Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Về thời gian giao dịch

Về thời gian giao dịch

Tải bản đầy đủ - 0trang

49



hàng. Điều này chứng tỏ chính sách phát triển sản phẩm và dịch vụ của

NHNoQN đang đi đúng hướng.

Tuy nhiên, số lượng khách hàng có sử dụng dịch vụ thanh tốn quốc tế

của NHNoQN có thời gian dưới 2 năm vẫn còn cao, chiếm tỷ lệ 27,8% trên

tổng số khách hàng thăm dò. Do vậy, trong thời gian đến NHNoQN cần có

nhiều giải pháp để ổn định các khách hàng truyền thống và giữ vững và tăng

trưởng các khách hàng mới tham gia dịch vụ thanh toán quốc tế.

2.3.3. Số lượng sản phẩm dịch vụ TTQT

Như phân tích ở trên, hoạt động dịch vụ thanh toán quốc tế tại

NHNoQN trong thời gian qua cũng chỉ tập trung vào các hình thức như

chuyển tiền, thanh tốn nhờ thu, thư tín dụng. Chủ yếu dừng lại ở các dịch vụ

thiết yếu này, chưa chú trọng đến đa dạng và nâng cao dịch vụ nên chưa đáp

ứng được yêu cầu của khách hàng và cạnh tranh trên thị trường.

Kết quả thăm dò trực tiếp ý kiến khách hàng về các tiện ích dịch vụ

thanh toán quốc tế của NHNoQN được khách hàng đánh giá khơng cao, có

đến 50,9% khách hàng đánh giá ở mức độ trung bình. Kết quả này phản ánh

đúng thực trạng dịch vụ thanh toán quốc tế của NHNoQN hiện nay chưa tạo

ra nhiều sản phẩm, tiện ích cho khách hàng sử dụng dịch vụ, chỉ tập trung vào

các sản phẩm truyền thống là chính. Sản phẩm và dịch vụ chưa tạo được nét

đặc trưng của chi nhánh, chưa tạo được tính cạnh tranh cao so với các ngân

hàng khác.

Với phương châm luôn lấy khách hàng là trung tâm cho mọi hoạt động

kinh doanh, NHNoQN đã coi trọng công tác tìm hiểu nhu cầu của thị trường,

của khách hàng. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán quốc tế khách

hàng có nhu cầu nhưng NHNoQN vẫn chưa triển khai thực hiện. Vì vậy, trong



50



thời gian đến, NHNoQN cần đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ TTQT để đáp

ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.

2.3.4. Mạng lưới và ngân hàng đại lý

Hiện nay, ngoài Hội sở thực hiện hoạt động TTQT còn có Chi nhánh tại

Khu cơng nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, Khu Kinh tế mở Chu Lai, Thành

phố Hội An. Hoạt động TTQT đều được tập trung dưới sự quản lý của trung

tâm thanh toán của NHNoVN nhằm dễ kiểm soát, hạn chế rủi ro.

Tuy nhiên cho đến nay, mạng lưới cung cấp các sản phẩm, dịch vụ

TTQT của NHNoQN vẫn còn khá nhỏ, chưa thu hút được nhiều khách hàng

mới, đặc biệt tại các Khu cơng nghiệp, Khu Kinh tế mở, nơi có nhiều doanh

nghiệp xuất nhập khẩu. Với mạng lưới 26 Chi nhánh loại 3 phụ thuộc, 19

Phòng giao dịch thuộc huyện, NHNoQN có điều kiện thuận lợi để mở rộng

mạng lưới phục vụ hoạt động TTQT cho khách hàng.

Mở rộng thị trường là một yếu tố quan trọng đối với nhà kinh doanh,

góp phần giữ thế đứng vững chắc trong cạnh tranh. Thông qua các chương

trình quảng cáo, các chương trình khuyến mãi NHNo Quảng Nam mở rộng

khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế đến với các khách hàng cá

nhân, doanh nghiệp mới vào đầu tư trên địa bàn. Do vậy, trong thời gian đến

NHNoQN cần tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo. Tận dụng hệ

mạng lưới chi nhánh rộng khắp và thống thông tin đại chúng, tổ chức hội

thảo, để giới thiệu các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.

Về ngân hàng đại lý, NHNoVN đã thiết lập quan hệ đại lý với 996 ngân

hàng, thanh toán qua mạng Swift với 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế

giới. Tuy nhiên, có nhiều thị trường mới như các nước Châu Phi, Nam Á có

rất ít ngân hàng đại lý. Điều này đã gây trở ngại cho khách hàng đến giao dịch

TTQT tại NHNoQN. Do vậy, NHNoQN cần đề xuất NHNoVN tăng cường



51



thiết lập ngân hàng đại lý tại các quốc gia tại khu vực này tạo điều kiện thuận

lợi cho khách hàng giao dịch TTQT tại NHNoQN và tăng tính cạnh tranh về

dịch vụ TTQT với các NHTM khác trên địa bàn.

2.3.5. Cơ cấu tổ chức, điều hành hoạt động dịch vụ TTQT

Tất cả các quy trình nghiệp vụ liên quan đến hoạt động thanh toán quốc

tế tại NHNoQN đều thực hiện theo quy định của NHNoVN. Một số quy trình,

thủ tục về khi thực hiện các dịch vụ TTQT được NHNoQN đơn giản hoá,

nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, đồng thời đảm bảo độ chính

xác, an tồn trong thực hiện dịch vụ TTQT của NHNoQN.

Để phát huy hiệu quả của công tác quản trị điều hành hoạt động thanh

tốn quốc tế, NHNoQN còn tổ chức các đoàn đi khảo khát và đánh giá chất

lượng về các sản phẩm, dịch vụ mà NHNoVN cung cấp, trong đó có dịch vụ

thanh tốn quốc tế. Thơng qua đây, để thấy được các điểm phù hợp, không

phù hợp và tiến hành sửa đổi bổ sung kịp thời trên cơ sở tạo điều kiện thuận

lợi cho khách hàng và đảm bảo an toàn cho chi nhánh, dễ thực hiện đối với

cán bộ thanh toán.

Năm 2008, NHNoQN đã triển khai chương trình hiện đại hố ngân

hàng (IPCAS) trên tồn chi nhánh. Cho đến nay, NHNoQN đã kết nối trên

diện rộng mạng máy tính từ Hội sở chính đến các chi nhánh phụ thuộc; và

một hệ thống các dịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ TTQT qua mạng SWIFT, đủ

năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiên tiến, tiện

ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngồi nước. Dịch vụ thanh tốn

quốc tế đòi hỏi cơng nghệ cao, vận hành nhanh, chính xác. Trong thời gian

qua, NHNoQN đã quan tâm đầu tư đổi mới cơng nghệ, song cơng nghệ phục

vụ cho thanh tốn quốc tế còn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Tốc độ của



52



mạng còn chậm, còn nhiều sự cố kỹ thuật trong q trình thực hiện thanh

tốn, gây khó khăn cho khách hàng.

2.3.6. Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng

Nguồn nhân lực cho hoạt động thanh toán quốc tế của NHNoQN thời

gian qua đã được quan tâm phát triển. Đến cuối năm 2009, NHNoQN có 412

lao động, trong đó có 01 tiến sỹ kinh tế, 36 thạc sỹ kinh tế, 26 cán bộ đang

hoàn chỉnh cao học, 92% cán bộ viên chức có trình độ đại học và sau đại học,

60% cán bộ viên chức là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là nguồn

nhân lực lâu dài cho sự phát triển của NHNoQN trên con đường hiện đại hoá,

hội nhập và phát triển.

NHNoQN thường xuyên cử các cán bộ chuyên môn tham gia các lớp

tập huấn nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ. Cho đến nay, cán

bộ thanh toán quốc tế của chi nhánh đều có trình độ đại học. Nguồn cán bộ

thanh toán quốc tế hầu hết là những cán bộ có tâm huyết và trách nhiệm với

cơng việc. Đây là một thuận lợi để phát triển hoạt động thanh toán quốc tế.

Tuy nhiên, số cán bộ thực hiện nghiệp vụ thanh tốn quốc tế còn thiếu,

gây khó khăn trong việc thực hiện quy trình nghiệp vụ. Do thiếu cán bộ, nên

khơng thể phân định rạch ròi cơng việc, phải kiêm nghiệm nhiều cơng việc, dễ

dẫn đến sai sót trong q trình thực hiện nghiệp vụ, gây rủi ro trong quá trình

thực hiện các dịch vụ thanh tốn quốc tế.

Cán bộ làm nghiệp vụ thanh toán quốc tế chưa được đào tạo bài bản,

chính quy, chỉ được hướng dẫn trao đổi kinh nghiệm từ phòng Thanh tốn quốc

tế của NHNoVN. Một số cán bộ được tập huấn thì ít sử dụng, trình độ ngoại ngữ

còn hạn chế.



53



Mặc dù ban lãnh đạo NHNoQN đã hướng tới việc xây dựng nguồn

nhân lực theo yêu cầu phát triển dịch vụ TTQT trong quá trình hội nhập. Song

việc phát triển nguồn nhân lực về TTQT vẫn còn nhiều bất cập.

2.3.7. Các chính sách, quy định liên quan đến TTQT



NHNoQN đã lấy khách hàng làm trung tâm trong sự phát triển của

mình. Các sản phẩm và dịch vụ đưa ra đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.

Nếu như trước đây để xin mở L/C tại Ngân hàng, khách hàng phải đáp ứng

một số thủ tục nhất định. Nhận thức được sự phiền hà đối với khách hàng,

Ban lãnh đạo NHNoQN đã nghiên cứu, đề ra các quy trình, thủ tục ngày càng

đơn giản cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo được sự an toàn và chính xác

cao. Do vậy, NHNoQN đã duy trì được một số khách hàng truyền thống

thường xuyên, đồng thời ngân hàng cũng thu hút thêm được những khách

hàng mới. Các dịch vụ TTQT ngày càng được mở rộng theo hướng nâng cao

chất lượng hoạt động TTQT, mang lại lợi ích tối đa cho khách hàng.

Tổ chức nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu khách hàng, xây dựng mối quan

hệ tốt giữa khách hàng và ngân hàng. Hàng năm, NHNoQN tổ chức hội nghị

khách hàng, thông qua hội nghị này ban lãnh ngân hàng cũng như nhân viên

ngân hàng có thể nắm bắt được nhu cầu và nguyện vọng của khách hàng. Từ

đó, có những thay đổi trong phát triển sản phẩm và thực hiện nghiệp vụ cho

phù hợp với nhu cầu của khách hàng, hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Tuy

nhiên, việc tổ chức hội nghị khách hàng không được thực hiện thường xuyên.

Tuy nhiên, qua kết quả thăm dò biểu phí dịch vụ thanh tốn quốc tế tại

NHNoQN thì có đến 55,6% khách hàng đánh giá ở mức độ trung bình. Điều

này cho thấy phần lớn khách hàng đang sử dụng dịch vụ thanh tốn quốc tế

tại NHNoQN mong mn có một biểu phí dịch vụ thấp hơn. Mặc dù khi đưa

ra biểu phí dịch vụ thanh tốn quốc tế áp dụng tại đơn vị mình, NHNoQN đã



54



có tham khảo các biểu phí của các NHTM khác trên địa bàn. Do vậy, qua kết

quả khảo sát ý kiến khách về mức phí dịch vụ thanh tốn quốc tế như trên,

NHNoQN cần đưa ra một biểu phí dịch vụ hấp dẫn hơn để thu hút khách

hàng.

2.4. Đánh giá chung một số kết quả đạt được và hạn chế tồn tại

2.4.1. Kết quả đạt được

Qua hơn 13 năm hoạt động, hoạt động kinh doanh nói chung và thanh

tốn quốc tế nói riêng của NHNoQN đã đạt được những thành quả nhất định,

góp phần vào sự phát triển của NHNoQN, thúc đẩy kinh tế tại địa phương và

đóng góp đáng kể đối với sự thành cơng của khách hàng. Bằng chính nỗ lực

của mình, NHNoQN là Doanh nghiệp loại 1, đã vươn lên giữ vị trí quan trọng

trong hoạt động ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng

khác trong tại địa bàn tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian qua, hoạt động thanh

toán quốc tế tại NHNoQN đã đạt được một số kết quả nhất định:

a) Hoạt động thanh toán quốc tế có xu hướng phát triển ổn định trong

điều kiện kinh doanh đầy biến động

Năm 2008, 2009 có rất nhiều NHTM được thành lập trong đó đáng lưu

ý nhất là việc thành lập các NHTM 100% vốn nước ngoài tạo sự cạnh tranh

gay gắt hơn hẳn các năm trước, tuy nhiên doanh số TTQT của NHNoQN vẫn

có xu hướng phát triển ổn định.

Năm 2009 cũng là năm đầy biến động đối đối với đồng đô la Mỹ. Kinh

doanh ngoại tệ có nhiều biến động song Phòng Kinh doanh Ngoại hối vẫn

đảm bảo đáp ứng kịp thời các nhu cầu về ngoại tệ phục vụ cho hoạt động

TTQT, đảm bảo sự phát triển ổn định và thực hiện được các mục tiêu đề ra

trong năm 2009.



55



b) Các giao dịch TTQT của khách hàng qua NHNoQN được thực hiện

thông suốt, nhanh chóng và chính xác

Tất cả các khách hàng đến giao dịch tại chi nhánh đều được tạo điều

kiện tối đa và đảm bảo về mặt thời gian. Bên cạnh việc thực hiện các giao

dịch theo yêu cầu của khách hàng, các cán bộ giao dịch cũng tư vấn cho

khách hàng về các vấn đề liên quan đến giao dịch như các điều khoản thanh

tốn, tìm hiểu thơng tin người bán, người mua, ngân hàng nước ngoài…

c) Dịch vụ khách hàng chu đáo, tạo được chữ tín và lòng tin đối với

khách hàng

Với sự chỉ đạo sát sao của ban lãnh đạo NHNoQN trong việc thực hiện

các dịch vụ thanh toán quốc tế, tạo sự thuận tiện tối đa cho khách hàng nên đã

tạo được niềm tin cho khách hàng. NHNoQN đã duy trì mối quan hệ lâu dài

với một số khách hàng truyền thống, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn chiếm

tỷ trọng lớn trong doanh số thanh toán XNK như Cơng ty Cổ phần Kính nổi

Chu Lai, Tổng cơng ty Cổ phần Đầu tư&XNK Foodinco…

d) Nâng cao uy tín của NHNo trong lĩnh vực thanh toán quốc tế

Từ một Ngân hàng chuyên hoạt động kinh doanh đối nội với phần đông

khách hàng nông dân giao dịch nội tệ, đến nay NHNoQN đã quan tâm nhiều

đến hoạt động kinh doanh đối ngoại. NHNoQN đã thu hút được rất nhiều

khách hàng trong nước và quốc tế đến giao dịch, nâng cao uy tín và năng lực

cạnh tranh của NHNoVN trên trường quốc tế. Uy tín của NHNo trong lĩnh

vực thanh tốn XNK ngày càng được nâng cao rõ rệt bởi việc rút ngắn thời

gian cũng như giảm thiểu rủi ro và tổn thất trong TTQT, thông qua việc các

ngân hàng nước ngồi chấp nhận những thư tín dụng nhập khẩu do NHNoQN

mở có trị giá lớn.



56



e) NHNoQN triển khai dự án hiện đại hố cơng nghệ ngân hàng

(IPCAS)

Tuy với mạng lưới chi nhánh rộng nhưng năm 2009 NHNoQN đã triển

khai chương trình ngân hàng hiện đại trên tồn chi nhánh. Cơng nghệ này đã

làm thay đổi cơ cấu mơ hình tổ chức của hoạt động thanh toán quốc tế tại Hội

sở và chi nhánh phụ thuộc, giúp cho công tác quản lý hiệu quả hơn. Hiện nay,

tất cả các nghiệp vụ TTQT đều được thực hiện trên chương trình IPCAS, tồn

bộ các giao dịch thanh toán hàng xuất nhập khẩu được tiến hành tại Module

TF (Trade Finance), giao dịch chuyển tiền tại màn hình Module FX (Foreign

Exchange), khơng còn sử dụng cùng lúc nhiều chương trình như trước đây.

f) Nhân viên thanh toán quốc tế xử lý tốt nghiệp vụ chưa để xảy ra sai

xót

- Đối với chứng từ hàng xuất: Chưa có bộ chứng từ nào bị ngân hàng

nước ngồi từ chối thanh toán do lỗi lập và kiểm tra chứng từ. Chất lượng

kiểm tra chứng từ nhanh, chính xác đã làm giảm thời gian lưu giữ, xử lý bộ

chứng từ tại ngân hàng. Rút ngắn thời gian đòi tiền bộ chúng từ, tạo điều kiện

cho khách thu hồi vốn nhanh, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh

doanh của khách hàng.

- Đối với chứng từ hàng nhập khẩu: Kiểm tra nhanh chóng, chính xác

và thơng báo kịp thời để khách hàng nhận hàng, giảm thời gian lưu kho, lưu

bãi. Điều đó khơng chỉ làm khách hàng hài lòng mà còn góp phần tạo điều

kiện cho doanh nghiệp tăng doanh số xuất nhập khẩu trên thị trường quốc tế.

Trình độ, kinh nghiệm chuyên môn của nhân viên TTQT đáp ứng được

yêu cầu của khách hàng. Thái độ của nhân viên làm việc tận tình biết lắng

nghe ý kiến khách hàng để sửa chữa những khuyết điểm phát huy những ưu

điểm ln xem trọng chữ “tín” đối với khách hàng nhằm giữ vững lòng tin và



57



sự tín nhiệm của khách hàng. NHNoQN luôn chú trọng việc phát triển lâu dài

các hoạt động thanh toán quốc tế, cử cán bộ đi tham gia khố đào tạo nghiệp

vụ.

Tóm lại, hoạt động TTQT tại NHNoQN tăng qua các năm, lượng phí

dịch vụ thu được từ dịch vụ TTQT khơng ngừng tăng lên, góp phần thực hiện

phương châm tăng tỷ trọng thu phí TTQT trong tổng thu nhập của NHNoQN,

phù hợp với xu hướng của một ngân hàng hiện đại.

2.4.2. Hạn chế

a) Các dịch vụ thanh toán quốc tế chưa phong phú, đa dạng. Các sản

phẩm chủ yếu là chuyển tiền, nhờ thu và L/C trả ngay. Đây là những sản

phẩm mà hầu hết các ngân hàng đều có nên ln ở trong tình trạng cạnh tranh

gay gắt. Loại thư tín dụng được áp dụng chủ yếu tại chi nhánh hiện nay là L/C

trả ngay. Các loại L/C đặc biệt đáp ứng được thực tế đa dạng như L/C giáp

lưng, L/C tuần hoàn, L/C chuyển nhượng còn ít được mở thực hiện qua

NHNoQN. Chưa phát triển dịch vụ tư vấn thanh toán XNK, chưa nối mạng

giao dịch với khách hàng.

b) Chất lượng dịch vụ chưa cao, chưa làm hài lòng đến tất cả các khách

hàng đến giao dịch tại NHNoQN. Chưa có chính sách thu hút khách hàng đến

giao dịch tại NHNoQN một cách có hiệu quả, các hoạt động Maketing chưa

được chú trọng đầu tư. Khách hàng đến giao dịch tại NHNoQN chưa thấy

được ưu điểm, sự khác biệt so với các ngân hàng khác. Sự phối kết hợp giữa

các bộ phận của ngân hàng chưa có sự nhịp nhàng nhằm tạo ra một dịch vụ

khép kín, tối ưu cho khách hàng. Chính sách khách hàng của NHNoQN còn

kém sức cạnh tranh so với các NHTM khác, đặc biệt là các ngân hàng thương

mại cổ phần, ngân hàng nước ngoài.



58



c) Việc mở rộng thị trường cung ứng dịch vụ thanh toán quốc tế còn

hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng mạng lưới hoạt động rộng khắp tất

cả các huyện thị của NHNo&PTNT Quảng Nam. Hầu hết các giao dịch về

thanh toán quốc tế mới chỉ tập trung tại một số chi nhánh loại 3 phụ thuộc

như: Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, Khu kinh tế mở Chu Lai,

Thành phố Hội An. Các chi nhánh còn lại chỉ thực hiện báo có chuyển tiền

quốc tế.

d) Khối lượng khách hàng đến giao dịch thường xuyên tại NHNo

QNam chưa nhiều. Hiện nay, NHNoQN vẫn chưa thu hút được nhiều khách

hàng tại các Khu công nghiệp, Khu kinh tế mở và các cụm công nghiệp.

Lượng khách hàng này rất tiềm năng trong việc phát triển hoạt động TTQT

của ngân hàng cũng như các hoạt động khác của ngân hàng.

e) Việc thay đổi cách thức phục vụ chưa được thực hiện thường xuyên

và toàn diện, vì thực tế nhu cầu khách hàng ln thay đổi và đòi hỏi cao hơn.

Những cán bộ mới chưa được đào tạo, tập huấn bài bản về thanh toán quốc tế,

còn hạn chế về kinh nghiệm trong việc xử lý nghiệp vụ thanh tốn quốc tế.

Chính vì thế, việc tiếp thị khách hàng, giới thiệu sản phẩm cũng như chăm sóc

khách hàng còn rất nhiều hạn chế. Nhiều khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp

đến ngân hàng giao dịch chỉ biết thực hiện một cách máy móc theo những yêu

cầu do ngân hàng đưa ra, trong khi đó các thanh tốn viên chỉ có thể cung cấp

cho khách hàng một số điều cơ bản ngắn gọn nhất. Nếu có sai sót xảy ra thì

tạo nên một sự lãng phí rất lớn về thời gian và chi phí đối với cả khách hàng

và ngân hàng.

2.4.3. Nguyên nhân

a) Nguyên nhân khách quan



59



- Chính sách thương mại của nhà nước chưa ổn định, thường

xuyên thay đổi ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định kế hoạch kinh doanh xuất

nhập khẩu của doanh nghiệp.

- Các quy định của NHNN, NHNo&PTNT Việt Nam về nhân sự, quy

trình thanh tốn quốc tế, tỷ giá, lãi suất... cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt

động dịch vụ thanh toán quốc tế tại NHNoQN.

- Hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm của các doanh nghiệp xuất nhập

khẩu. Khả năng, trình độ tham gia bn bán quốc tế của các Cơng ty xuất

nhập khẩu Việt Nam còn nhiều hạn chế.

- Sự cạnh tranh khốc liệt giữa các Ngân hàng thương mại trên địa bàn

nhằm chiếm lĩnh thị trường cung ứng dịch vụ thanh tốn quốc tế.

b) Ngun nhân chủ quan

Mơ hình tổ chức quản lý hoạt động TTQT còn bất cập, chưa hợp lý.

Một số chi nhánh chưa triển khai nghiệp vụ TTQT nên việc thực hiện các hoạt

động TTQT đều tập trung qua Hội sở tỉnh làm khối lượng cơng việc lại tăng,

chưa phát huy được vai trò, tính chủ động và trách nhiệm của từng chi nhánh.

Hoạt động marketing để phát triển các dịch vụ TTQT chưa được quan

tâm đúng mức. Vấn đề quảng cáo, giới thiệu các dịch vụ thanh toán quốc tế

đến người tiêu dùng chưa được quan tâm đúng mức, việc quảng cáo trên

website, tờ rơi… của ngân hàng còn hạn chế cả về nội dung và hình thức.

Cơng nghệ tuy đã được đầu tư, hệ thống dữ liệu đã được tập trung hoá

nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tiện ích, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi

hỏi của thực tiễn, hệ thống máy tính, đường truyền thơng, máy chủ tại chi

nhánh đã bắt đầu có sự xuống cấp, khơng đáp ứng kịp thời những yêu cầu của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Về thời gian giao dịch

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×