Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

6

Theo L.L Pirogionic, 1985: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cƣ

trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lƣu lại tạm thời bên ngoài

nơi cƣ trú thƣờng xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và

tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc

tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa.

Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma- Italia ( 21/8- 5/9/1963 ), các

chuyên gia đƣa định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ,

hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu

trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xun của họ hay ngồi

nƣớc họ với mục đích nghỉ dƣỡng. Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm

việc của họ.

Theo Điều 4, Chƣơng I, Luật Du lịch Việt Nam ban hành ngày

14/6/2005: Du lịch là một trong những hoạt động có liên quan đến chuyến đi

của con ngƣời ngồi nơi cƣ trú thƣờng xun của mình nhằm đáp ứng nhu

cầu thăm quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong thời gian nhất định.

Mặc dù “Du lịch” đƣợc định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau,

nhƣng chung quy lại có thể rút ra đƣợc bản chất cơ bản về du lịch nhƣ sau: Là

hoạt động của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên; chuyến du lịch ở nơi

đến chỉ mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn. Du lịch mang đến sự

thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng phục hồi sức khỏe và nhận thức về

thế giới sung quanh hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc

của cơ quan và nghiên cứu thị trƣờng, nhƣng khơng vì mục đích định cƣ hoặc

tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập nơi đến viếng thăm. Du lịch tạo nên các

mối quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính

quyền địa phƣơng và dân cƣ ở địa phƣơng. Tóm lại Du lịch là tổng hợp các

hiện tƣợng và các mối quan hệ phát sinh từ tác động qua lại của hoạt động du

lịch với nhau.



7

* Khái niệm “Khách du lịch”: Trên Thế giới, khái niệm khách du lịch

xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XVIII tại Pháp. Thời đó ngƣời Pháp

chia các cuộc hành trình của ngƣời dân các nƣớc lân cận trên nƣớc Pháp

thành hai loại:

- Cuộc hành trình nhỏ: Từ Pari đến miền Đơng nƣớc Pháp

- Cuộc hành trình lớn: Là cuộc hành trình theo bờ Địa Trung Hải xuống

phía Tây nƣớc Pháp.

Trong đó những ngƣời thực hiện cuộc hành trình lớn đƣợc gọi là khách

du lịch hay du khách.

Tƣơng tự, tại Vƣơng Quốc Anh, khách du lịch cũng đƣợc định nghĩa là

những ngƣời thực hiện cuộc hành trình lớn xuyên Vƣơng Quốc Anh. Theo

cách hiểu này, những ngƣời đƣợc gọi là khách du lịch ở đây phải hội đủ hai

điều kiện. Thứ nhất, họ phải là ngƣời ngoại quốc; thứ hai, học thực hiện

chuyến hành trình xun quốc gia có nghĩa khách du lịch là những ngƣời

ngoại quốc có khả năng mang lại một lƣợng ngoại tệ đáng kể cho nƣớc sở tại.

Các định nghĩa này nói chung chỉ mang tính chất hẹp và phiến diện, thế

nhƣng bƣớc đầu đã đƣa ra một khái niệm để gọi tên những ngƣời thực hiện

các chuyến du lịch.

Một số khái niệm tiếp theo của các nhà kinh tế học cho đến đầu thế kỷ

XX cũng mới chỉ phản ánh đƣợc sự phát triển của du lịch đƣơng thời, khơng

đầy đủ và còn hạn chế về nội dung. Nhƣ khái niệm do nhà kinh tế học ngƣời

Áo đƣa ra vào đầu thế kỷ XX: “ Khách du lịch là hành khách xa hoa ở lại

theo ý thích, ngồi nơi cư trú thường xun để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt

cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế”; hay nhƣ nhà kinh tế học

ngƣời Anh cùng thời lại khẳng định để trở thành khách du lịch phải có hai

điều kiện:“ Thứ nhất phải xa nhà dưới một năm; thứ hai phải tiêu những

khoản tiền đã tiết kiệm ở nơi khác”.



8

Sau này khi ngành du lịch ngày càng phát triển và sự ra đời của các hội

nghị quốc tế, các tổ chức quốc tế quan tâm đến hoạt động du lịch thì định

nghĩa khách du lịch mới đƣợc nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở đáng

tin cậy.

Định nghĩa đƣợc chấp nhận rộng rãi đầu tiên là định nghĩa của liên hiệp

các quốc giá (League of Nations) vào năm 1937 về “khách du lịch nƣớc

ngoài” dựa trên phƣơng pháp liệt kê và loại trừ: “Bất cứ ai đến thăm một

nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít

nhất là 24h” theo định nghĩa này tất cả những ngƣời đƣợc coi là khách du

lịch bao gồm:

(1) Ngƣời khởi hành để giải trí, vì những ngun nhân gia đình và sức khỏe.

(2) Những ngƣời khởi hành để gặp gỡ, trao đổi các mối quan hệ về khoa

học, ngoại giao, tôn giáo, thể thao, công vụ...

(3) Những ngƣời khởi hành vì mục đích kinh doanh.

(4) Những ngƣời cập bến từ các chuyến hành trình du ngoại trên biển,

thậm chí cả khi học dừng lại trong khoảng thời gian ít hơn 24h.

Những ngƣời không đƣợc xem là khách du lịch:

(1) Ngƣời đến lao động, kinh doanh có hoặc khơng có hợp đồng lao động.

(2) Những ngƣời đến với mục đích định cƣ.

(3) Sinh viên hay những ngƣời đến học ở các trƣờng.

(4) Những ngƣời ở biên giới sang làm việc.

(5) Những ngƣời đi qua một nƣớc mà không dừng lại mặc dù cuộc hành

trình đi qua trƣớc đó có thể kéo dài 24h.

Năm 1978 tiểu ban các vấn đề kinh tế - xã hội của Liên hợp quốc lại

phân chia khách du lịch thành khách du lịch chủ động và khách du lịch bị

động “Khách viếng tham quốc tế là tất cả những người đến thăm một đất

nước gọi là khách du lịch chủ động; những người từ một đất nước đi ra một

nước ngoài viếng thăm gọi là khách du lịch bị động với khoảng thời gian



9

nhiều nhất là một năm”. Bên cạnh khái niệm về khách du lịch quốc tế, tiểu

ban này cũng đƣa ra định nghĩa về khách du lịch nội địa: “ Khách du lịch nội

địa là công dân của một nước (không kể quốc tịch) hành trình đến một nơi

trong đất nước đó, khác nơi cư trú thường xun của mình trong khoảng thời

gian ít nhất là 24 giờ hay một đêm với mọi mục đích trừ mục đích được trả

thù lao”.

Ngồi các định nghĩa do các tiểu ban trực thuộc Liên hợp quốc đƣa ra thì

các Hội nghị quốc tế về du lịch cũng đƣa ra các định nghĩa quốc tế về du lịch

riêng cho mình. Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan năm 1989 đƣa ra định

nghĩa: “Khách du lịch quốc tế là những người đi tham quan một nước khác,

với mục đích thăm, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong thời gian nhỏ hơn ba

tháng, những hành khách này không làm gì để được trả thù lao, sau thời gian

lưu trú đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình”. Định nghĩa này

khác với định nghĩa trƣớc đó và thời gian tối đa lƣu lại ở các nƣớc khác thay

vì tối đa là một năm đƣợc giảm xuống còn ba tháng, khơng quy định thời gian

tối thiểu.

Hiện nay, theo tổ chức Du lịch thế giới (WTO), khách du lịch bao gồm:

+Khách du lịch quốc tế (International tourist): Khách du lịch quốc tế đến

(Inbound tourist): là những ngƣời từ nƣớc ngoài đến du lịch một quốc gia;

Khách du lịch quốc tế ra nƣớc ngoài (Outbound tourist): là những ngƣời đang

sống trong một quốc gia đi du lịch nƣớc ngoài.

+Khách du lịch trong nƣớc (Internal tourist): Gồm những ngƣời là cơng

dân của một quốc gia và những ngƣời nƣớc ngồi đang sống trên lãnh thổ

quốc gia đó đi du lịch trong nƣớc.

+Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): Bao gồm khách du lịch trong

nƣớc và khách du lịch quốc tế đến. Đây là thị trƣờng cho các cơ sở lƣu trú và

các nguồn thu hút khách trong một quốc gia.



10

+Khách du lịch quốc gia (National tourist): Gồm khách du lịch trong

nƣớc và khách du lịch quốc tế ra nƣớc ngoài

Ở nƣớc ta, cụm từ khách du lịch còn có một từ tƣơng đƣơng là “Lữ

khách” hay “Khách thập phương”, những từ này ra đời từ rất lâu và có nguồn

gốc từ Trung Quốc theo nghĩa Hán Việt có nghĩa là khách đi vãn cảnh từ

phương xa đến với mục đích thăm thú thiên nhiên hoặc các mục đích khác

ngồi mục đích lao động kiếm tiền.

Trong Luật du lịch Việt Nam ban hành năm 2005, tại Chƣơng V, Điều 34

có nêu khái niệm về khách du lịch nhƣ sau: Khách du lịch là ngƣời đi du lịch

hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để

nhận thu nhập ở nơi đến.

+ Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế:

+ Khách du lịch quốc tế (International tourist): là ngƣời nƣớc ngoài,

ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngồi vào Việt Nam du lịch và cơng dân

Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại Việt Nam ra nƣớc ngoài du lịch

+ Khách du lịch nội địa (Domestic tourist):là cơng dân Việt nam và ngƣời

nƣớc ngồi cƣ trú tại Việt nam đi du lịch trong vi phạm lãnh thổ Việt Nam.

1.1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là các dịch vụ hàng hóa cấp cho du khách, đƣợc tạo nên

bởi sự kết hợp giữ việc khai thác các yếu tốt tự nhiên, xã hội với việc sử dụng

các nguồn lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một đơn vị kinh doanh

du lịch, một vùng hay một quốc gia.

Sản phẩm du lịch bao gồm cả yếu tố hữu hình lẫn vơ hình. Yếu tố hữu

hình là hàng hóa; yếu tố vơ hình là dịch vụ, bao gồm: Dịch vụ vận chuyển,

dịch vụ lƣu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tham quan giải trí...trong đó dịch vụ

chiếm từ 80 đến 90% thành phần của sản phẩm du lịch.



11

1.1.1.3. Các loại hình du lịch

Có nhiều cách để phân loại du lịch, theo các tiêu chí khác nhau, du lịch

có thể đƣợc chia thành nhiều loại hình. Theo đó, loại hình du lịch đƣợc hiểu là

các nhóm sản phẩm du lịch có cùng những đặc điểm giống nhay theo tiêu chí

phân loại nhƣ cùng thỏa mãn một nhu cầu, một động cơ du lịch, đƣợc tiêu thụ

bởi cùng một nhóm khách hàng, có cùng một nhà phân phối, một cách tổ chức

nhƣ nhau hay cùng một mức giá.

* Phân loại theo lãnh thổ:

Căn cứ vào các tiêu thức phân loại khác nhau, ta có các loại hình du lịch

khác nhau. Nếu lấy tiêu chí là phân chia theo lãnh thổ thì du lịch có thể chia

thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa, trong đó:

- Du lịch quốc tế: Là loại hình du lịch có sự tham gia của yếu tốt nƣớc

ngồi (hoặc khách du lịch hoặc nhà cung ứng dịch vụ du lịch). Trong loại

hình du lịch quốc tế còn có thể chia tiếp thành hai nhóm nhỏ:

+ Du lịch đón khách: là việc tổ chức phục vụ, đón tiếp khách nƣớc ngoài

đến du lịch trong nƣớc của tổ chức cung ứng dịch vụ du lịch.

+ Du lịch gửi khách: Phục vụ và tổ chức đƣa khách trong nƣớc đi du lịch

nƣớc ngoài.

- Du lịch nội địa: Đƣợc hiểu là các hoạt động tổ chức, phục vụ ngƣời

trong nƣớc đi du lịch, khơng có sự tham gia của yếu tố nƣớc ngồi.

* Phân loại theo mục đích chuyến đi:

Phân chia theo mục đích chuyến đi có thể chia thành du lịch thuần túy

với mục đích: tham quan, nghỉ ngơi, giải trí...hoặc kết hợp với các mục đích

khác nhƣ học tập, cơng tác, khám chữa bệnh...

- Du lịch nghỉ dưỡng: Một trong những chức năng xã hội quan trọng của

du lịch là phục hồi sức khỏe cộng đồng. Theo một số học giả trên thế giới, với

chế độ du lịch hợp lý, cộng đồng có thể giảm trung bình 30% ngày điều trị

bệnh trong năm. Địa chỉ cho các chuyến đi nghỉ dƣỡng thƣờng là những nơi



12

có khơng khí trong lành, khí hậu dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục nhƣ các bãi

biển, hồ, sơng, suối nƣớc nóng, vùng núi, vùng nơng thơn...

- Du lịch Lễ hội: Từ xa xƣa, du lịch tôn giáo là một loại hình du lịch hình

thành rất sớm và khá phổ biến. Đó là các chuyến đi với mục đích tơn giáo nhƣ

truyền giáo của các tu sĩ, thực hiện lễ nghi tơn giáo của tín đồ tại các giáo

đƣờng, dự các lễ hội tôn giáo... Ngày nay du lịch tôn giáo đƣợc hiểu là các

chuyến đi của khách du lịch chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu thực hiện các lễ

nghi tơng giáo của tín đồ (du lịch tơn giáo chủ động) hay tìm hiểu, nghiên cứu

tơn giáo của ngƣời dị giáo. Điểm đến của các luồng khách du lịch này là chùa

chiền, nhà thờ, thánh địa...

- Du lịch mạo hiểm: Du lịch mạo hiểm dựa trên nhu cầu tự thể hiện mình,

tự rèn luyện và khám phá bản thân của những ngƣời đặc biệt là giới trẻ.

Những con suối chảy xiết, những thác ngềnh, những ngọn núi cao chót vót,

những vùng núi gần núi lửa, những khu rừng rậm rạp, hang động... là địa chỉ

lý thú cho những du khách ƣu mạo hiển. Để kinh doanh loại hình du lịch này

cần có các trang thiết bị hỗ trợ cần thiết và đặc biệt cần có chƣơng trình, có

chỉ dẫn, đƣợc huấn luyện, có kiểm tra các điều kiện cần thiết và đội ngũ ứng

cứu hết sức cơ động.

* Phân loại theo phương tiện vận chuyển khách du lịch:

Theo cách phân loại này, khách du lịch đƣợc phân thành các nhóm sau:

+ Khách sử dụng ơtơ (xe du lịch, xe công cộng, xe cá nhân hoặc xe

thuê...);

+ Khách sử dụng máy bay (của hãng hàng không hoặc cá nhân);

+ Khách sử dụng tàu thủy, tàu du lịch, tàu du hành, thuyền...;

+ Khách sử dụng tổng hợp nhiều loại phƣơng tiện.

Thông thƣờng khách du lịch đƣợc thống kê theo 3 nhóm chính: Đƣờng

bộ (ơtơ, tàu hỏa), đƣờng thủy và đƣờng hàng không. Việc khách du lịch lựa

chọn loại phƣơng tiện nào là chủ yếu tùy thuộc vào vị trí địa lý của điểm đến,



13

khả năng chi trả và thời gian dành chi chuyến đi, độ tuổi... Đối với khách

nƣớc ta, khách quốc tế chủ yếu bằng đƣờng hàng không, lựa chọn tiếp theo

của khách du lịch là đƣờng bộ và cuối cùng là đƣờng thủy.

* Phân loại theo cách thức tổ chức chuyến đi:

- Du lịch trọn gói: Theo hình thức này khách du lịch có thể mua dịch vụ

của các công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành, các công ty này sẽ là ngƣời đứng

ra tổ chức cho chuyến đi của họ bao gồm: phƣơng tiện đi lại, dịch vụ lƣu trú,

ăn uống, tham quan... theo một lịch trình đã định trƣớc.

- Du lịch tự do: Là loại hình du lịch mà cá nhân hay tổ chức tự xắp xếp

cho chuyến hành trình du lịch của mình

* Phân loại theo vị trí địa lý nơi đến du lịch:

Hoạt động du lịch theo cách phân loại này đƣợc chia thành hai nhóm: du

lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên.

- Du lịch thiên nhiên: Là chuyến hành trình dến thăm thú, khám phá

những nơi có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn. Trong nhóm du lịch này có thể

chia thành các nhóm nhỏ hơn nhƣ: du lịch biến, du lịch núi, rừng, sông suối,

du lịch nông thôn thành thị... Khi xã hội ngày càng phát triển thì con ngƣời

càng ít có cơ hội gần gũi thiên nhiên. Bị bao bọc bởi những tiện nghi của cuộc

sống hiện đại và áp lực cơng việc ngày càng gia tăng có thể làm cho con

ngƣời ta mệt mỏi. Khi đó, việc hòa mình vào thiên nhiên là một nhu cầu nhằm

giải tỏa căng thẳng, nâng cao sức khỏe và đến với một môi trƣờng mới lạ đầy

hấp dẫn.

- Du lịch văn hóa: Là hoạt động du lịch chủ yếu diễn ra trong mơi trƣờng

văn hóa hay có liên quan tới các yếu tố văn hóa tức là khai thác các tài

nguyên văn hóa, nó có thể bao gồm: đi thăm các di tích, các cơng trình văn

hóa, các lễ hội, phong tục... Du lịch văn hóa hấp dẫn du khách bởi sự đậm đà,

tính truyền thống cũng nhƣ sự độc đáo của từng địa phƣơng. Du lịch văn hóa

là một hƣớng mà các quốc gia đều chú trọng phát triển vì nó khơng chỉ góp



14

phần gìn giữ mà còn là một kênh giới thiệu các giá trị văn hóa đáng quý với

bạn bè trên khắp năm châu.

Ngồi ra còn có thể phân chia theo một vài tiêu chí nhau nhƣ phân chia

theo thời gian của mỗi chuyến đi (ngắn ngày hay dài ngày); phân chia theo

các loại hình lƣu trú (du lịch ở trong khách sạn; trong Làng du lịch hay du

lịch ở Camping...); phân chia theo đối tƣợng khách đi du lịch (khách du lịch

đối tượng là thanh thiếu niên; người cao tuổi; phụ nữ, gia đình...).

1.1.2. Điều kiện phát triển du lịch

Với tƣ cách là một ngành kinh tế, để phát triển du lịch cần thiết phải xuất

hiện và tồn tại 2 yếu tố cơ bản là Cung và Cầu, trong đó:

- Những điều kiện cơ bản để hình thành “Cung” du lịch bao gồm:

+ Tài nguyên du lịch: Du lịch là ngành kinh tế có định hƣớng tài nguyên

một cách rõ rệt vì vậy Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các

điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch (Pháp lệnh Du lịch).

+ Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Đây là điều kiện quan

trọng để có thể tiếp cận khai thác các tiềm năng tài nguyên du lịch và tổ chức

cácdịch vụ du lịch.

+ Đội ngũ lao động: Là yếu tố quản lý, vận hành hoạt động du lịch. Chất

lƣợng của đội ngũ lao động trong hoạt động nghiệp vụ còn quyết định chất

lƣợng sản phẩm du lịch.

+ Cơ chế chế chính sách: Là mơi trƣờng pháp lý để tạo sự tăng trƣởng

của Cung trong hoạt động du lịch. Trong du lịch đây cũng đƣợc xem là yếu tố

quan trọng để tạo điều kiện cho khách đến.

- Những điều kiện cơ bản để hình thành “Cầu” du lịch bao gồm:

+ Thị trƣờng khách du lịch: Du lịch không thể tồn tại và phát triển nếu

khơng có khách du lịch. Chính vì vậy đây là điều kiện tiên quyết để hình

thành Cầu du lịch và cũng có nghĩa là để hình thành hoạt động du lịch.



15

+ Tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch: đƣợc xem là yếu tố để tăng

Cầu; yếu tố cầu nối giữa Cung và Cầu trong du lịch.

- Bên cạnh những điều kiện cơ bản để có thể hình thành thị trƣờng (mua

bán) và phát triển du lịch, hoạt động du lịch chỉ có thể phát triển tốt trong điều

kiện:

+ Có mơi trƣờng trong lành về tự nhiên, xã hội, và khơng có dịch bệnh:

du lịch là ngành kinh tế rất nhạy cảm và gắn liền với các yếu tố môi trƣờng.

+ Đảm bảo an ninh, không có khủng bố, xung đột vũ trang: Tình hình bất

ổn định ở Indonesia, Phillippine; khủng bố ở Mỹ; chiến tranh ở Trung Đơng;

v.v. đều đƣợc xem là ngun nhân chính làm giảm lƣợng khách du lịch đến

những khu vực này.

1.1.3. Đặc trưng của du lịch

1.1.3.1. Các yếu tố cấu thành nên hiện tượng du lịch

Có bốn nhóm yếu tố cấu thành nên hiện tƣợng du lịch bao gồm: Du

khách, nhà cung cấp dịch vụ du lịch, chính quyền địa phƣơng và ngƣời dân sở

tại. Bốn nhóm yếu tốt này có mối quan hệ tƣơng tác lẫn nhau.

- Du khách: Là những ngƣời thực hiện các chuyến hành trình với mục

đích du lịch. Họ phải là những ngƣời có thời gian nhàn rỗi, có nhu cầu du lịch

và đủ khả năng tài chính để đi du lịch. Ngày nay khi mức sống và văn hóa của

ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao, cộng thêm với sức ép của cuộc sống

hiện đại thì nhu cầu du lịch cũng tăng theo và trở thành một nhu cầu phổ biến.

- Nhà cung cấp dịch vụ: Là những ngƣời cung cấp trọng vẹn hay một

phần của dịch vụ du lịch bao gồm các công ty lữ hành, nhà hàng, khách sạn,

khu vui chơi, giải trí, nhà sản xuất đồ lƣu niệm... Du khách có nhu cầu đi du

lịch thì cần tới những nhà cung cấp dịch vụ du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình.

- Chính quyền địa phương: Sản phẩm du lịch là khơng thể di chuyển

đƣợc, do đó nếu muốn tiêu dùng nó thì ngƣời có nhu cầu phải đến nơi có tài

nguyên du lịch. Chính quyền địa phƣơng là tổ chức quản lý tại nơi có tài



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×