Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
 Đất đai, nguồn nước.

 Đất đai, nguồn nước.

Tải bản đầy đủ - 0trang

29



Số liệu trên cho thấy đất lâm - nông nghiệp ở Lạc Sơn chiếm tỷ trọng

cao nhất (trên 80% tổng diện tích đất tự nhiên), thể hiện thế mạnh về phát

triển lâm nghiệp và nông nghiệp ở Huyện. Đất nông nghiệp tập trung ở vùng

thấp, còn đất lâm nghiệp ở hai vùng còn lại, đây là điều kiện tốt để hình thành

đặc trung nơng nghiệp của mỗi vùng trong hun. Tuy vậy diện tích đất chƣa

sử dụng vẫn còn khá nhiều, trong đó chủ yếu là đất bằng và đất đồi núi. Điều

này cho phép chúng ta có thể tăng cƣờng sử dụng đất nhiều hơn nữa, đặc biệt

là cho nhu cầu phát triển chăn nuôi và các ngành phi nông nghiệp trên địa

bàn.

Nguồn nƣớc: Tài nguyên nƣớc của Lạc Sơn đƣợc cung cấp chủ yếu bằng

3 nguồn chính: nƣớc mặt, nƣớc ngầm và nƣớc mƣa tự nhiên.

- Nƣớc mặt: có nguồn chính từ con sơng Bƣởi và suối nhánh sơng

Bƣởi, với diện tích là 1.040,53 ha, trữ lƣợng nƣớc lớn về cả mùa mƣa và mùa

khô. Đây thực sự là nguồn cấp nƣớc quan trọng cho sản xuất và đời sống của

nhân dân các xã ven sông. Đồng thời với 413,88 ha diện tích đất mặt nƣớc ao,

hồ, đầm và diện tích mặt nƣớc chuyên dùng là nguồn cung cấp nƣớc quan

trọng của các xã trong huyện. Bên cạnh việc cung cấp nƣớc cho sản xuất,

phục vụ đời sống, nƣớc mặt còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi

trƣờng sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản.

- Hệ thống hồ đập: do điều kiện địa hình dốc khá rõ ràng từ Tây Bắc

xuống Đơng Nam và từ Bắc xuống Nam, nên hệ thống hồ đập đƣợc xây dựng

khá nhiều trên toàn huyện, nhất là các xã nhƣ: Q Hồ, Miền Đồi, Tự Do,

Xuất Hố, Định Cƣ. Hệ thống hồ là nguồn nƣớc chƣa quan trọng bảo đảm cho

sản xuất và đời sống sinh hoạt dân cƣ. Một số đập đã và sẽ đƣợc xây dựng,

nhất là đập Khả (xã Q Hồ), đập Nại (sơng Bƣởi – Tân Mỹ), một số đập ở

Định Cƣ, Miền Đồi, Xuất Hố là điều kiện để Lạc Sơn có thể phát triển thuỷ

điện nhỏ.



30



- Nƣớc ngầm: trên địa bàn Lạc Sơn, có mỏ nƣớc khống trên địa bàn xã

Q Hồ, độ khống hố thấp, khơng chứa độc tố và các kim loại nặng, có thể

dùng làm nƣớc uống, phát triển du lịch chữa bệnh, nghỉ dƣỡng khá tốt đƣợc.

Nguồn nƣớc ngầm khác hiện đƣợc khai thác chủ yếu cho các ngành cơng

nghiệp và sinh hoạt của nhân dân trong tồn huyện thông qua hệ thống giếng

đào, giếng khoan. Đối với Lạc Sơn, đây cũng là nguồn nƣớc tƣơng đối sạch,

dễ khai thác và sử dụng khá nhiều. Tuy vậy, đây là nguồn khá quý hiếm, có

trữ lƣợng dồi dào nhƣng không phải là vô tận, cần nghiên cứu trữ lƣợng để có

kế hoạch sử dụng hợp lý. Nguồn nƣớc ngầm của huyện chƣa có điều kiện

thăm dò, khảo sát đầy đủ. Qua thực tế sử dụng của các hộ trong huyện cho

thấy mực nƣớc ngầm có độ sâu trung bình từ 13m - 20m, chất lƣợng nƣớc tốt,

có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và tƣới cho cây trồng tại các vƣờn gia đình.

- Nƣớc mƣa: với lƣợng nƣớc mƣa trung bình 1.950 mm trong năm, đây

là nguồn nƣớc bổ sung cho các ao, hồ đầm và cho các sinh hoạt khác của

nhân dân. Nƣớc mƣa là nguồn cung cấp chủ yếu cho sản xuất nông, lâm

nghiệp, đặc biệt là đối với các cây trồng lâu năm và rừng có diện tích lớn, địa

hình phức tạp, khó tƣới nhân tạo.

Hệ thống sơng ngòi, kênh mƣơng cùng với số lƣợng ao hồ dày đặc tạo

điều kiện thuận lợi cung cấp nƣớc ngọt quanh năm cho sản xuất, cũng nhƣ cải

tạo đất.

* Địa hình, địa chất:

Xét về địa hình, có thể nói huyện Lạc Sơn có địa hình bị chia cắt và là

một huyện miền núi của tỉnh Hồ Bình đƣợc chia thành 3 vùng nhƣ sau:

- Vùng thấp: bao gồm thị trấn Vụ Bản và các xã dọc theo sông, suối lớn

nhƣ: sơng Bƣởi, suối Cái, suối Bìn, suối n Điềm. Đây là vùng thấp, đồng

bằng, (đất đai chỉ ở độ cao khoảng 25 đến 75 m, đất đai phì nhiêu tƣơi tốt, có

một số tiểu vùng đồng ruộng tập trung nhƣ Mƣờng Vang, Mƣờng Vó. Phần



31



lớn các xã thuộc vùng này có đƣờng quốc lộ, đƣờng tỉnh lộ chạy qua, lại nằm

trong khu vực nhiều sơng suối lớn, vì vậy nhìn chung giao thơng vận tải

đƣờng bộ và đƣờng sơng thuận lợi cho giao lƣu trao đổi hàng hố với thành

phố Hồ Bình cũng nhƣ các địa phƣơng khác trong và ngồi huyện cũng nhƣ

với Hà Nội, Thanh Hố, Ninh Bình, và các tỉnh vùng Tây Bắc bộ.

- Vùng cao bao gồm 5 xã là: các xã nằm ở phía Tây huyện: Tự do,

Ngọc Sơn, Ngọc Lâu và một số xã nằm ở phía Bắc huyện là: Q Hồ, Miền

Đồi. Đặc điểm chung của các xã này là nằm ở vị trí cao so với mặt nƣớc, xa

trung tâm huyện, xa hệ thống giao thông quốc lộ, tỉnh lộ, địa hình hiểm trở,

đồi núi cao. Tuy vậy địa hình của các xã vùng này lại có độ dốc cao (từ 700

đến 300m so với mặt nƣớc biển) nên có điều kiện hình thành hệ thống hồ đập

lớn.

- Vùng sâu - xa: bao gồm 8 xã là: Phú Lƣơng, Phúc Tuy, Chí Thiện,

Chí Đạo (phía Tây huyện), Bình Chân, Bình Hẻm, Mỹ Thành, Văn Nghĩa

(phía Đơng huyện). Đặc điểm chung của vùng này là sâu: thấp nhƣng nằm

giữa hệ thống núi đá cao; xa: nằm xa trung tâm huyện, xa hệ thống giao thông

quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông nội bộ rất khó khăn.

Như vậy, Lạc Sơn là huyện có địa hình bị chia cắt bởi nhiều đồi, núi,

sơng, suối, nhiều xã trong huyện nằm xa trung tâm, sâu xen kẽ trong khu vực

núi đá cao, xa hệ thống giao thông. Điều này dẫn đến nhiều địa phương trong

huyện gặp khó khăn trong q trình phát triển kinh tế, giao lưu trao đổi mua

bán hàng hoá cũng như phát triển các lĩnh vực xã hội. Tuy vậy, địa hình có

độ dốc cao là một thuận lợi cho việc tổ chức hệ thống hồ đập thuỷ lợi và phát

triển du lịch sinh thái. Một số xã lại có vị trí địa lý thuận lợi, địa hình thấp

thung lũng bằng phẳng, rộng, gần sơng suối, gần hệ thống giao thơng, có khả

năng phát triển nơng nghiệp, giao lưu hàng hố. Nếu biết đầu tư kỹ thuật và



32



liên kết giữa các vùng với nhau thì có nhiều thuận lợi và tiềm năng phát triển

kinh tế.

Xét về tính chất đất: Đất đai của huyện Lạc Sơn đƣợc chia làm nhiều

loại có nguồn gốc phát sinh khác nhau, đó là:

- Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét, loại đất này phân bố

chủ yếu ở vùng đồi, thuộc các xã vùng sâu-xa, và một số xã vùng cao-xa. Loại

đất này phù hợp với cây ăn quả, cây công nghiệp và trồng rừng.

- Đất sói mòn trơ sỏi đá do hậu quả chặt phá rừng trƣớc đây. Loại đất

này tầng canh tác mỏng, khó khai thác để sản xuất nông nghiệp. Loại đất này

chủ yếu tập trung các xã vùng cao của huyện. Tuy khơng có khả năng khai

thác để phát triển sản xuất nơng nghiệp nhƣng có thể sử dụng cải tạo để trồng

cỏ, phục vụ cho phát triển chăn nuôi đại gia súc.

- Đất trồng lúa: Bao gồm đất đồng ruộng, đất phù sa Sông Bƣởi, đất

thung lũng. Loại đất này chủ yếu tập trung ở vùng thấp.

Đất đai ở Lạc Sơn có độ mùn khá, độ PH phổ biến 4,5 - 5,5 phù hợp

với nhiều loại cây trồng.

Tính chất đất đai khác nhau được phân bố trên các vùng khác nhau sẽ

tạo điều kiện để Lạc Sơn có thể phát triển nơng nghiệp theo hướng chun

mơn hố quy mơ lớn theo vùng để có một nền nơng nghiệp đa dạng hố trên

tồn huyện

2.1.1.2. Khí hậu thủy văn

Huyện Lạc Sơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đơng

lạnh. Nhiệt độ trung bình năm 23.3 0C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất

28,90C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,80C (tháng 1).

Sự chênh lệnh nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,10C.

Lƣợng mƣa trung bình năm khoảng 1.950 mm nhƣng phân bổ không

đều, mƣa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung vào các tháng 7, 8, 9. Từ



33



tháng 11 đến tháng 4 năm sau lƣợng mƣa thƣờng không đáng kể. Độ ẩm trung

bình năm là 84%, và sự chênh lệch giũa các tháng khá lớn, tháng cao nhất

(tháng 3) là 90% và tháng thấp nhất (tháng 12) là 24%.

Sông Bƣởi là sơng lớn nhất của huyện Lạc Sơn, có độ dài 125km. Đây

là thƣợng lƣu của Sông Con và là chi lƣu của Sơng Mã. Sơng Bƣởi đƣợc hình

thành từ 3 nhánh chính: Nhánh Suối Cái bắt nguồn từ huyện Tân Lạc, dài

50km, nhánh Suối Bìn bắt nguồn từ huyện Tân Lạc, dài gần 40km, suối Yên

Điềm do hai nhánh nhỏ tạo nên (Cộng Hoà - Yên Điềm) dài 35km. Sông Bƣởi

và 3 nhánh suối là nguồn tƣới và trục tiêu của huyện. Đây là nguồn cung cấp

nƣớc chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp cũng nhƣ phục vụ cho các hoạt động

dân sinh của các xã nằm dọc theo bờ sơng. Ngồi ra, các ao hồ, đầm của Lạc

Sơn mặc dù phân bố khơng đồng đều nhƣng cũng đóng vai trò quan trọng cho

cơng tác tƣới tiêu và là tiềm năng to lớn cho phát triển thủy sản.

Điều kiện khí hậu, thuỷ văn, sơng ngòi đã tạo cho Lạc Sơn những thuận

lợi trong phát triển nông nghiệp, đa dạng hố các loại vật ni, cây trồng,

thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp. Hệ thống sơng ngòi, ao hồ không

những là nguồn tài nguyên cung cấp nƣớc cho sản xuất và đời sống nhân dân

mà còn có tác dụng điều hồ khí hậu, cải thiện mơi trƣờng sinh thái và phát

triển nguồn lợi thuỷ sản.

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1. Về kinh tế

Huyện Lạc Sơn là huyện vùng núi của tỉnh Hòa Bình, phát triển kinh tế

gặp rất nhiều khó khăn. Trong giai đoạn vừa qua, nhờ sự cố gắng của chính

quyền và nhân dân địa phƣơng, tốc độ tăng trƣởng kinh tế của huyện luôn đạt

mức 12,01%/năm, trong đó, nơng, lâm nghiệp và thủy sản 41,5%; công

nghiệp - xây dựng 27,5%, dịch vụ 31%; thu nhập bình quân đầu ngƣời đạt

21,5 triệu đồng/ngƣời/năm. Tổng giá trị sản xuất năm 2016 đạt 1.724 triệu



34



đồng/năm. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra còn chậm. Hiện nay tỷ trọng

khu vực nông, lâm nghiệp chiếm 40,5%, công nghiệp xây dựng chiếm 28%,

Thƣơng mại dịch vụ chiếm 31,5% giá trị tổng sản phẩm tồn huyện.

 Giao thơng:

Hệ thống giao thơng đƣờng trục xã, liên xã, đƣờng liên thơn, đƣờng

xóm nhiều năm gần đây đƣợc sự quan tâm của nhà nƣớc bằng các Chƣơng

trình, Dự án đầu tƣ vốn và huy động sức dân, các thành phần kinh tế khác đầu

tƣ vốn, do đó hệ thống giao thơng từng bƣớc đã đƣợc kiên cố hóa đã giải

quyết đi lại cho việc giao lƣu hàng hóa đƣợc thuận lợi.

- Giao thơng đường bộ: Trên địa bàn huyện có tổng số 575,5 km đƣờng

bộ, trong đó đƣờng quốc lộ và đƣờng tỉnh là 58.5 km, đƣờng giao thông nông

thôn (gồm đƣờng huyện, đƣờng xã và đƣờng thơn xóm) dài 517km. Trong

đƣờng giao thơng nơng thơn thì đƣờng cấp huyện dài 157 km, đƣờng xã và

đƣờng thơn xóm có tổng chiều dài là 360 km. Các tuyến đƣờng chính nhƣ

sau:

+ Đường quốc lộ do Trung ương quản lý: Quốc lộ 12B chạy qua huyện

theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam với chiều dài là 27 km, mặt cắt ngang rộng

6 m, bề mặt đƣờng rộng từ 3,5 đến 5 mét. Đƣờng 12B là tuyến huyết mạch,

chạy qua các xã Thƣợng Cốc, Xuất Hoá, Thị Trấn Vụ Bản, xã Liên Vũ, Vũ

Lâm, Ân Nghĩa và Yên Nghiệp, nối Tân Lạc vơi đƣờng Hồ Chí Minh. Toàn

bộ tuyến đƣờng 12B chạy qua huyện là đƣờng rải nhựa, tuy nhiên hiện nay đã

bị xuống cấp nghiêm trọng, chất lƣợng mặt đƣờng rất kém, khiến cho việc lƣu

thơng trên tuyến đƣờng này gặp nhiều trở ngại. Có thể nói quốc lộ 12B là

huyết mạch chính của huyện, có vai trò to lớn với sự phát triển KTXH trên

địa bàn huyện.



35



Bên cạnh đó, tuyến đƣờng Hồ Chí Minh chạy ven theo ranh giới phía

Tây Nam của huyện với chất lƣợng đƣờng rất tốt là điều kiện thuận lợi cho

việc giao lƣu hàng hoá của huyện với các địa bàn lân cận.

+ Đường do tỉnh quản lý: Đƣờng tỉnh tuyến C (đƣờng 19C) chạy qua

huyện dài 19 km, có mặt cắt ngang rộng 6m, bề mặt đƣờng rộng 3,5 m. Toàn

bộ chiều dài của tuyến này đã đƣợc rải nhựa nhƣng chất lƣợng mặt đƣờng

cũng ở trong trình trạng xuống cấp.

Tuyến đƣờng 437 chạy qua huyện có tổng chiều dài toàn tuyến là 6,5

km, mặt cắt đƣờng là 6 m với bề mặt đƣờng rộng 3,5m. Tuyến đƣờng này

hiện mới chỉ ở dạng cấp phối. Tuyến đƣờng này nối đƣờng Hồ chí Minh với

huyện Tân Lạc, đi qua các xã Tân Mỹ, Hƣơng Nhƣợng, Định Cƣ, Chí Đạo và

Phú Lƣơng, sẽ là một tuyến giao thông quan trọng phục vụ phát triển KTXH

của huyện.

- Giao thông đường thủy: Do đặc điểm về địa hình, thời tiết và khí hậu

nên giao thông đƣờng thuỷ trên địa bàn huyện Lạc Sơn khơng có điều kiện

phát triển. Cụ thể là trên địa bàn chỉ có sơng nhỏ (suối) chạy qua, độ dốc lại

lớn nên lòng sơng khơng trữ đủ nƣớc để có thể phục vụ cho việc vận chuyển

bằng đƣờng thuỷ.

 Điện lực:

Hệ thống lƣới điện tại các xã, thị trấn đƣợc cải tạo, với số vốn đầu tƣ

trên 40 tỷ đồng, hiện nay 43.256 hộ sử dụng điện, đạt 100% số hộ thuộc 29/29

xã, thị trấn đã có điện thắp sáng, hệ thống điện nhiều năm gần đây đã đƣợc

đầu tƣ xây dựng nên cơ bản đáp ứng đƣợc điện thắp sáng cho nhân dân.

Nhƣng các trạm biến áp thiếu, công suất thấp, hệ thống đƣờng dây thiếu và

quá tải nên chƣa đảm bảo cung cấp cho nhân dân, các cơ sở sản xuất kinh

doanh, các doanh nghiệp trên địa bàn, chất lƣợng phục vụ chƣa đáp ứng.



36



 Bƣu điện:

Toàn huyện có 29/29 xã, thị trấn có điểm bƣu chính viễn thơng, diện

tích bình qn 100 m2/điểm, hiện trạng đang sử dụng tốt. Trong giai đoạn tới

cần nâng cấp các điểm bƣu điện, mua sắm trang thiết bị, kết nối Internet và

mua sắm một số ấn phẩm, sách truyện; 61/124 thôn có Internet đến thơn

chiếm tỷ lệ 49,2%, nhiều gia đình có máy vi tính đã đƣợc kết nối Internet, tuy

nhiên các thôn vùng xâu chất lƣợng phục vụ chƣa tốt nên nhiều gia đình có

máy vi tính nhƣng khơng tiếp cận đƣợc Internet.

 Mạng lƣới thủy lợi và hệ thống cấp thốt nƣớc:

Do đặc điểm địa lý, địa hình huyện Lạc Sơn bị chia cắt bởi nhiều dãy

núi đá, đồi, sơng, suối, từ đó hình thành nên nhiều dải đất hẹp rất khó khăn

cho việc sinh hoạt và sản xuất. Để đảm bảo nƣớc sản xuất và sinh hoạt cần

phải xây dựng nhiều hồ, đập tích nƣớc và các trạm bơm ven sơng. Các cơng

trình thủy lợi nhiều năm gần đây đã đƣợc đầu tƣ nâng cấp, xây mới, song do

hệ thống các cơng trình thủy lợi nhiều, nguồn vốn lại hạn chế do đó chƣa đáp

ứng đƣợc yêu cầu thực tế, nhiều cơng trình đã xuống cấp nhƣng chƣa đƣợc

sửa chữa nâng cấp, nhiều cơng trình cần đƣợc xây mới thì mới đáp ứng đƣợc

yêu cầu sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân .

 Hệ thống tài chính, ngân hàng:

Hệ thống tài chính, ngân hàng, kho bạc, tín dụng, bảo hiểm… đều do

cơ quan, đơn vị nhà nƣớc quản lý. Các thành phần kinh tế và hình thức quản

lýtài chính khác chƣa tham gia vào hệ thống tài chính. Hiện trên địa bàn

huyện có 2 ngân hàng đang hoạt động, đó là Ngân hàng NN & PTNT và Ngân

hàng chính sách xã hội.(nguồn báo cáo số 240/BC-UBND huyện lạc Sơn ngày

01/12/2016)



37



2.1.2.2. Về xã hội

* Dân sô,dân tộc

Tổng số nhân khẩu nơng thơn tồn huyện 138.909 ngƣời, 13.280 hộ, dân

tộc kinh chiếm 10%, mƣờng chiếm 90%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,05%.

- Lao động nông thôn 33.961 ngƣời, trong đó lao động nam là 16.376

ngƣời (chiếm 48,2% lao động toàn xã); lao động nữ là 17.858 ngƣời (chiếm

51,8% tổng lao động). Lao động trực tiếp 30.312 ngƣời (chiếm 89,3% tổng

lao động), trong đó chủ yếu là lao động sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản

với 25.075 ngƣời (chiếm 73,8% tổng lao động), lao động phi nông nghiệp

22.464 ngƣời (chiếm 15,4% tổng lao động), số lao động qua đào tạo là 1.956

lao động, chiếm 5,8% (lao động nông nghiệp qua đào tạo 541 ngƣời, lao động

phi nông nghiệp qua đào tạo 1.415 ngƣời).

Nguồn lao động địa phƣơng dồi dào, trình độ dân trí khơng đồng đều,

một bộ phận nhỏ nhận thức còn hạn chế. Đa số lao động thuần nơng chƣa qua

đào tạo, tính kỷ luật lao động khơng cao, cơ bản vì lao đơng tự do.

- Dân tộc: Dân tộc kinh có 13.890 ngƣời (chiếm 10%); dân tộc Mƣờng

125.018 ngƣời (chiếm 90%). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vùng nông thôn

1,05%. Các dân tộc Mƣờng sinh sống lâu đời tại địa phƣơng, chính vì vậy

những phong tục, tập quán của các dân tộc này có sự ảnh hƣởng khá đậm nét

đến đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng ngƣời Kinh, ngƣời Thái –

những ngƣời thiểu số trong cộng đồng dân cƣ của huyện

* Về giáo dục đào tạo

Trên địa bàn huyện Lạc Sơn có: 97 trƣờng bao gồm: 85 trƣờng mầm

non, trƣờng; 690 trƣờng tiểu học; 371 trƣờng trung học cơ sở; 89rƣờng phổ

thông trung học, 1 trung tâm giáo dục thƣờng xuyên, 1 trung tâm dạy nghề, và

29 trung tâm học tập cộng đồng.

* Về y tế:



38



Cơng tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe nhân dân, thơng qua việc duy

trì hoạt động của mạng lƣới y tế thôn bản, cơ sở vật chất trang thiết bị đƣợc

tăng cƣờng, đội ngũ y tế cán bộ đƣợc nâng cao nghiệp vụ chuyên môn. 100%

các xã trạm y tế. Tổng số cán bộ y tế 08 đồng chí trong một trạm y tế, trong

đó có 01 Bác sỹ, 05 y sỹ - nữ hộ sinh, 01 y tá và 01 dƣợc sỹ.

Nhìn chung, do trang thiết bị y tế còn thiếu; cán bộ y tế còn thiếu về số

lƣợng, yếu về chun mơn nghiệp vụ nên hệ thống y tế chƣa đáp ứng đƣợc

nhu cầu chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh của nhân dân.

* Về văn hố, văn nghệ, thơng tin thể thao:

Các chuẩn mực, truyền thống văn hoá, đạo đức ngày càng đƣợc coi

trọng, giữ gìn và bảo tồn. Các hoạt động tuyên truyền nếp sống văn minh, giữ

gìn, phục hồi, phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ và tôn tạo di tích lịch sử, cách

mạng… thƣờng xuyên tổ chức. Các hủ tục tập quán lạc hậu trong lao động

sản xuất, cƣới hỏi, ma chay, chữa bệnh… dần đƣợc thay thế bằng nếp sống

mới thơng qua các cuộc vận động tồn dân xây dựng đời sống gia đình văn

hố mới. Các hoạt động tơn giáo, tín ngƣỡng của nhân dân đƣợc tự do hoạt

động theo pháp luật.

Cơng tác truyền thanh truyền hình đã bám sát nhiệm vụ chính trị để

thơng tin tun truyền kịp thời đến nhân dân. Bình quân qua các năm đã tiếp

sóng hàng trăm chƣơng trình của tỉnh và Trung ƣơng, thu và phát lại khoảng

40.000 giờ. Từ năm 1996, huyện đã xây dựng và phủ sóng phát thanh đến

tồn bộ các xã. Huyện có 3 trạm thu – phát và tiếp sóng truyền hình, đã phủ

sóng đƣợc trên 50% diện tích tồn huyện.

Các hoạt động thể dục, thể thao nhằm rèn luyện sức khoẻ, nâng cao thể

lực nhƣ: bóng đá, bóng chuyền, cầu lơng, bóng bàn… ngày càng đƣợc mở

rộng và coi trọng. Các giải thể thao do huyện và các xã tổ chức hàng năm

đƣợc nhiều ngƣời dân tham gia, cổ vũ. Sân vận động của huyện và các điểm



39



vui chơi thể thao tại các xã đƣợc các cấp chính quyền quan tâm đầu tƣ, xây

dựng, phục vụ tốt nhu cầu chơi thể thao rèn luyện thân thể của nhân dân.

* Cơng tác lao động, xố đói giảm nghèo.

Cơng tác loa động, xóa đói giảm nghèo đã đƣợc các cấp chính quyền đặc

biệt chú trọng, quan tâm. Nhiều Chƣơng trình, dự án nhƣ: CT135, Chƣơng

trình mục tiêu quốc gia xố đói giảm nghèo, dự án Giảm nghèo (vốn WB),

DA 427… đã đƣợc triển khai thực hiện đạt hiệu quả. Tuy nhiên do điều kiện

quá khó khăn số hộ nghèo trên địa bàn huyện vẫn còn khá cao.

* Về phong tục tập quán các dân tộc sinh sống trên địa bàn

- Phong tục tập quán dân tộc Mƣờng

Ngƣời Mƣờng còn có tên gọi Mol, Mual, Moi bi, Au tá, Ao tá. Tiếng

Mƣờng thuộc nhóm ngơn ngữ Việt - Mƣờng. Ngƣời Mƣờng thờ cúng tổ tiên

và tin vào đa thần giáo. Ngƣời mƣờng sống định canh định cƣ ở miền núi, nơi

có nhiều đất sản xuất, gần đƣờng giao thông, thuận tiện cho việc làm ăn.

Ngƣời Mƣờng làm ruộng từ lâu đời. Lúa nƣớc là cây lƣơng thực chủ yếu.

Trƣớc đây, đồng bào trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ và gạo nép là lƣơng thực

ăn hàng ngày. Nguồn kinh tế phụ đáng kể của gia đinh ngƣời Mƣờng là khai

thác lâm thổ sản nhƣ nấm hƣơng, mọc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong,

gỗ, tre, nứa, mây, song…

Nghề thủ công tiêu biểu của ngƣời Mƣờng là dệt vải, đan lát, ƣơm tơ.

Nhiều phụ nữ Mƣờng dệt thủ cơng với kỹ nghệ tinh xảo. Xƣa kia, hình thành

tổ chức xã hội đặc thù của ngƣời Mƣờng là chế độ lang đạo (Đinh, Quách,

Bạch, Hà) chia nhau cai quản các vùng. Đứng đầu mỗi mƣờng có các lang

cun, dƣới các lang cun có các làng xóm hoặc đạo xóm, cai một xóm.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

 Đất đai, nguồn nước.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×