Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Với tư cách là một ngành kinh tế, để phát triển du lịch cần thiết phải xuất hiện và tồn tại 2 yếu tố cơ bản là Cung và Cầu, trong đó:

Với tư cách là một ngành kinh tế, để phát triển du lịch cần thiết phải xuất hiện và tồn tại 2 yếu tố cơ bản là Cung và Cầu, trong đó:

Tải bản đầy đủ - 0trang

15

+ Tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch: đƣợc xem là yếu tố để tăng

Cầu; yếu tố cầu nối giữa Cung và Cầu trong du lịch.

- Bên cạnh những điều kiện cơ bản để có thể hình thành thị trƣờng (mua

bán) và phát triển du lịch, hoạt động du lịch chỉ có thể phát triển tốt trong điều

kiện:

+ Có môi trƣờng trong lành về tự nhiên, xã hội, và khơng có dịch bệnh:

du lịch là ngành kinh tế rất nhạy cảm và gắn liền với các yếu tố môi trƣờng.

+ Đảm bảo an ninh, khơng có khủng bố, xung đột vũ trang: Tình hình bất

ổn định ở Indonesia, Phillippine; khủng bố ở Mỹ; chiến tranh ở Trung Đông;

v.v. đều đƣợc xem là nguyên nhân chính làm giảm lƣợng khách du lịch đến

những khu vực này.

1.1.3. Đặc trưng của du lịch

1.1.3.1. Các yếu tố cấu thành nên hiện tượng du lịch

Có bốn nhóm yếu tố cấu thành nên hiện tƣợng du lịch bao gồm: Du

khách, nhà cung cấp dịch vụ du lịch, chính quyền địa phƣơng và ngƣời dân sở

tại. Bốn nhóm yếu tốt này có mối quan hệ tƣơng tác lẫn nhau.

- Du khách: Là những ngƣời thực hiện các chuyến hành trình với mục

đích du lịch. Họ phải là những ngƣời có thời gian nhàn rỗi, có nhu cầu du lịch

và đủ khả năng tài chính để đi du lịch. Ngày nay khi mức sống và văn hóa của

ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao, cộng thêm với sức ép của cuộc sống

hiện đại thì nhu cầu du lịch cũng tăng theo và trở thành một nhu cầu phổ biến.

- Nhà cung cấp dịch vụ: Là những ngƣời cung cấp trọng vẹn hay một

phần của dịch vụ du lịch bao gồm các công ty lữ hành, nhà hàng, khách sạn,

khu vui chơi, giải trí, nhà sản xuất đồ lƣu niệm... Du khách có nhu cầu đi du

lịch thì cần tới những nhà cung cấp dịch vụ du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình.

- Chính quyền địa phương: Sản phẩm du lịch là không thể di chuyển

đƣợc, do đó nếu muốn tiêu dùng nó thì ngƣời có nhu cầu phải đến nơi có tài

ngun du lịch. Chính quyền địa phƣơng là tổ chức quản lý tại nơi có tài



16

nguyên du lịch. Nhƣng về mặt kinh tế, du lịch mang lại một khoản thu cho địa

phƣơng. Nhƣng về mặt xã hội, lại đặt ra những thách thức với vấn đề quản lý

hoạt động kinh doanh du lịch và quản lý sinh hoạt của lƣợng khách từ nơi

khác tới để khơng có tác động xấu đến mơi trƣờng tự nhiên, văn hóa, an ninh

trật tự. Trên thực tế nếu chính quyền địa phƣơng tạo đƣợc một mơi trƣờng

thuận lợi để phát triển du lịch, có hƣớng phát triển đúng đắn sẽ có tác động

thu hút khách du lịch và tạo điều kiện cho việc kinh doanh du lịch tại địa

phƣơng phát triển mạnh mẽ.

- Người dân sở tại: Hiện tƣợng du lịch có tác động rất lớn đến cƣ dân sở

tại khi nơi họ sinh sống xuất hiện nhiều du khách xen vào cuộc sống của họ.

Về mặt kinh tế, nó mang lại cơ hội việc làm cho họ trong ngành du lịch. Về

mặt xã hội, họ có cơ hội giao lƣu văn hóa, tăng cƣờng hiểu biết với nhiều

ngƣời từ các vùng miền khác. Tóm lại, du lịch giúp cƣ dân sở tại tăng cƣờng

các mối quan hệ xã hội và mở rộng thế giới quan, nhân sinh quan. Thái độ của

ngƣời dân địa phƣơng cũng là một nhân tốt ảnh hƣởng đến hoạt động du lịch,

sự thân thiện, hiền hòa, của ngƣời dân địa phƣơng giúp thu hút và tạo sự thoải

mái cho du khách, nói cách khác sự hiếu khách của ngƣời dân cũng làm giàu

thêm cho tài nguyên du lịch. Tuy nhiên, du lịch cũng có thể gây ra các tác

động tiêu cực nhƣ tiêm nhiễm các thói hự tật xấu, ảnh hƣởng đến văn hóa và

nếp sinh hoạt thƣờng nhật của ngƣời dân.

Do có mối quan hệ tƣơng tác lẫn nhau này của bốn nhóm yếu tố cấu

thành nên hiện tƣợng du lịch nên ngành du lịch cần phải có sự phối hợp đồng

bộ để hoạt động du lịch mang lại các lợi ích kinh tế và hiệu quả xã hội cao.

1.1.3.2. Đặc thù của sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa yếu tố hữu hình và yếu tố vơ hình,

nó là tồn bộ những sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách du lịch nhằm thỏa

mãn nhu cầu của họ. Sản phẩm du lịch về cơ bản có các đặc trƣng sau:



17

Là sự kết hợp của nhiều sản phẩm dịch vụ nhƣ: dịch vụ di chuyển, phòng

trọ, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tham quan, nghỉ dƣỡng... Thành phần chính của

sản phẩm du lịch là dịch vụ, dịch vụ thƣờng chiếm từ 80% đến 90%; hàng hóa

chiếm tỷ lệ rất nhỏ do đó việc đánh giá chất lƣợng sản phẩm du lịch là rất khó

khăn. Sản phẩm du lịch thƣờng là một kinh nghiệm nên rất dễ bị sao chép, bắt

chƣớc và việc làm khác biệt hóa sản phẩm mang tính cạnh tranh khó khăn

hơn kinh doanh hàng hóa.

Sản phẩm du lịch thƣờng đƣợc tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du

lịch. Do đó sản phẩm không thể dịch chuyển đƣợc, trên thực tế du lịch gắn

liền với việc di chuyển, không thể đƣa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du

lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn

nhu cầu của mình thơng qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch về cơ bản là khơng cụ thể, phần lớn q trình tạo ra và

tiêu thụ sản phẩm không trùng nhau về khơng gian và thời gian do đó sản

phẩm du lịch không thể cất trữ, tồn kho nhƣ các loại hàng hóa khác.

1.1.3.3. Tính thời vụ trong du lịch

Tính thời vụ trong du lịch đƣợc hiểu là những biến động lặp đi, lặp lại

theo một chu kỳ thời gian (hàng năm) của cung và cầu các dịch vụ và hàng

hóa du lịch dƣới tác động của một số nhân tố xác định nhƣ thời tiết, khí hậu,

loại hình du lịch... và trong thực tế thì đó là tập hợp những biến động theo

mùa của cung và cầu du lịch tại các khu du lịch.

Tính thời vụ có ở tất cả các điểm, các khu vực có hoạt động du lịch.

Những quá trình diễn ra giữa các vùng, các khu vực có sự khác nhau phụ

thuộc vào các yếu tố khác.

Một điểm du lịch, khu du lịch thì có thể có một hoặc nhiều thời vụ du

lịch và nó phụ thuộc vào các thể loại du lịch phát triển ở khu vực đó. Tại các

khu vực mà hoạt động du lịch phát triển thì mùa du lịch thƣờng kéo dài hơn,

mức độ thay đổi của cƣờng độ hoạt động du lịch nhỏ hơn; ngồi ra đơ dài của



18

mùa du lịch và cƣờng độ mùa chính còn phụ thuộc vào thể loại du lịch khác

nhau. Các yếu tốt tạo nên tính thời vụ của du lịch, bao gồm:

- Nhóm nhân tố mang tính tự nhiên: Trong nhóm nhân tố tự nhiên thì khí

hậu là nhân tố có tính ảnh hƣởng mạnh mẽ nhất đến du lich, thơng thƣờng khí

hậu là nhân tố có tính ảnh hƣởng mạnh mẽ nhất đến du lịch, thơng thƣờng khí

hậu tác động lên cả cung và cầu du lịch. Tuy nhiên khí hậu có ảnh hƣởng

khác nhau tới từng loại hình du lịch. Đối với du lịch thiên nhiên thì ảnh hƣởng

của nhân tố khí hậu là rất lớn, điều kiện khí hậu thuận lợi là cơ sở để nảy sinh

cầu với du lịch tự nhiên; nhƣng đối với loại hình du lịch chữa bệnh, du lịch

văn hóa... thì vào mùa xn khi khí hậu trong lành và dịu mát mới là mùa

thích hợp.

- Nhân tố mang tính kinh tế - xã hội: Con ngƣời chỉ đi du lịch khi nhàn

rỗi, vậy lƣợng khách du lịch tăng lên khi có nhiều ngƣời có khoảng thời gian

nhàn rỗi vào cùng một khoảng thời gian trong năm.

Sự phân bổ không đồng đều của quỹ thời gian nhàn rỗi của các nhóm dân

cƣ gây ảnh hƣởng khơng đồng đều lên lƣợng khách du lịch. Khi xem xét tác

động của thời gian nhàn rỗi lên tính thời vụ phải xem xét ở cả hai khía cạnh:

Khía cạnh thứ nhất là thời gian nghỉ phép tỏng năm có thể tác động lên thời

vụ du lịch. Thực tế cho thất ở những quốc gia có thời gian nghỉ phép ngắn thì

số lần đi du lịch trong năm cũng ít. Ngƣời dân có xu hƣớng đi nghỉ vào các

dịp lễ, tết nếu thời gian nghỉ ngắn họ sẽ chủ yếu đi du lịch vào dịp có thời

gian nghỉ nhiều nhất chẳng hạn nhƣ dịp tết hay giáng sinh, điều này tạo nên

mùa du lịch chính ở nhiều vùng, nhiều quốc gia; Ở khía cạnh thứ hai của tác

động thời gian nhà rỗi lên du lịch là thời gian nghỉ của các trƣờng học. Thời

gian nghỉ này, học sinh có một lƣợng thời gian nhàn rỗi khá lớn do đó các bậc

phụ huynh thƣờng bố trí những chuyến du lịch vào thời gian không phải đến

trƣờng cảu học sinh để cả gia đình có thể cùng nhau vui vẻ mà không ảnh

hƣởng đến kế hoạch học tập của con em mình. Tại các quốc gia, học sinh đều



19

có kỳ nghỉ hè do đó mùa hè thƣờng là mùa du lịch chính ở hầu hết mọi nơi,

một số quốc gia còn có thêm kỳ nghỉ đơng cũng góp phần làm tăng đáng kể

lƣợng khách du lịch vào mùa đông.

- Phong tục tập quán: Phong tục tập quán là một trong số các yếu tố tác

động trực tiếp lên lƣợng khách du lịch và tạo nên sự tập trung lƣợng khách du

lịch vào những thời vụ nhất định.

Thông thƣờng những phong tục tập qn có tính chất lịch sử do đó nó

khá bền vững. Cùng với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội

có thể tạo nên những phong tục mới nhƣng khó có thể thay đổi đƣợc những

phong tục cũ. Ở Việt Nam, ta có thể thấy rõ những tác động của phong tục tập

quán, theo phong tục mùa xuân là mùa của những tháng hội hè, lễ bái. Tháng

hai, tháng ba âm lịch thì hầu hết các chùa đều tổ chức Lễ hội bất kể thời tiết

thuận lợi hay không (nhƣ: Hội Chùa Hƣờng, Hội Chùa Thầy, Hội Đền Hùng,

Hội Lim...).

- Các nhân tố khác: Ngồi ra còn có một số nhân tố khác tác động đến

tính mùa vụ của du lịch có thể kể thêm ở đây nhƣ:

(+) Chất lượng của dịch vụ du lịch;

(+) Yếu tố tâm lý;

(+) Tâm lý bắt chước.

Tính thời vụ trong du lịch về cơ bản có tác động bất lợi đến hoạt động du

lịch. Vì tính mùa vụ mà du lịch vào chính vụ thì q tải làm giảm chất lƣợng

dịch vụ, có thể ảnh hƣởng đến đời sống của dân cƣ sở tại, giao thơng, mơi

trƣờng, khó khăn cho việc quản lý đối với chính quyền địa phƣơng do lƣợng

khách tập trung đổ về tại một thời điểm quá đông. Vào các mùa khác thì

lƣợng khách thƣa thớt khơng đảm bảo hiệu quả kinh doanh, một số lao động

có thể mất việc, chính quyền thì bị giảm thu ngân sách. Do đó Nhà nƣớc,



20

chính quyền địa phƣơng và các cơ sở kinh doanh du lịch phải phối hợp để

giảm bớt tính thời vụ trong du lịch.

1.1.3.4. Lao động trong du lịch

Lao động trong du lịch là hoạt động có mục đích của con ngƣời. Con

ngƣời vận động sức lực của bản thân; hay sử dụng công cụ lao động để tác

động vào giới tự nhiên, làm biến đổi vật chất đó và làm cho chúng thích ứng

để thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí, học hỏi, khám phá... của con ngƣời, cụ

thể là khách du lịch. Lao động trong ngành du lịch là yếu tố quan trọng khơng

thể thiếu góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển. Lao động trong du lịch

có thể chia thành ba nhóm:

- Nhóm lao động có chức năng quản lý Nhà nước về du lịch: Nhóm lao

động này bao gồm những ngƣời làm việc trong các cơ quan quản lý về du lịch

từ Trung ƣơng đến địa phƣơng. Bộ phận lao động này có vai trò rất quan

trọng trong việc xây dựng chiến lƣợc phát triển du lịch của quốc gia và của

từng địa phƣơng, tham mƣu chính quyền trong việc đề ra đƣờng lối và chính

sách phát triển du lịch bền vững và có hiệu quả. Mặt khác họ cũng đại diện

cho Nhà nƣớc để hƣớng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du

lịch có hiệu quả cũng nhƣ kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh đó. Từ

chức năng và nhiệm vụ của mình, nhóm lao động này đòi hỏi phải có kiến

thức tổng hợp và chuyên sâu về một số lĩnh vực mà công việc của họ liên

quan một cách trực tiếp.

- Nhóm lao động làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo du lịch:

Nhóm lao động này gồm những ngƣời làm việc trong các cơ sở giáo dục và

đào tạo nhƣ các cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ở các trƣờng Đại học, Cao

đẳng, Trung học chuyên nghiệp và các cán bộ nghiên cứu ở các tổ chức các

viện khoa học du lịch. Số lƣợng lao động này chiếm tỷ lệ rất thấp trong toàn

lao động ngành du lịch và có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du

lịch. Công việc của họ về cơ bản ổn định và có thu nhập đều đặn. Chất lƣợng



21

của lao động làm việc trong ngành du lịch chịu tác động rất lớn của những

ngƣời làm công tác đào tạo do vậy bộ phận này cần phải đƣợc đào tạo bài

bản, lâu dài, hƣớng tới trình độ ngày một cao.

- Nhóm lao động hoạt động trong ngành kinh doanh du lịch: Nhóm lao

động này đƣợc chia thành nhóm nhỏ là nhóm lao động quản lý và nhóm lao

động thừa hành.

- Nhóm lao động quản lý: Nhóm lao động quản lý trong lĩnh vực kinh

doanh du lịch đƣợc hiểu là những ngƣời làm công tác quản lý thuộc các đơn

vị kinh tế, cơ sở doanh nghiệp kinh doanh du lịch nhƣ khách sạn, hãng du

lịch, lữ hành, vận tải, nhà hàng... Lao động của họ có hai đặc điểm: Một là,

lao động trí óc, cơng cụ chủ yếu của lao động là tƣ duy; ngƣời quản lý trong

lĩnh vực kinh doanh du lịch dựa trên nghiên cứu các tình huống, từ đó bằng

kiến thức và kinh nghiệm của mình đƣa ra các quyết định cho quá trình kinh

doanh du lịch; Hai là lao động tổng hợp; là ngƣời quản lý trong lĩnh vực kinh

doanh du lịch nên các mối quan hệ của họ rất đa dạng và phức tạp; đó là một

xã hội thu nhỏ bao gồm các mối quan hệ với khách hàng, quan hệ với đối tác,

quan hệ với chính quyền, quan hệ với nhân viên cấp dƣới, cấp tren... chƣa kể

đến các mối quan hệ nhƣ gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng... có quan hệ

diễn ra trong thời gian ngắn, có quan hệ bền chặt, lâu đài. Là ngƣời quản lý họ

quản tham gia vào đó một cách tích cực và giải quyết tốt các mối quan hệ đó

để đơn vị hoạt động ổn đinh, kinh doanh có hiệu quả. Từ đặc điểm này mà lao

động quản lý là lao động tổng hợp. Tính tổng hợp của nó biểu hiện ở chỗ vừa

là lao động quản lý vừa là lao động giáo dục, lao động chuyên môn, lao động

của các hoạt động xã hội khác.

- Nhóm lao động thừa hành: Là nhóm lao động thực hiện nghiệp vụ kinh

doanh du lịch. Họ đƣợc hiểu là những ngƣời trực tiếp tham gia vào quá trình

kinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ và phục vụ cho khách. Nhóm

lao động này rất đơng đảo, thuộc nhiều ngành nghề khác nhau (Ví dụ nhƣ:



22

nhân viên phục vụ, lễ tân trong khách sạn; nhân viên bƣng bê, đầu bếp trong

các nhà hàng; nhân viên điều hành chuyến đi và hƣớng dẫn viên du lịch trong

các công ty lữ hành...). Nhóm nhân viên này đòi hỏi phải thành thạo chun

mơn và có thái độ phục vụ khách tốt. Nghề nghiệp của họ gắn chặt với tình

hình kinh doanh du lịch do đó có thể thấy thu nhập, cƣờng độ công việc của

họ gắn với đặc điểm của hoạt động kinh doanh du lịch. Vào mùa du lịch chính

thì lƣợng nhân viên và cƣờng độ cơng việc tăng lên; vào các khoảng thời gian

khác thì cƣờng độ giảm và số lao động cũng bớt đi. Lƣợng lao động dƣ dôi

trong khoảng thời gian vắng khách du lịch gây tác động tiêu cực về mặt xã

hội nhƣ thất nghiệp, tệ nạn, an ninh trật tự... đây chính là vấn đề mà ngành du

lịch ở nhiều nơi vẫn đang phải đối mặt.

1.1.4. Du lịch sinh thái

1.1.4.1. Khái niệm về Du lịch sinh thái

“ Du lịch sinh thái” (Ecotourism) (DLST) là một khái niệm tƣơng đối

mới và đã thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều ngƣời, thuộc các lĩnh vực khác

nhau. Đây là một khái niệm rộng, đƣợc hiểu từ nhiều góc độ khác nhau. Đối

với một số ngƣời “ Du lịch sinh thái ” đƣợc hiểu đơn giản là sự kết hợp của

hai từ ghép “ Du lịch ” và “ Sinh thái ”. Song đứng ở góc độ rộng hơn, tổng

quát hơn thì một số ngƣời quan niệm DLST là du lịch thiên nhiên, là khái

niệm mà trong thực tế đã có từ đầu những năm 1800. Với khái niệm này, mọi

hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên nhƣ tắm biển, nghỉ núi… đều

đƣợc hiểu là DLST.

Khái niệm DLST cũng đã đƣợc rất nhiều học giả và tổ chức nghiên cứu

nhƣ:

- Theo tổ chức bảo tồn thực vật hoang dã ( World Wild Fund-WWF):

DLST đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới những khu vực tự nhiên hoang

dã, gây tác động tối thiểu tới môi trƣờng tự nhiên và cuộc sống của các loài



23

động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng

đồng địa phƣơng và những ngƣời địa phƣơng phục vụ tại đó.

- Theo tổ chức DL thế giới (UNWTO): DLST là loại hình du lịch đƣợc

thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con ngƣời, với

mục đích chính là để chiêm ngƣỡng, học hỏi về các loài động thực vật cƣ ngụ

trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và tránh đƣợc các tác động tiêu cực tới khu

vực mà khách đến thăm. Ngồi ra, DLST phải đóng góp vào công tác bảo tồn

những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một

cách bền vững đồng thời phải nâng cao đƣợc khả năng nhận thức về môi

trƣờng và công tác bảo tồn đối với mỗi ngƣời dân địa phƣơng và du khách

đến thăm.

- Theo tổ chức DLST của Hoa Kỳ: DLST là loại hình du lịch có trách

nhiệm tới những khu vực tự nhiên. Nó đƣợc sử dụng để bảo vệ mơi trƣờng,

cải thiện phúc lợi xã hội và kinh tế cho ngƣời dân địa phƣơng.

- Theo cơ quan Quản Lý Du Lịch của chính phủ Thái Lan: DLST là

loại hình có trách nhiệm diễn ra ở những nơi có những nguồn tài nguyên tự

nhiên mang các đặc tính địa phƣơng cũng nhƣ những nguồn tài ngun mang

tính lịch sử và văn hố gắn với hệ sinh thái ở địa phƣơng đó, với mục đích

chính là hình thành nhận thức của các bên liên quan về sự cần thiết và các

biện pháp bảo tồn các hệ sinh thái, hƣớng vào việc lôi kéo sự tham gia của

cộng đồng địa phƣơng cũng nhƣ cung cấp những kinh nghiệm học hỏi trong

quản lý môi trƣờng và phát triển du lịch bền vững.

- Theo học giả Horey(1999):



DLST là du lịch tới những khu vực



nhạy cảm và nguyên sinh, thƣờng đƣợc bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít

tác hại và với qui mơ nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ

mơi trƣờng, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho ngƣời

dân địa phƣơng và nó khuyến khích tơn trọng những giá trị văn hoá và quyền

con ngƣời.



24

Cùng với khái niệm du lịch sinh thái chúng ta còn có thể bắt gặp các

khái niệm nhƣ:

- Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism)

- Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature-Based Tourism)

- Du lịch môi trƣờng (Environmental Tourism)

- Du lịch đặc thù (Particular Tourism)

- Du lịch xanh (Green Tourism)

- Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism)

- Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism)

Có thể nói cho đến nay khái niệm về DLST vẫn còn đƣợc hiểu theo

nhiều nghĩa khác nhau, với những tên gọi khác nhau. Tuy nhiên, mặc dù

những tranh luận vẫn còn tiếp tục để đi đến một định nghĩa chung đƣợc chấp

nhận về DLST, nhƣng đa số các ý kiến tại diễn đàn quốc tế chính thức về

DLST đều cho rằng: “ DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ

cho các hoạt động bảo tồn và đƣợc quản lý bền vững về mặt sinh thái”. Du

khách sẽ đƣợc hƣớng dẫn tham quan, đƣợc lý giải cần thiết về môi trƣờng để

nâng cao hiểu biết, cảm nhận đƣợc những giá trị thiên nhiên và văn hóa mà

khơng gây ra những tác động có hại đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản

địa.

Về nội dung, DLST là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm, đƣa du

khách tới những mơi trƣờng còn tƣơng đối nguyên vẹn, về các vùng thiên

nhiên hoang dã, đặc sắc để tìm hiểu, nghiên cứu các hệ sinh thái và các nền

văn hóa bản địa độc đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm

bảo tồn phát triển đối với tự nhiên và cộng đồng địa phƣơng. Nói một cách

khác, DLST là loại hình du lịch với những hoạt động có sự nhận thức mạnh

về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội. Ở đây thuật ngữ “ Du lịch

trách nhiệm” luôn gắn liền với khái niệm DLST. Vậy DLST là hình thức du

lịch trách nhiệm, không làm ảnh hƣởng đến các ý nghĩa bảo tồn thiên nhiên,



25

không ảnh hƣởng đến môi trƣờng mặt khác còn góp phần vào việc duy trì,

phát triển cuộc sống cộng đồng ngƣời dân địa phƣơng.

Mặc dù các định nghĩa về du lịch sinh thái có khác nhau về cách diễn đạt

và ngôn từ thể hiện. Nhƣng trong các định nghĩa về du lịch sịnh thái đều có sự

thống nhất cao về nội dung của du lịch sinh thái ở ba điểm:

Thứ nhất: Du lịch sinh thái phải đƣợc thực hiện trong mơi trƣờng tự

nhiên còn hoang sơ hay tƣơng đối hoang sơ gắn với văn hoá bản địa.

Thứ hai: Du lịch sinh thái có tính giáo dục mơi trƣờng cao và phải có

trách nhiệm với mơi trƣờng.

Thứ ba: Du lịch sinh thái phải mang lợi ích kinh tế trực tiếp cho cƣ dân

địa phƣơng và phải có sự tham gia của cộng đồng dân cƣ địa phƣơng.

1.1.4.2. Những đặc trưng của DLST

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đặc thù gắn liền với tài nguyên du

lịch thiên nhiên và các yếu tố văn hóa, lịch sử bản địa. Du lịch sinh thái có

những đặc trƣng sau:

- Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên và các yếu tố văn hoá bản địa:

Đối tƣợng của DLST là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên, và kể cả

những nét văn hoá bản địa đặc sắc. Đặc biệt, những khu tự nhiên còn tƣơng

đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn. Chính vì vậy, hoạt động DLST thƣờng diễn

ra và thích hợp tại lãnh thổ các VQG và các khu tự nhiên có giá trị.

- Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn: Đây là một đặc

trƣng khác biệt nổi bật của DLST so với các loại du lịch khác vì nó đƣợc phát

triển trong mơi trƣờng có những hấp dẫn ƣu thế về mặt tự nhiên. Vì thế, trong

DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải

đƣợc duy trì và quản lý cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành

du lịch. Điều này đƣợc thể hiện ở qui mơ nhóm khách tham quan thƣờng có

số lƣợng nhỏ, u cầu sử dụng các phƣơng tiện, dịch vụ về tiện nghi của du

khách thƣờng thấp hơn các yêu cầu về đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Với tư cách là một ngành kinh tế, để phát triển du lịch cần thiết phải xuất hiện và tồn tại 2 yếu tố cơ bản là Cung và Cầu, trong đó:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×