Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Xây dựng tổ chức gọn, mạnh, hợp lý và thường xuyên chăm lo việc tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác quản lý nhà nước, tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển du lịc...

- Xây dựng tổ chức gọn, mạnh, hợp lý và thường xuyên chăm lo việc tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác quản lý nhà nước, tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển du lịc...

Tải bản đầy đủ - 0trang

49

Chƣơng 2

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện kỳ sơn - tỉnh hòa

bình



2.1.1. Điều kiện về tự nhiên

* Vị trí địa lý: Huyện Kỳ Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình,

nằm ở phía Đơng Bắc tỉnh Hòa Bình, bên bờ hữu ngạn của dòng sơng Đà, một

con sơng lớn của hệ thống sơng Hồng, ở về phía hạ du của thủy điện Hòa Bình.

Sơng Đà ở đây chảy từ hƣớng Nam xuống hƣớng Bắc tạo thành ranh giới phía

Tây tự nhiên của huyện với một phần của thành phố Hòa Bình và huyện Thanh

Thủy, tỉnh Phú Thọ. Nửa phía Bắc của huyện là phần Nam của dãy núi Ba Vì

(thuộc Thành phố Hà Nội), trên đó có một phần của vƣờn quốc gia Ba Vì. Điểm

cực Tây Bắc của huyện nằm bên bờ sông Đà là ngã ba ranh giới của huyện cũng

nhƣ của tỉnh Hòa Bình với tỉnh Phú Thọ và thành phố Hà Nội.

Huyện Kỳ Sơn Có diện tích 210,76 km2, nằm ở vị trí 22o07’ - 26o00’ vĩ

bắc, 105o48’ - 106o25’ kinh đơng. Phía Tây Nam giáp thành phố Hòa Bình,

phía Đơng Nam giáp huyện Kim Bơi, phía Đơng giáp huyện Lƣơng Sơn, phía

Đơng Bắc giáp với huyện Ba Vì và huyện Thạch Thất của thành phố Hà Nội,

phía Tây Bắc giáp huyện Thanh Thủy của tỉnh Phú Thọ.

* Địa hình: Huyện Kỳ Sơn có địa hình đồi núi thấp, ít núi cao nhƣng độ

dốc lớn từ 30 đến 40o, thấp dần theo hƣớng từ Đông Nam đến Tây Bắc, độ

cao trung bình so với mực nƣớc biển từ 200m đến 300m.

Huyện Kỳ Sơn có cấu tạo địa chất tƣơng đối phức tạp. Theo tài liệu điều

tra thổ nhƣỡng (năm 1974) huyện Kỳ Sơn có hai nhóm đất chính đó là: đất

đồi núi (chiếm 78%) và đất ruộng (chiếm 22%). Ngồi ra còn có các loại đất

phù sa đã đƣợc bồi đắp và chƣa đƣợc bồi đắp. Bên cạnh đó, huyện có nguồn

tài nguyên nƣớc dồi dào với gần 20km của dòng sơng Đà chảy qua, đã tạo

điều kiện thuận lợi cho ngƣời dân trong việc phát triển nông nghiệp. Trên địa



50

bàn huyện còn có những con suối nhỏ cung cấp nƣớc cho sinh hoạt và sản

xuất cho bà con nhân dân.

Thảm rừng huyện Kỳ Sơn khá phong phú, cung cấp nhiều loại gỗ quý

nhƣ lim, lát, keo, bạch đàn và một số loại cây dƣợc liệu nhƣ sa nhân, hồi

sơn, thổ phục linh, ngũ gia bì... ngồi ra, rừng Kỳ Sơn còn cung cấp nhiều loại

lâm sản nhƣ măng, mộc nhĩ, nấm hƣơng...

Hiện trên địa bàn có mỏ đất sét khoảng trên 2 triệu m3 và các mỏ cát ở xã

Hợp Thịnh và xã Hợp Thành rất thuận lợi cho sản xuất nguyên vật liệu xây

dựng. Đây là một trong những nguồn tài nguyên quý giá để phát triển kinh tế

của huyện.

Với địa hình núi non trùng điệp, rừng quốc gia đan xen rừng nguyên

sinh, bên cạnh đó là sự kết hợp của các rặng núi đá vôi, sông đà, suối hồ, hệ

thống hang động, thác nƣớc nhƣ: Thác Thăng Thiên, Hồ Đồng Bài, Hồ Đồng

Bến, Hồ Dụ, Hồ Rợn, Hồ Mè, Suối Thần Buồng Nàng là điều kiện phát triển

các sản phẩm du lịch nghỉ dƣỡng, du lịch cộng đồng, giải trí cuối tuần.

Dãy núi Viên Nam với diện tích 350ha trong hệ sinh thái rừng tự nhiên đa

dạng và phong phú. Nơi đây có dòng suối Anh nƣớc trong xanh mát lành, dọc

theo con suối có 4 thác nƣớc từ độ cao vài chục mét đến hàng trăm mét. Với

cảnh đẹp thiên nhiên hoang sơ và khí hậu trong lành mát mẻ quanh năm hấp dẫn

du khách tới thăm quan và nghỉ dƣỡng. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện Kỳ

Sơn phát triển tiềm năng du lịch, một trong những hoạt động phi nông nghiệp

thu lợi nhuận cao và tạo nhiều việc làm cho ngƣời lao động trên địa bàn.

* Khí hậu, thủy văn: Huyện Kỳ Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa; mùa

đơng lanh, khơ và ít mƣa, mùa hè nóng và mƣa nhiều. Nhiệt động trung bình

năm khoảng 21,8oC - 24,7oC, nhiệt độ cao nhất là 40oC; nhiệt độ thấp nhất là

20oc.

Cảnh quan sinh thái: Các ngọn núi cao có khí hậu mát mẻ tại địa bàn các

xã Phúc Tiến, Dân Hòa, Yên Quang, Độc Lập rất thích hợp cho việc khai thác



51

làm các khu nghỉ dƣỡng, khu điều dƣỡng, nghỉ ngơi, du lịch sinh thái. Ngồi

ra trên đại bàn còn có nhiều con suối lớn nhỏ vừa tận dụng làm nguồn cung

cấp nƣớc cho sinh hoạt, sản xuất của bà con nhân dân vừa có thể sử dụng khai

thác du lịch sinh thái, khám phá.

Lƣợng mƣa trung bình trong năm khoảng 1.769,50 mm nhƣng phân bố

không đều, mƣa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 và chủ yếu tập trung vào các

tháng 7, 8, 9; từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lƣợng mƣa thƣờng không đáng

kể. Độ ẩm trung bình trong năm là 84,5% và sự chênh lệch giữa các tháng khá

lớn, tháng cao nhất (tháng 3) là 90% và tháng thấp nhất (tháng 12) là 30%.

* Các điều kiện tự nhiên khác:

- Tài nguyên đất: Huyện Kỳ Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên là

21.010,3 ha, đƣợc chia làm nhiều loại có nguồn gốc phát sinh khác nhau.

Trong đó, các loại đất chính là đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét,

đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa. Loại đất này chiếm tỷ trọng cao nhất và

phân bố ở khắp các xã trong huyện.

Đất đồng bằng, đất phù sa sông Đà và các con suối nhỏ; đất thung lũng

do sản phẩm dốc tụ. Loại đất này chủ yếu tập trung ở vùng thấp phía Tây Bắc

và Đơng Bắc của huyện, rất thích hợp cho trồng lúa, rau và hoa mầu.

Đất sói mòn trơ sỏi đá do hậu quả của chặt phá rừng trƣớc đây, chủ yếu

tập trung các xã phía Đơng và Đơng Nam. Loại đất này tầng canh tác mỏng,

khó khai thác để sản xuất nơng nghiệp. Tuy khơng có khả năng khai thác để

phát triển sản xuất nơng nghiệp nhƣng có thể sử dụng cải tạo để trồng cỏ,

phục vụ cho phát triển chăn ni đàn gia súc.

- Tài ngun khống sản: Trên địa bàn huyện Kỳ Sơn có các loại

khống sản với trữ lƣợng lớn đó là:

(1) Đá vơi: Chủ yếu phân bố trên địa bàn các xã Dân Hòa, xã Dân Hạ

và xã Độc Lập hiện đang đƣợc khai thác làm nguyên vật liệu xây dựng, đây

là một lợi thế cho huyện trong việc phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng.



52

(2) Đá xây dựng: Cả huyện hiện có khoảng 1.500 ha núi đá nằm ở các

xã Dân Hạ, xã Hợp Thịnh, xã n Quang và xã Dân Hòa có thể khai thác

làm vật liệu xây dựng hoặc làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng.

(3) Đất sét: Có khoảng 1.285 triệu m3 đất sét trữ lƣợng C1+C2 phân bố

trên địa bàn xã Mơng Hóa, đƣợc sử dụng là ngun liệu chủ yếu cho sản xuất

gạch ngói cũng nhƣ là cơ sở phát triển một số loại sản phẩm cao cấp từ đất sét

trong tƣơng lai.

(4) Đất Bazan: Kỳ Sơn còn là một địa phƣơng có trữ lƣợng lớn đất

bazan và chất lƣợng tốt, đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển công

nghiệp, vật liệu xây dựng.

(5) Quặng đa kim (vàng, bạc, đồng, chì, kẽm) nằm rải rác ở các xã Phúc

Tiến, Dân Hòa, n Quang, Mơng Hóa.

- Tài nguyên nước: Đƣợc cung cấp chủ yếu bằng 3 nguồn chính đó là:

mạch nƣớc ngầm, nƣớc mặt và nƣớc mƣa tự nhiên.

Nƣớc ngầm: là tài nguyên nƣớc lớn và đáng tin cậy nhất đối với nhân

dân các dân tộc huyện Kỳ Sơn. Nhìn chung nguồn nƣớc ngầm của huyện

khá phong phú, trữ lƣợng tƣơng đối lớn, mạch nông từ 4 đến 12m và lƣu

lƣợng nƣớc giếng mùa cạn là 1,5 đến 2,0 m. Theo điều tra, chất lƣợng nƣớc

ngầm của huyện phần lớn là nƣớc ngọt mềm, chƣa bị ô nhiễm. Đây là nguồn

tài nguyên quan trọng cần đƣợc bảo vệ và khai thác một cách hợp lý để cung

cấp nƣớc sạch sinh hoạt cho nhân dân và nƣớc cho sản xuất nơng nghiệp

trên địa bàn huyện.

Nƣớc mặt: Nguồn chính từ dòng sơng Đà và nhiều con suối chạy qua

địa bàn huyện. Trong đó, nguồn nƣớc từ sơng Đà là chủ yếu, cung cấp nƣớc

cho ngƣời dân sinh hoạt và cho sản xuất nơng nghiệp, còn các dòng suối ở

huyện Kỳ Sơn thƣờng ngắn, nhỏ và có độ dốc cao, vì vậy thƣờng khơng có

nƣớc vào mùa khơ và úng lụt vào mùa mƣa. Hiện tại lại chƣa có trạm thuỷ

văn nên việc điều chỉnh, giữ nƣớc còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hƣởng lớn

đến sản xuất nơng nghiệp cũng nhƣ sinh hoạt cho ngƣời dân trong huyện.



53

Nƣớc mƣa: với lƣợng nƣớc mƣa trung bình 1.769,50 mm trong năm,

đây là nguồn nƣớc bổ sung cho các ao, hồ, sông, suối và cho các sinh hoạt

khác của nhân dân trong vùng. Nƣớc mƣa là nguồn cung cấp chủ yếu cho

sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đặc biệt là đối với các cây trồng lâu năm

và rừng có diện tích lớn, địa hình phức tạp, khó tƣới nhân tạo.

Trên địa bàn huyện Kỳ Sơn có một số hồ chứa nƣớc lớn nhỏ, nhƣng chỉ

kể đến hai hồ lớn đó là: hồ Đồng Bài và hồ Đồng Bến với diện tích trên 48

ha. Hai hồ này đóng vai trò dự trữ nguồn nƣớc mặt quan trọng trong việc

nuôi trồng thủy sản và bảo đảm nƣớc thủy lợi cho các xã quanh hồ sinh hoạt

và sản xuất nông nghiệp nhƣ xã Hợp Thành, xã Phú Minh, xã Hợp Thịnh

(quanh hồ Đồng Bài), xã Mông Hóa, xã Dân Hạ, xã Dân Hòa (quanh hồ

Đồng Bến).

Nhƣ vậy, đứng trên góc độ phân bố tài nguyên nƣớc, ngồi hệ thống

nƣớc ngầm, nƣớc mƣa có thể khai thác ở khắp các vùng trên địa bàn huyện,

còn lại tài nguyên nƣớc mặt, bao gồm sông, suối, ao, hồ phân bố khơng đều,

chủ yếu tập trung ở vùng phía Tây của huyện và một số suối nhỏ nằm rải rác

ở các xã trong huyện. Hệ thống ao, hồ thì nhỏ và ít, các con suối lại ngắn và

có độ dốc cao nên khả năng dự trữ nƣớc mặt rất hạn chế, điều này làm ảnh

hƣởng rất lớn đến việc bảo đảm nguồn nƣớc sinh hoạt và sản xuất nông

nghiệp của huyện, nhất là các xã vùng cao.

- Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 12.815,61 ha,

chiếm 60,99% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện, trong đó: đất rừng

phòng hộ chiếm 868,93 ha, đất rừng sản xuất chiếm 10.689,48 ha, còn lại là

đất rừng đặc dụng chiếm 1.257,20 ha.

Độ che phủ rừng đạt 45%, xấp xỉ bằng con số của tồn tỉnh Hòa Bình

(45,5%). Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xã trong huyện, nếu biết phát

huy tác dụng, khai thác triệt để, thì việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo



54

hƣớng sản xuất nông - lâm nghiệp kết hợp của huyện sẽ đem lại hiệu quả

kinh tế cao.

Ngoài việc kết hợp phát triển rừng ngun liệu, hình thành đƣợc vùng

sản xuất hàng hóa từ phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trạng trại. Rừng còn

đóng góp một phần to lớn trong việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái, rửa nƣớc

đầu nguồn, cải thiện cảnh quan mơi trƣờng, hạn chế q trình sói mòn và

ngăn cản lũ lụt, góp phần vào việc phát triển kinh tế của huyện, nhất là các

xã thuộc vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn khơng có khả năng phát triển

những ngành kinh tế khác.

- Về Du lịch: Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và có một nền văn hóa

lịch sử lâu đời, đã tạo cho huyện Kỳ Sơn có nhiều tiềm năng phát triển

ngành du lịch nhƣ:

+ Du lịch sinh thái, nghỉ dƣỡng cuối tuần: Với vị trí gần thủ đơ Hà Nội,

có thể kết nối trực tiếp với thủ đô Hà Nội qua các tuyến Quốc lộ 6 và đƣờng

cao tốc Hòa Lạc - Hòa Bình, là những thuận lợi nhất định để phát triển loại

hình du lịch này. Bên cạnh đó trên địa bàn huyện, còn có nhiều di chỉ khảo

cổ học, hang động, núi đá tự nhiên, đa dạng.; với đa phần các xã trên địa bàn

huyện có địa hình thơn bản xen kẽ với những dãy núi cao, những thung lũng

rộng, phẳng và hệ thống sông suối, rừng tự nhiên đan xen đã tạo cho Kỳ Sơn

có một cảnh quan thiên nhiên sơn thủy hữu tình. Hiện tại một số khu du lịch

đã và đang tiến hành xây dựng và đƣa vào sử dụng tận dụng tốt lợi thế về

cảnh quan thiên nhiên, diện tích mặt hồ, thác nƣớc phải kể đến nhƣ: Khu du

lịch cao cấp Cao Vàng; khu biệt thự Nhà vƣờn Hồ Dụ, Khu du lịch sinh thái

Thác Thăng Thiên hiện đang đƣợc khai thác,…

+ Du lịch thể thao - giải trí:

. Khu thể thao sân Golf Phúc Tiến (xã Phúc Tiên và xã Mơng Hóa):

Với quy mơ khoảng 240ha; Tính chất là khu thể thao giải trí đánh Golf kết

hợp các dịch vụ liên quan tạo thành tổ hợp giải trí hiện đại. Các khu chức



55

năng bao gồm: Nhà câu lạc bộ; quầy bán dụng cụ Golf chuyên dụng; Sân tập

An Việt Club, nhà hàng và các khu chức năng khác.

. Khu thể thao sân Golf Hòa Bình Gleximco (xã Dân Hạ, Thị Trấn Kỳ

Sơn, Huyện Kỳ Sơn và xã Trung Minh, Thành phố Hòa Bình): Với Quy mơ

khoảng 200ha; Tính chất là khu dịch vụ thể thao tầm cỡ vùng với các sản

phẩm, dịch vụ cao cấp; Các khu chức năng đƣa vào khai thác bao gồm: Sân

Golf 36 lỗ; khu thể thao trong nhà; khu vui chơi giải trí; khu nghỉ dƣỡng cao

cấp và các khu chức năng hỗ trợ khác…

. Các hoạt động thể thao mặt nƣớc tại các hồ (Hồ Đồng Bến, Hồ Rợn,

Hồ Mè và trên Sông Đà): Ca nô, lƣớt ván, dù lƣợn, câu cá, chèo thuyền

Kayak, đạp xe trên mặt nƣớc, motor nƣớc, đua thuyền, du thuyền tham quan

cảnh quan sông Đà, khu Bungalow,…

. Thể thao mạo hiểm (Đỉnh Viên Nam, cao 1.031m - Xóm Đồn Kết,

xã Phúc Tiến): Quy mơ 120ha; tính chất là Khu đơ thị sinh thái kết hợp các

hoạt động vui chơi, giải trí, nghỉ dƣỡng và thể thao mạo hiểm nhƣ: Leo núi,

nhảy dù, xe đạp, motor địa hình…

. Khu du lịch bãi nổi Sơng Đà (xã Hợp Thành): Quy mô xây dựng các

hạng mục và hạ tầng khoảng 17ha. Tính chất là khu nghỉ dƣỡng kết hợp vui

chơi giải trí cao cấp. Các khu chức năng bao gồm: Bến phà du lịch; khu

Resort ven sông, biệt thự nghỉ dƣỡng, khu công viên công nghệ cao; khu

cơng viên nƣớc; khu ẩm thực, khu chăm sóc sức khỏe, khách sạn cao cấp…

+ Du lịch sinh thái vƣờn đồi, sinh thái nông nghiệp: Với việc giới thiệu,

đƣa du khách tới các vùng trồng các loại cây ăn quả đặc trƣng của địa

phƣơng trên các đồi, vƣờn để du khách có thể trải nghiệm và kiểm nghiệm

thực tế. Mua bán sản phẩm, thƣởng thức ẩm thực, vui chơi giải trí, nghỉ

ngơi… Một số địa điểm nhƣ xã Dân Hòa (trồng cây Hồng Bì); xã Mơng Hóa

(trồng đào, cây cảnh); xã Phú Minh, Hợp Thịnh (trồng các loại cây có múi

nhƣ: bƣởi, cam…).



56

+ Du lịch văn hoá, lịch sử - tâm linh: Kỳ Sơn cũng là huyện có nền văn

hố vật thể và phi vật thể lớn. Trong những năm qua, đƣợc sự quan tâm của

các cấp, các ngành trong việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa dân tộc.

Huyện Kỳ Sơn đã và đang triển khai bảo tồn và phát triển nền văn hóa đậm đà

bản sắc dân tộc Mƣờng và xây dựng làng, bản văn hóa gắn với xây dựng nơng

thơn mới. Tính đến nay đã có 9/10 xã, thị trấn khôi phục lại đội cồng chiêng,

thƣờng xuyên tham gia biểu diễn trong các ngày lễ, tết hay những sự kiện trọng

đại của địa phƣơng. Có nhiều gia đình, mọi thành viên đều biết sử dụng các nhạc

cụ truyền thống, hát dân ca Mƣờng. Có nhiều xóm, bản nếu đƣợc đầu tƣ về cơ sở

hạ tầng và tổ chức dịch vụ du lịch tốt, có thể thu hút nhiều lƣợt khách du lịch

trong và ngoài nƣớc tới tham quan tìm hiểu nền văn hóa dân tộc ít ngƣời.

+ Du lịch cộng đồng: Điểm du lịch cộng đồng xóm Quốc (xã Phú Minh)

và xóm Mùi (xã Độc Lập): Đƣợc định hƣớng phát triển du lịch cộng đồng và

xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trƣng của địa phƣơng để thu hút khách du

lịch nhƣ: Kiến trúc nhà truyền thống; các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân

gian truyền thống; hàng thủ công mỹ nghệ lƣu niệm... Sản phẩm và dịch vụ

bao gồm: Cơng trình phục vụ đón tiếp; dịch vụ ăn uống, lƣu trú Homestay; các

hoạt động trải nhiệm, thể thao vui chơi giải trí và biểu diễn nghệ thuật.

2.1.2. Điều kiện về kinh tế - xã hội

2.1.2.1. Tình hình kinh tế:

Năm 2016, Tốc độ tăng trƣởng ngành Nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 4%;

Công nghiệp - xây dựng đạt 16,4%, dịch vụ đạt 14,5%. Cơ cấu kinh tế: Nông,

lâm nghiệp chiếm 27,13%; Công nghiệp - xây dựng chiếm 38,9%; Dịch vụ

chiếm 34,68%. Thu nhập bình quân đầu ngƣời đạt 40 triệu đồng/ngƣời/năm;

thu ngân sách Nhà nƣớc trên địa bàn đạt huyện trên 37 tỷ đồng; tổng thu, chi

ngân sách địa phƣơng đạt 282,4 tỷ đồng. Tỷ lệ trồng rừng sau khai thác đạt

520 ha, đạt 116% kế hoạch, độ che phủ rừng 52%. Tổng giá trị sản xuất



57

Nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 389,74 tỷ, bằng 104% so cùng kỳ. Sản xuất

công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đƣợc đẩy mạnh, tổng giá trị sản xuất công

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng đạt 1.127 tỷ đồng (trong đó xây dựng

đạt 511,2 tỷ đồng) bằng 112,8% so cùng kỳ. Hoạt động dịch vụ, thƣơng mại

đã đáp ứng đƣợc nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế và

nhu cầu thiết yếu của nhân dân, tổng giá trị lƣu chuyển hàng hóa, dịch vụ đạt

556,8 tỷ đồng, bằng 110% so cùng kỳ năm 2015.

Giai đoạn 2012-2016, Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản đƣợc duy trì

ổn định, an ninh lƣơng thực đƣợc đảm bảo, Tổng giá trị sản xuất nông, lâm

nghiệp, thuỷ sản năm 2016 đạt 389,74 tỷ đồng, giảm gần 1% so với năm 2012

(392 tỷ đồng). Công tác xây dựng nông thôn mới: giai đoạn 2012-2016,

Huyện Kỳ Sơn tổ chức công bố 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 03 xã đạt từ

15-18 tiêu chí; 02 xã đạt từ 10-14 tiêu chí và 02 xã đạt từ 5-9 tiêu chí. Sản

xuất cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp có bƣớc phát triển khá; tồn huyện

hiện có 97 dự án đăng ký đầu tƣ, với tổng số vốn đăng ký 1.252,7 tỷ đồng;

các Khu công nghiệp, cụm, điểm công nghiệp đƣợc tỉnh phê duyệt đƣợc triển

khai xây dựng và đƣa vào hoạt động góp phần tích cực vào giải quyết việc

làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, tăng thu ngân sách cho địa phƣơng.

Các ngành nghề truyền thống nhƣ: sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất chổi

chít, chế biến nơng sản, sản xuất đồ mộc dân dụng và xuất khẩu... tiếp tục

đƣợc duy trì phát triển khá. Tổng giá trị cơng nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

năm 2016 đạt 1.919,7 tỷ đồng, tăng 76,3% so với năm 2012 (năm 2012 đạt

1.466,1 tỷ đồng).



58

Bảng 2.1: Tăng trƣởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đvt: Tỷ đồng

Tốc độ

phát triển

Chỉ tiêu



TT



2012



2013



2014



2015



2016



BQ

(20122016)

(%/năm)



1



Tổng GDP (Theo giá



946,9



1.136,2



1.282



1.382,4



2.073,54



1,49



349,6



361,4



445,4



468,2



389,7



1,43



Công nghiệp - TTCN



249,5



323,0



356,0



400



1.127



1,58



Dịch vụ - Thƣờng mại



347,8



451,8



480,6



514,2



556,8



1,45



28,5



29,7



29,7



28,8



27,13



36,9



36,6



36,1



36,8



38,19



34,6



33,7



34,2



34,4



34,68



năm 2010)

Nông nghiệp - Lâm

ghiệp - Thủy sản



2



Cơ cấu kinh tế

Nông nghiệp - Lâm

ghiệp - Thủy sản

Công nghiệp - Xây

dựng

Dịch vụ - Thƣơng mại



( Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Kỳ Sơn)

2.1.2.2. Thể thao - Văn hóa:

Hoạt động văn hóa đƣợc quan tâm, các hoạt động văn hóa, thơng tin, phát

thanh truyền hình, thể dục thể thao hƣớng vào phục vụ nhiệm vụ chính trị của

địa phƣơng, phục vụ kỷ niệm các ngày lễ lớn và các sự kiện quan trọng đƣợc

tổ chức thƣờng xuyên. Hệ thống các cơ sở văn hóa cộng đồng đã đƣợc quan

tâm phát triển. Các hoạt động văn hóa quần chúng ở cơ sở, nhất là phong trào

văn nghệ, quần chúng rất đƣợc hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho phát

triển. Tiếp tục củng cố, xây dựng làng, thôn, bản, khu phố văn hố, gia đình

văn hố và đạt nhiều kết quả tích cực (Năm 2016, tồn huyện có 6.350/7.989,



59

đạt tỷ lệ 79,5% hộ gia đình được cơng nhân gia đình văn hóa; 64/85 khu dân

cư được cơng nhận “Làng văn hóa” chiếm tỷ lệ 75,3%; số cơ quan, doanh

nghiệp đạt cơ quan văn hóa là 25 đơn vị, đạt tỷ lệ 81%; số trường học đạt

trường văn hóa 27/27 trường, đạt 100%). Công tác Quản lý nhà nƣớc về lĩnh

vực văn hoá và các dịch vụ văn hoá đƣợc tăng cƣờng, góp phần ngăn chặn các

tệ nạn xã hội và xây dựng mơi trƣờng văn hố lành mạnh ở địa phƣơng.

Công tác thể dục thể thao đƣợc chú trọng đầu tƣ và phát triển, các cơ sở

luyện tập đƣợc từng bƣớc đầu tƣ; lực lƣợng vận động viên năng khiếu tham

gia các giải của tỉnh đạt đƣợc nhiều giải cao nhƣ mơn bơi lội. Tuy vậy, thành

tích thể dục thể thao còn thấp so với các đơn vị trong tỉnh, lực lƣợng vận động

viên còn mỏng, đội ngũ cán bộ chuyên môn và cơ sở vật chất huấn luyện thi

đấu chƣa đạt chuẩn. Ngồi ra, cơng tác tun truyền cho hoạt động thể dục

thể thao còn hạn chế.

2.1.2.3. Dân số:

Cơng tác dân số, gia đình và trẻ em đƣợc Dân số huyện Kỳ Sơn giai đoạn

từ năm 2012 đến năm 2016 duy trì ở mức ổn định, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

khoảng 1%/năm. Năm 2016, tổng dân số của huyện là 34.935 nghìn ngƣời,

đơng thứ 4 so với tồn tỉnh Hòa bình; mật độ dân số 1.538 ngƣời/km2, phân

bố khơng đồng đều. Các xã có mật độ dân số cao đó là xã Hợp Thịnh, xã Hợp

Thành, xã Mơng Hóa, xã Phú Minh, Thị trấn Kỳ Sơn, khoảng 225 ngƣời/km2,

trong khi đó một số xã có mật độ dân số thấp hơn nhƣ xã Dân Hòa, xã Dân

Hạ, xã Yên Quang khoảng 130 ngƣời/km2, riêng hai xã vùng cao, vùng khó

khăn nhƣ xã Độc Lập và xã Phúc Tiến chỉ khoảng 50 ngƣời/km2. Dân số theo

khu vực cho thấy, dân số tập trung chủ yếu ở vùng nơng thơn với 32.115

ngƣời chiếm 92%, thành thị có 2.820 ngƣời chiếm 8%.

Từ xa xƣa huyện Kỳ Sơn là địa bàn sinh sống của đa phần ngƣời dân tộc

Mƣờng, chiếm tỷ lệ 70% dân số toàn huyện; dân tộc Kinh sống xen lẫn với

ngƣời Mƣờng chiếm khoảng hơn 27% dân số tồn huyện; còn lại là ngƣời dân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Xây dựng tổ chức gọn, mạnh, hợp lý và thường xuyên chăm lo việc tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác quản lý nhà nước, tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển du lịc...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×