Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ

VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



1.1.2. Vai trò của TTQT với hoạt động của các NHTM

- Dịch vụ thanh toán quốc tế là hoạt động trực tiếp tạo ra một khoản lợi

nhuận khơng nhỏ đóng góp vào lợi nhuận chung của ngân hàng. Thơng qua

cung cấp dịch vụ TTQT cho khách hàng, các NHTM thu được phí dịch vụ

chuyển tiền, phí thanh tốn LC, phí bảo lãnh… Thực tế cho thấy, đối với các

NHTM hiện đại, thu nhập từ phí dịch vụ có xu hướng ngày một tăng cả về số

lượng và tỷ trọng trong tổng thu nhập của ngân hàng. Đây cũng chính là mục

tiêu mà các NHTM luôn vươn tới.

- Dịch vụ TTQT không chỉ là một nghiệp vụ ngân hàng thuần tuý mà

còn đóng vai trò là khâu trung tâm khơng thể thiếu trong dây chuyền hoạt

động kinh doanh, bổ sung và hỗ trợ các mặt hoạt động nghiệp vụ khác của

ngân hàng nên nó gián tiếp tạo ra lợi nhuận từ các mặt hoạt động này. Nhờ

đẩy mạnh hoạt động TTQT, các NHTM có thể tăng cường khả năng thu hút,

quản lý nguồn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi trên tài khoản tiền gửi của khách

hàng, từ đó đáp ứng được nhu cầu vay và thanh toán bằng ngoại tệ của khách

hàng. TTQT góp phần phát triển và đẩy mạnh hoạt động tín dụng, tài trợ xuất

nhập khẩu (XNK), kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ khác, đáp

ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng trong và ngồi nước, từ đó tăng qui

mơ hoạt động và mở rộng thị phần của ngân hàng.

- Hoạt động dịch vụ thanh tốn quốc tế tạo mơi trường ứng dụng cơng

nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại trên thế giới trong hoạt động ngân hàng.

Thông qua việc tham gia nối mạng thông tin và ứng dụng công nghệ cao

trong xử lý thơng tin giúp cho ngân hàng có thể theo kịp với sự phát triển của

thế giới, không bị lạc hậu và thua kém các ngân hàng nước ngoài.

- Phát triển dịch vụ TTQT tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng

quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín trên trường quốc tế

cũng như uy tín đối với khách hàng trong và ngồi nước, từ đó khai thác



6



được các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức tài chính quốc tế cũng như các

ngân hàng nước ngoài, đáp ứng nhu cầu về vốn trong kinh doanh.

- Dịch vụ TTQT phát triển góp phần tăng cường khả năng cạnh tranh

của ngân hàng trong cơ chế thị trường, đồng thời giúp cho hoạt động ngân

hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với cộng đồng ngân hàng thế

giới.

1.1.3. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu của NHTM

1.1.3.1. Phương thức chuyển tiền

a) Khái niệm

Chuyển tiền là phương thức thanh tốn, trong đó khách hàng (người

chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định

cho một người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong

một thời gian nhất định.

Có hai hình thức chuyển tiền:

- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer, M/T): Lệnh thanh toán của ngân

hàng chuyển tiền được chuyển bằng thư cho ngân hàng trả tiền.

- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer, T/T): Lệnh thanh toán

của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức điện gửi cho

ngân hàng trả tiền bằng fax, telex hay mạng SWIFT.

Hình thức chuyển tiền bằng điện nhanh, nên có lợi cho nhà xuất khẩu,

nhưng chi phí lại cao; còn hình thức chuyển tiền bằng thư thì chậm song chi

phí lại thấp.

Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản nhất,

người chuyển tiền, trả tiền thông qua ngân hàng gởi một số tiền nhất định cho

người hưởng lợi tại một điểm nhất định.



7



Phương thức này thường được sử dụng trong nghiệp vụ trả tiền trước,

trả tiền phạt, trả tiền hoa hồng, thanh toán trong lĩnh vực phi mậu dịch và các

chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá, chuyển vốn ra bên ngoài

hoặc chi tiêu phi mậu dịch, chuyển kiều hối...

b) Quy trình nghiệp vụ

Biểu 1.1: Quy trình thanh tốn chuyển tiền

Ngân hàng trả tiền

(Paying Bank)



Ngân hàng chuyển tiền

(Remitting Bank)



(5)



Người hưởng lợi

(Beneficiary)



(3)

(1)



(2)



Người chuyển tiền

(Remitter)



(4)



Chú thích:

(1) Người xuất khẩu thực hiện giao hàng theo hợp đồng, lập bộ chứng

từ hàng hoá gửi cho người nhập khẩu để đi nhận hàng.

(2) Người nhập khẩu sau khi nhận hàng, kiểm tra hàng hoá và bộ chứng

từ hàng hoá, nếu thấy phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng đã ký kết,

lập giấy đề nghị chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình.

(3) Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền theo quy

định, nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh tốn, ngân hàng thực hiện trích tài

khoản để chuyển tiền và gửi giấy báo nợ cho nhà nhập khẩu.

(4) Ngân hàng chuyển tiền lập lệnh chuyển tiền gửi qua ngân hàng đại

lý hoặc chi nhánh của mình đến ngân hàng trả tiền.



8



(5) Ngân hàng trả tiền thực hiện ghi có vào tài khoản của người hưởng lợi

đồng thời gửi báo có cho người hưởng lợi.

c) Ưu điểm

Thủ tục đơn giản, nhanh chóng. Trong phương thức này ngân hàng

đóng vai trò trung gian thanh tốn cho đơn vị nhập khẩu theo uỷ nhiệm để

hưởng thủ tục phí, khơng bị ràng buộc gì cả. Việc trả tiền phụ thuộc vào thiện

chí của nhà nhập khẩu.

d) Nhược điểm

Nếu dùng phương thức này quyền lợi của đơn vị xuất khẩu không được

bảo đảm dễ bị người nhập khẩu chiếm dụng vốn.

1.1.3.2. Phương thức nhờ thu

a) Khái niệm

Nhờ thu là một phương thức thanh tốn, trong đó, người bán (nhà xuất

khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ

mình xuất trình bộ chứng từ thơng qua ngân hàng thu hộ cho bên mua (nhà nhập

khẩu) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và

điều khoản khác...

Trong mối quan hệ này, ngân hàng ở cả hai bên nước nhà nhập khẩu và nhà

xuất khẩu chỉ tham gia với tư cách là trung gian thu tiền hộ, ngân hàng không cam

kết, khơng bảo lãnh thanh tốn đối với người bán cũng như người mua.

b) Các loại nhờ thu

Căn cứ vào nội dung chứng từ được gửi đến ngân hàng nhờ thu mà

người ta chia phương thức thanh toán này ra thành hai loại:



9



* Nhờ thu phiếu trơn: Là phương thức thanh tốn, trong đó chứng từ

nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính (hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy nhận

nợ hay cơng cụ thanh tốn khác), còn các chứng từ thương mại (chứng từ vận

tải, hoá đơn, bảo hiểm..) được gửi trực tiếp cho người nhập khẩu, không thông

qua ngân hàng.

* Nhờ thu kèm chứng từ: Là phương thức thanh tốn, trong đó chứng từ

gửi đi nhờ thu bao gồm: (i) hoặc chứng từ thương mại cùng với chứng từ tài

chính, hoặc (ii) chỉ chứng từ thương mại mà khơng có chứng từ tài chính gửi

cùng. Ngân hàng thu hộ chỉ trao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu sau khi người

này đáp ứng được yêu cầu của Lệnh nhờ thu.

- Điều kiện trao chứng từ

+ Điều kiện D/A (Documents against acceptance): Điều kiện trao bộ

chứng từ thương mại cho người mua đi nhận hàng là phải ký chấp nhận thanh

toán hối phiếu tại một thời điểm nhất định trong tương lai. Như vậy, rủi ro

thanh tốn hồn tồn thuộc về người bán, vì người mua nhận hàng (người bán

mất quyền kiểm soát hàng hoá) chỉ với lời hứa sẽ thanh tốn trong tương lai,

còn việc có thanh tốn hay khơng thì chưa chắc chắn.

+ Điều kiện D/P (Documents against payment): Chứng từ chỉ được trao

khi nhận được thanh toán, do đó rủi ro đối với người bán giảm so với phương

thức D/A. Vì nếu người mua khơng thanh tốn thì người bán vẫn còn quyền định

đoạt hàng hố.



10



c) Quy trình nghiệp vụ

Biểu 1.2: Quy trình nhờ thu phiếu trơn

NHNT

(Remitting Bank)



(3)



NHTH

(Collecting Bank)



(6)

(2)



(7)



(5)



(4)



(0)

Người uỷ thác

(Expoter)



Người trả tiền

(Importer)

(1)



(0) Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh tốn quy định

áp dụng phương thức “Nhờ thu phiếu trơn”

(1) Người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu theo quy định của

hợp đồng.

(2) Người xuất khẩu lập đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng chứng từ tài

chính tới ngân hàng phục vụ mình.

(3) Ngân hàng gửi nhờ thu lập Lệnh nhờ thu cùng chứng từ tài chính

đến ngân hàng thu hộ.

(4) Ngân hàng thu hộ thông báo Lệnh nhờ thu tới người nhập khẩu.

(5) Người nhập khẩu lập lệnh thanh toán gửi đến ngân hàng thu hộ

hoặc gửi hối phiếu chấp nhận thanh toán đến ngân hàng thu hộ.

(6) Ngân hàng thu hộ chuyển giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận,

hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho ngân hàng nhận nhờ thu.



11



(7) Ngân hàng gửi nhờ thu chuyển trả giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu

chấp nhận, hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho người xuất khẩu.

Biểu 1.3: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ



NHNT

(Remitting Bank)



(2)



(3)

(7)



(8)



Người uỷ thác

(Exporter)



NHTH

(Collecting Bank)



(6)



(0)

(1)



(5)



(4)



Người trả tiền

(Importer)



Chú thích:

(0) Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh tốn quy định

áp dụng phương thức “Nhờ thu kèm chứng từ”

(1) Người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu theo quy định của

hợp đồng.

(2) Người xuất khẩu lập đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng bộ chứng từ

(bao gồm chứng từ thương mại cùng chứng từ tài chính, nếu có) tới ngân hàng

phục vụ mình.

(3) Ngân hàng gửi nhờ thu lập Lệnh nhờ thu và gửi cùng bộ chứng từ

thanh toán đến ngân hàng thu hộ.

(4) Ngân hàng thu hộ thông báo Lệnh nhờ thu và xuất trình bộ chứng

từ cho người nhập khẩu.



12



(5) Người nhập khẩu lập lệnh thanh toán gửi đến ngân hàng thu hộ

hoặc gửi hối phiếu chấp nhận thanh toán đến ngân hàng thu hộ.

(6) Ngân hàng thu hộ trao bộ chứng từ hàng hoá để người nhập khẩu đi

nhận hàng.

(7) Ngân hàng thu hộ chuyển giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận,

hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho ngân hàng nhận nhờ thu.

(8) Ngân hàng gửi nhờ thu chuyển trả giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu

chấp nhận, hoặc kỳ phiếu hay giấy nhận nợ cho người xuất khẩu.

d) Ưu điểm

Phương thức nhờ thu bảo đảm chặt chẽ hơn trong thanh toán so với

phương thức chuyển tiền.

e) Nhược điểm

Rủi ro chủ yếu xảy ra đối với người xuất khẩu do ngân hàng không

chịu trách nhiệm thanh toán thay cho khách hàng, do vậy việc chấp nhận nhờ

thu, trả tiền hầu như do người mua (người trả tiền) quyết định.

1.1.3.3. Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of Credit – L/C)

a) Khái niệm

Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó, theo

yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) một ngân hàng

(ngân hàng phát hành thư tín dụng) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C

(Letter of credit), theo đó, ngân hàng phát hành cam kết trả tiền hoặc chấp

nhận hối phiếu cho một bên thứ ba (người thụ hưởng L/C) khi người này xuất

trình cho ngân hàng phát hành một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những

điều kiện và điều khoản quy định của L/C.



13



Theo điều 2 UCP600: “Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận bất kỳ,

cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và

không huỷ ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh tốn khi xuất trình

phù hợp”.

b) Các loại L/C

+ Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C): Là thư tín dụng mà

sau khi được mở thì người nhập khẩu có thể yêu cầu ngân hàng sửa đổi, bổ

sung hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà khơng cần có sự đồng ý của người hưởng

lợi L/C.

+ Thư tín dụng khơng thể huỷ ngang (Irrevocable L/C): Là loại thư tín

dụng mà sau khi được mở thì người yêu cầu mở L/C sẽ không được tự ý sửa đổi,

bổ sung hay huỷ bỏ những nội dung của nó nếu không được sự đồng ý của người

thụ hưởng L/C.

+ Thư tín dụng khơng thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed

Irrevocable L/C): Là L/C không thể huỷ bỏ, theo yêu cầu của Ngân hàng phát

hành, một ngân hàng khác xác nhận trả tiền cho L/C này.

+ Thư tín dụng khơng thể huỷ ngang có thể chuyển nhượng

(Transferable L/C): Là L/C khơng huỷ ngang, theo đó người hưởng lợi thứ

nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C cũng như

quyền đòi tiền mà mình có được cho những người hưởng lợi thứ hai, mỗi

người hưởng lợi thứ hai nhận cho mình một phần của thương vụ.

+ Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): Sau khi nhận được L/C

do người nhập khẩu mở cho mình hưởng, nhà xuất khẩu căn cứ vào nội dung

L/C này và dùng chính L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người khác

hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầu.

+ Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): L/C chỉ bắt đầu có hiệu lực

khi L/C kia đối ứng với nó được mở.



14



+ Thư tín dụng tuần hồn (Revolving L/C): Là L/C không thể huỷ

ngang mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu lực

thì nó lại (tự động) có giá trị như cũ và vẫn tiếp tục được sử dụng một cách

tuần hoàn trong một thời hạn nhất định cho đến khi tổng giá trị hợp đồng

được thực hiện.

+ Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red Clause L/C): Là L/C mà ngân hàng

phát hành cho phép ngân hàng thông báo ứng trước cho người thụ hưởng để

mua hàng hoá, nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hoá theo L/C đã mở.

+ Thư tín dụng dự phòng (Standby L/C): Để bảo vệ quyền lợi của nhà

nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu đã nhận được L/C, tiền đặt cọc và

tiến ứng trước nhưng khơng có khả năng giao hàng, hoặc khơng hồn thành

nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong L/C, đòi hỏi ngân hàng phục vụ nhà

xuất khẩu phát hành một L/C trong đó cam kết với người nhập khẩu là sẽ hoàn

trả lại số tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở L/C cho nhà nhập khẩu.

c) Quy trình nghiệp vụ



15



Biểu 1.4: Quy trình thanh tốn theo phương thức L/C



Ngân hàng

phát hành



(3)

(8)

(9)



(11) (12) (2)



Người mở

(Nhà NK)



Ngân hàng

thơng báo



(7)

(1)

(5)



(6)



(4)



Người hưởng

(Nhà XK)



Chú thích:

(1) Hai bên mua bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản

thanh toán theo phương thức L/C.

(2) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng

phục vụ mình u cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng.

(3) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng phát hành mở L/C cho

người xuất khẩu hưởng. Chuyển bản chính cho người xuất khẩu thơng qua

ngân hàng thông báo.

(4) Ngân hàng thông báo thực hiện chỉ thị của ngân hàng phát hành,

thông báo L/C bằng văn bản cho người xuất khẩu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×