sót trong

CPSX. ảnh hưởng của các sai sót cá biệt dù không phải điều chỉnh vẫn cần được xem xét

thêm cùng với sai sót dự tính. Nếu một loại nghiệp vụ được phân nhóm, các sai sót sẽ

được dự tính riêng cho từng nhóm. Các sai sót của dự tính cùng nhóm cộng thêm các sai

sót cá biệt của từng nhóm để xem xét ảnh hưởng có thể có của sai sót lên loại nghiệp vụ

phát sinh.

Khi thực hiện thử nghiệm kiểm sốt khơng cần phải dự tính sai sót trong tổng thể

CPSX vì tỷ lệ sai sót của mẫu cũng là tỷ lệ sai sót dự tính của CPSX.

Bước 4: Đánh giá kết quả mẫu

KTV phải đánh giá kết quả mẫu để khẳng định tính phù hợp và đầy đủ của CPSX

hoặc quyết định xem có cần phải điều chỉnh cho phù hợp khơng. Trong thử nghiệm kiểm

sốt nếu tỷ lệ sai sót của mẫu cao hơn so với dự tính thì cần phải điều chỉnh tăng mức rủi

ro kiểm soát, trừ khi KTV thu thập được những bằng chứng khác hỗ trợ cho việc đánh giá

trước đây. Trong thử nghiệm cơ bản, nếu số tiền sai sót của mẫu cao hơn dự tính, KTV có

thể kết luận là khoản mục chi phí đó đã bị sai lệch trọng yếu, trừ khi thu thập được các

bằng chứng khác để chứng minh rằng khơng tồn tại sai sót trọng yếu nào.

Nếu giá trị của tổng thể sai sót dự tính cộng (+) với sai sót cá biệt nhỏ hơn nhưng

gần tới mức sai sót có thể bỏ qua, KTV cần xem xét tính thuyết phục của kết quả mẫu

bằng cách kết hợp với kết quả của các thủ tục kiểm toán khác hoặc thu thập thêm bằng

chứng kiểm toán. Tổng giá trị của sai sót dự tính cộng (+) với sai sót cá biệt dự tính thích

hợp nhất với KTV về sai sót của tổng thể. Tuy nhiên kết quả mẫu vẫn bị ảnh hưởng bởi

rủi ro lấy mẫu. Khi tổng sai sót dự tính cộng (+) với sai sót cá biệt gần bằng sai sót có thể

bỏ qua thì KTV phải thừa nhận tồn tại rủi ro vì nếu lấy một mẫu khác có thể dẫn đến một

kết quả dự tính khác cao hơn sai sót có thể bỏ qua. Việc thực hiện thêm các thủ tục kiểm



105

toán khác sẽ giúp KTV đánh giá đúng hơn rủi ro này. Rủi ro sẽ giảm đi khi thu thập thêm

được những bằng chứng khác.

Khi đánh gía kết quả lấy mẫu dẫn đến phải điều chỉnh những đánh giá ban đầu

của KTV về tính chất của tổng thể thì KTV cần phải:

- Đề nghị Giám đốc đơn vị được kiểm toán kiểm tra lại những sai sót đã phát hiện

và những sai sót còn có thể có và thực hiện những điều chỉnh cần thiết.

- Điều chỉnh thủ tục kiểm toán đã định. Ví dụ, trong thử nghiệm kiểm sốt, KTV

cần mở rộng cỡ mẫu, thực hiện thủ tục kiểm toán thay thế hoặc bổ sung thử nghiệm cơ

bản liên quan.

- Xem xét ảnh hưởng của nó đến Báo cáo kiểm tốn.

3.3.3 Hồn thiện thủ tục phân tích trong giai đoạn thực hiện kiểm tốn CPSX

Thủ tục phân tích ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơng việc kiểm tốn.

Tại AISC thủ tục phân tích được KTV sử dụng khá phổ biến. Đây là một công cụ hỗ trợ

đắc lực trong suốt q trình kiểm tốn, giúp KTV tối ưu hóa thời gian khi giảm thiểu đáng

kể các thử nghiệm chi tiết cần thực hiện.

Phân tích là một thủ tục khơng thể thiếu trong suốt q trình kiểm tốn từ giai đoạn

lập kế hoạch kiểm toán cho đến giai đoạn soát xét tổng thể cuộc kiểm tốn. Đó là sự so

sánh giữa những thông tin khác nhau nhằm đánh giá về các mối quan hệ và xu hướng phát

triển. VSA số 520 “ Quy trình phân tích” qui định “KTV phải thực hiện thủ tục phân tích

nhằm tìm hiểu tình hình sản phẩm và xác định vùng có rủi ro nhằm xác định thủ tục kiểm

tốn thích hợp cho từng mục tiêu kiểm toán cụ thể, nhằm kết luận tổng quát về sự phù hợp

trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn vị”.

Thủ tục phân tích đòi hỏi KTV phải có khả năng xét đốn mang tính nghề nghiệp,

am hiểu sâu sắc về lĩnh vực sản phẩm của khách hàng để có được những phán đốn chính

xác. Đặc biệt đối với kiểm toán khoản mục CPSX việc thực hiện các thủ tục phân tích lại

càng phức tạp có liên quan đến nhiều khoản mục khác trên BCTC. Đối với một số khoản



106

mục không trọng yếu đôi khi KTV chỉ sử dụng thủ tục phân tích cũng có thể đưa ra được

kết luận về khoản mục đó mà khơng phải đi sâu kiểm tra chi tiết.

Trên thực tế các công ty kiểm toán đều nhận thức được nội dung và tác dụng của

thủ tục phân tích đánh giá tổng quát đối với kiểm toán CPSX. Căn cứ trên những bằng

chứng thu được thơng qua thủ tục phân tích KTV sẽ định hướng những thủ tục kiểm tra

chi tiết đối với CPSX cần thực hiện. Tuy nhiên, việc vận dụng thủ tục phân tích ở các

cơng ty kiểm tốn thường khác nhau và rất hạn chế ở các công ty kiểm tốn có quy mơ

nhỏ. Trước khi thực hiện các thủ tục phân tích đối với CPSX, KTV nên rà sốt một cách

sơ lược về ngành nghề của khách hàng để nắm bắt được tình hình thực tế cũng như xu

hướng chung của ngành nhằm tạo căn cứ phân tích. Trường hợp tài liệu phân tích khơng

cho kết quả như dự kiến của KTV thì KTV phải điều tra làm rõ ngun nhân.

Để hồn thiện thủ tục phân tích trong giai đoạn thực hiện kiểm toán CPSX, tác giả

đề nghị AISC nên chú ý phân tích ngang và phân tích dọc.

Phân tích ngang KTV cần thực hiện những thủ tục phân tích ngang sau:

- So sánh từng khoản mục CPSX kỳ này so với kỳ trước để phát hiện những biến

động đáng kể đối với CPSX .

- Rà soát mối quan hệ giữa CPSX trong kỳ với số hàng mua trong kỳ, lượng sản

xuất ra và số lượng hàng tiêu thụ trong kỳ nhằm giúp cho KTV đánh giá chính xác hơn về

sự thay đổi của CPSX. Khi KTV phát hiện thấy có sự thay đổi đáng kể CPSX giữa kỳ này

so với kỳ trước trong khi số lượng nghiệp vụ mua, sản xuất, tiêu thụ trong kỳ giữ ổn định

thì có thể có sai phạm liên quan tới CPSX trong kỳ. KTV phải hướng việc điều tra vào

vấn đề này để tìm kiếm bằng chứng khẳng định sai phạm.

- So sánh CPSX thực tế với định mức của khách hàng. Nếu CPSX thực tế của

khách hàng lớn hơn hoặc nhỏ hơn rất nhiều so với định mức, KTV có thể nghi ngờ về

việc khách hàng cố tình nâng cao hoặc hạ thấp CPSX thực tế nhằm các mục đích khác

nhau như tăng giá trị tài sản hay giảm lợi nhuận trong kỳ…



107

- So sánh giá thành đơn vị thực tế giữa các kỳ với nhau hoặc so sánh giá thành đơn

vị kỳ thực tế so với kế hoạch. Việc so sánh đó nhằm mục đích để xem xét có sự chênh

lệch đột biến hoặc quá lớn giữa kỳ này với các kỳ trước, giữa thực tế với kế hoạch hay

không. Nếu có sự chênh lệch lớn thì đó là điều khơng bình thường. Giả sử trong xu hướng

chung là hạ giá thành mà khách hàng lại tăng giá thành, hoặc giá thành thực tế vượt kế

hoạch quá lớn thì KTV phải điều tra và xem xét thêm để tìm nguyên nhân.

Phân tích dọc KTV cần thực hiện những thủ tục phân tích dọc sau:

- So sánh tỷ suất CPSX trên lợi nhuận của kỳ này với các kỳ trước:

Tỷ suất CPSX trên lợi nhuận



Tổng CPSX

Tổng lợi nhuận

Nếu tỷ suất CPSX trên lợi nhuận kỳ này so với kỳ trước quá chênh lệch thì có thể

=



có sự bất thường.

- So sánh tỷ trọng CPSX trên doanh thu kỳ này với các kỳ trước:

Tổng CPSX

Tổng doanh thu

Nếu tỷ suất CPSX trên doanh thu kỳ này so với kỳ trước quá chênh lệch thì có thể

Tỷ suất CPSX trên doanh thu



=



có sự bất thường. Ngồi ra, có thể phân tích tỷ suất CPSX cố định trên tổng khối lượng

sản phẩm hoàn thành.

CPSX cố định



Tỷ suất CPSX cố định trên

tổng khối lượng sản phẩm hoàn



=



Tổng khối lượng sản phẩm hoàn



thành



thành

Nếu tỷ suất CPSX cố định trên tổng khối lượng sản phẩm hoàn thành kỳ này so

với kỳ trước q chênh lệch thì có thể có sự bất thường.

CPSX biến đổi



Tỷ suất CPSX biến đổi

trên tổng khối lượng sản phẩm



=



Tổng khối lượng sản phẩm hoàn



hoàn thành



thành

Nếu tỷ suất CPSX biến đổi trên tổng khối lượng sản phẩm hoàn thành kỳ này so

với kỳ trước quá chênh lệch thì có thể có sự bất thường, cần đi sâu tìm hiểu ngun nhân.



108

Thủ tục phân tích là một phương pháp kiểm toán rất hữu hiệu, tiết kiệm được thời

gian và chi phí nhưng vẫn đảm bảo việc đưa ra kết luận đáng tin cậy.

3.3.4. Hoàn thiện thủ tục đánh giá bằng chứng và tổng hợp kết quả CPSX

Đoạn 02, VSA số 500 - "Bằng chứng kiểm toán" nêu rõ: "KTV phải thu thập đầy

đủ các bằng chứng kiểm tốn thích hợp cho mỗi loại ý kiến của mình về BCTC của đơn

vị được kiểm tốn". Bởi vậy, trong giai đoạn kết thúc q trình kiểm tốn CPSX KTV

phải đánh giá tính đầy đủ của bằng chứng thu thập được.

Trước tiên, các giấy tờ làm việc (bao gồm cả các bằng chứng kiểm toán) thu thập

được trong quá trình kiểm tốn CPSX được tập hợp lại cho trưởng nhóm kiểm tốn.

Trưởng nhóm kiểm tốn tiến hành sốt xét toàn bộ giấy tờ làm việc liên quan đến các mục

đích kiểm tốn và đánh giá các bằng chứng kiểm tốn. Cơng việc này cần được tiến hành

ngay trong q trình kiểm tốn, tại khách hàng nhằm kịp thời giải quyết những tồn tại

cũng như bổ sung các thủ tục kiểm tốn cần thiết khác và cần được trưởng nhóm kiểm

tốn thực hiện theo các bước sau:

- Kiểm tra tính tuân thủ trong cách trình bày các giấy làm việc;

- Kiểm tra tính đầy đủ của các bằng chứng kiểm tốn và chương trình kiểm tốn

CPSX;

- Đối chiếu sự phù hợp về số liệu giữa các bằng chứng thu được với giấy làm việc,

sổ kế toán CPSX hoặc báo cáo liên quan;

- Kiểm tra lại các chứng từ gốc phát sinh trước và sau ngày kết thúc niên độ để

khẳng định tính đúng kỳ là thoả mãn;

- Kiểm tra tính chính xác của số liệu và các thuyết minh về CPSX trình bày trong

BCTC;

- Kiểm tra việc tập hợp cũng như phân bổ các loại chi phí sản xuất vào giá thành

sản phẩm, xác định giá trị dở dang cuối kỳ của khách hàng nhằm khẳng định mục tiêu

CPSX dở dang cuối kỳ được định giá là thoả mãn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

IV. Đối với chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x