Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

4

Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp

1.1.1. Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp

(1) Đất đai: Đất đai là sản phẩm của thiên nhiên, đất đai có những

tính chất đặc trưng riêng biệt khiến nó không giống bất kỳ một tư liệu sản

xuất nào khác, đó là đất có độ phì, giới hạn về diện tích, có vị trí cố định trong

khơng gian và vĩnh cửu với thời gian nếu biết sử dụng đúng.

(2) Khái niệm về Đất nơng nghiệp: Đất nơng nghiệp đóng vai trò vơ

cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Đất nông

nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống

xã hội.

Nhận thức đúng đắn các vấn đề trên sẽ giúp người sử dụng đất có các

định hướng sử dụng tốt hơn đối với đất nông nghiệp, khai thác có hiệu quả

các tiềm năng tự nhiên của đất đồng thời không ngừng bảo vệ đất và môi

trường sinh thái.

1.2.1. Các quan điểm và nguyên tắc về sử dụng đất bền vững

1.2.1.1 Quan điểm về phát triển bền vững

a) Quan điểm toàn cầu về phát triển bền vững

(1) Tuyên bố Stockholm về Môi trường con người: “Bảo vệ và cải

thiện môi trường con người cho các thế hệ hôm nay và mai sau đã trở thành

mục tiêu cấp bách của nhân loại. Mục tiêu mà chúng ta mưu cầu phải phù

hợp, hài hòa với những mục tiêu và phát triển kinh tế, xã hội trên toàn thế

giới” (Hội nghị LHQ về Môi trường con người Stockholm, Thụy Điển,616/6/1972);

(2) Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển “Con người là trung

tâm của những mối quan hệ về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền

được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh hài hòa với thiên nhiên…để



5

thực hiện phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết sẽ là một bộ phận

cấu thành của q trình phát triển và khơng thể xem xét, tách rời q trình đó”

(Hội nghị LHQ về Mơi trường và Phát triển Rio de Janeiro, Brazil



3-



4/6/1992).

(3) Tuyên bố Johannesburg về Phát triển bền vững: “ Nhận thức rằng

nhân loại đang đứng trước bước ngoặt lịch sử, chúng tôi đã thống nhất cùng

quyết tâm, nỗ lực một cách tích cực nhu cầu về việc cần có một kế hoạch rõ

ràng và khả thi để xóa bỏ nghèo khó và phát triển con người…chúng tơi cơng

nhận rằng xóa bỏ nghèo khó, thay đổi các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ, bảo

vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế, xã hội là

những mục đích có tính bao quát và là những yêu cầu thiết yếu để phát triển

bền vững” (Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững

Johannesburrg, Nam Phi, 26/8- 4/9/ 2002)

(4)(Kế hoạch thực hiện Johannesburg): “ 23. Hoạt động của con

người ngày càng có nhiều tác động đến tính thống nhất của các hệ sinh thái

cung cấp các nguồn tài nguyên căn bản, dịch vụ cho phúc lợi và các hoạt động

kinh tế của con người. Quản lý cơ sở tài nguyên thiên nhiên theo phương thức

bền vững và tổng hợp là quan trọng đối với sự phát triển nền vững. Về khía

cạnh này, để đảo ngược xu thế hiện tại càng sớm càng tốt về sự suy thoái các

nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì cần thiết phải thực hiện các chiến lược bao

gồm các mục tiêu đã được thông qua ở cấp quốc gia, và có thể ở cấp khu vực

để bảo vệ các hệ sinh thái và đạt được sự quản lý tổng hợp về đất đai, nước và

các nguồn tài nguyên sống đồng thời tăng cường năng lực ở cấo địa phương,

quốc gia và khu vực…35. một phương pháp tiếp cận mang tính lồng ghép

nhiều rủi ro, tổng hợp nhằm giải quyết sự dễ bị tổn hại, đánh giá rủi ro và

quản lý các thảm họa, kể cả việc phòng ngừa, giảm nhẹ, sẵn sàng, ứng phó và

khơi phục là nhân tố căn bản của một thế giới an toàn hơn trong thế kỷ thứ

21…”[5], [6]



6

b) Quan điểm quốc gia của Việt Nam về phát triển bền vững

Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững

được định nghĩa: "Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của

thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của

các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh

tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ mơi trường". Đây là định nghĩa có tính

tổng qt, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của phát triển

bền vững, phù hợp với điều kiện và tình hình Việt Nam.

Bắt nhịp bước đi của thời đại, Đảng và Chính phủ đã sớm nhận thức tầm quan

trọng của phát triển bền vững. Để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững

ở Việt Nam, hàng loạt chính sách đã được ban hành trong các lĩnh vực kinh

tế, xã hội, môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền

vững mà Việt Nam đã ký kết. Trong các văn bản này, quan điểm phát triển

bền vững của Việt Nam đã được khẳng định, đặc biệt rõ nét trong Chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000 được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam (Đại hội VII) thơng qua, theo đó chủ

trương "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội,

phát triển văn hố, bảo vệ mơi trường". Đại hội VIII tiếp tục khẳng định

"Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát

huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái". Chỉ thị số 36-CT/TW ngày

25/ 6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường cơng tác bảo vệ mơi trường trong

thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nhấn mạnh: "Bảo vệ mơi

trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương

và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở

quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp cơng

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Quan điểm phát triển bền vững đã được

tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX

của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội



7

2001 - 2010 là: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế

đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và "Phát

triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự

hài hòa giữa mơi trường nhân tạo với mơi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng

sinh học". Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 cũng đã

nhấn mạnh "Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền

vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược". Phát triển bền vững đã trở

thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước. Trong giai

đoạn vừa qua, Việt Nam đã ký những cơng ước quốc tế có liên quan tới phát

triển bền vững như Nghị định thư Montreal về các chất phá hủy tầng ô - zôn;

Công ước Vienna về Bảo vệ tầng ô - zôn; Công ước của LHQ về Luật Biển;

Công ước khung của LHQ về Biến đổi khí hậu; Cơng ước Đa dạng sinh học

(1994); Cam kết thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Các cam kết

này đã được Chính phủ giao cho các Bộ, ngành có liên quan làm đầu mối,

chịu trách nhiệm quản lý, phối hợp tổ chức, lồng ghép trong các kế hoạch và

chương trình phát triển ở các cấp để thực hiện.

Chính phủ cũng đã thành lập Hội đồng phát triển bền vững quốc gia để

chỉ đạo, giám sát việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Mặc dù việc triển khai

tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững chưa lâu nhưng chúng ta đã

đạt được một số kết quả đáng khích lệ.

Lĩnh vực kinh tế: Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một

trong số các nước đang phát triển đã đạt được những thành tựu nổi bật trong

cải cách kinh tế hướng tới tăng trưởng và giảm nghèo. Tốc độ tăng GDP bình

quân hàng năm đạt 7,85% trong giai đoạn 2000 - 2008. Trong các năm tiếp

theo, do chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu 2008 và khủng

hoảng nợ công 2010, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 của Việt

Nam tuy đã chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực và thế

giới. Quy mơ nền kinh tế tăng nhanh. Năm 2003, GDP bình quân đầu người ở



8

nước ta mới đạt 471 USD/năm thì đến năm 2015, quy mô nền kinh tế đạt

khoảng 204 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2.300 USD. Lực

lượng sản xuất có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng. Chất lượng tăng

trưởng có mặt được cải thiện, trình độ cơng nghệ sản xuất có bước được nâng

lên. Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp TFP vào tăng trưởng nếu ở giai

đoạn 2001-2005 đạt 21,4%, giai đoạn 2006-2010 đạt 17,2% thì trong giai

đoạn 2011-2015 đạt 28,94%. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được

kiểm soát. Việt Nam từ nước nghèo lạc hậu đã bước vào nhóm nước có thu

nhập trung bình thấp.

Lĩnh vực xã hội: Việt Nam rất quan tâm đến sự kết hợp giữa tăng

trưởng kinh tế với phát triển xã hội, trong đó chú trọng tới các chính sách

giảm nghèo và an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ, cơng bằng xã hội vì mục tiêu

phát triển con người, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

của nhân dân. Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xóa đói giảm nghèo

(CPRGS) của Việt Nam (2002) đã được thực hiện có hiệu quả thơng qua các

Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010, Chương

trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 - 2015. Chính

sách bình đẳng giới ngày càng được quan tâm. Luật Bình đẳng giới; Luật

Phòng, Chống bạo lực gia đình; Luật Hơn nhân và Gia đình; Luật Đất đai là

những bộ luật cơ bản đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới. Các

chiến lược quốc gia như Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xố đói

giảm nghèo, Chiến lược quốc gia về Chăm sóc sức khoẻ sinh sản 2001 - 2010,

Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, Chiến lược quốc gia về sự tiến bộ

của phụ nữ đến năm 2010, Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo giai

đoạn 2006 - 2010 đều đề cập đến vấn đề bình đẳng giới nhằm nâng cao vị thế

và quyền lợi của phụ nữ. Các chính sách về y tế, giáo dục cũng đã được ban

hành, nhằm không ngừng thúc đẩy việc cải thiện đời sống vật chất và tinh

thần của người dân, dù đất nước còn nhiều khó khăn. Chi ngân sách nhà nước



9

cho giáo dục, đào tạo đạt tới 20% tổng chi ngân sách; đến năm 2011, tất cả

các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn giáo dục trung học cơ sở. Việc giải quyết

việc làm đạt kết quả tích cực: trong 6 năm (2006 - 2011), đã giải quyết được

việc làm cho hơn 9 triệu lao động. Năm 2012 đã tạo việc làm mới cho hơn 1,5

triệu người; năm 2013, phấn đấu tạo việc làm cho 1,6 triệu người; tuyển mới

dạy nghề cho 1,9 triệu người; thực hiện chiến lược dạy nghề gắn với tạo việc

làm. Năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 3,53%, ở khu vực nơng thơn là

1,55%. Cơng tác xóa đói, giảm nghèo có nhiều tiến bộ, tỷ lệ hộ nghèo giảm

mạnh từ 28,9% năm 2002 xuống còn 9,6% vào năm 2010 và đến cuối năm

2013 còn 7,6%. Theo Liên minh Viễn thơng Quốc tế (ITU), số người dùng

Internet tại Việt Nam đạt gần 31 triệu người, chiếm khoảng 34% dân số, đứng

thứ ba ở Đông Nam Á và thứ tám ở Châu Á. Năm 2012, Việt Nam xếp thứ

127 trên tổng số 187 nước và vùng lãnh thổ về HDI và được xếp vào nhóm có

tốc độ tăng chỉ số HDI cao. Việt Nam đã hồn thành 6/8 nhóm Mục tiêu

Thiên niên kỷ (MDG) do Liên hợp quốc đặt ra cho các nước đang phát triển

đến năm 2015.

Lĩnh vực môi trường trong những năm qua đã được chú trọng hơn. Việt

Nam đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường từ năm 1993 và được sửa đổi năm

2005, từ đó các chính sách về bảo vệ môi trường đã được thực thi rộng rãi, đi

vào chiều sâu, kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội. Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp

luật về bảo vệ mơi trường còn có các luật, pháp lệnh về bảo vệ các thành phần

mơi trường (còn gọi là các luật, pháp lệnh về tài nguyên). Hiện nay có khoảng

33 luật và 22 pháp lệnh có nội dung liên quan tới cơng tác bảo vệ môi trường,

chẳng hạn: Luật Đa dạng sinh học năm 2008; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

năm 2004; Luật Đất đai năm 2003; Luật Thủy sản năm 2003; Luật Tài nguyên

nước năm 1998; Luật Khoáng sản năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm

2005)... Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng



10

đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào năm 2003 đã đề

ra những định hướng lớn về bảo vệ môi trường thông qua 5 nhiệm vụ cơ bản,

8 giải pháp thực hiện và 36 chương trình, dự án, đề án nhằm đạt được các

mục tiêu cụ thể đến năm 2010 và năm 2020.

Bằng những chính sách hợp lý, các giải pháp quyết liệt, vấn đề bảo vệ môi

trường sống, chống ơ nhiễm các nguồn nước, khơng khí đã được tất cả các địa

phương, các ngành và các tầng lớp nhân dân đồng thuận và cùng tham gia.

Công tác trồng rừng, bảo vệ rừng được quan tâm hơn nên tình trạng cháy và

chặt phá rừng đã giảm đi. Nhiều nội dung về phòng ngừa, kiểm sốt ơ nhiễm

và bảo tồn đa dạng sinh học đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Việc

lồng ghép các vấn đề về môi trường từ giai đoạn lập chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch và giai đoạn chuẩn bị đầu tư các dự án đã góp phần hạn chế và giảm

thiểu ơ nhiễm môi trường.

Theo Báo cáo phát triển con người (HDR) năm 2013 của UNDP, Việt

Nam nằm trong số 40 nước đang phát triển đạt tiến bộ vượt dự kiến về phát

triển con người với chỉ số phát triển con người tăng 41% trong hai thập kỷ

qua. Vũ Văn Hiền GS,TS, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (tạp trí

cống sản 31/01/2014).

1.2.1.2. Các quan điểm sử dụng đất bền vững.

Nhận thức đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi đó nhu cầu của con

người lấy từ đất lại ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng thu

hẹp do bị trưng dụng sang mục đích khác. Vì vậy sử dụng đất nông nghiệp

cần quán triệt các quan điểm như sau:

(1) Một nền nông nghiệp phát triển bền vững phải đáp ứng đầy đủ các

tiêu chí: tốt về mơi trường sinh thái, có hiệu quả kinh tế, phù hợp với nhu cầu

xã hội và truyền thống văn hoá; cho phép áp dụng cơng nghệ thích hợp; đem

lại lợi ích và sự phát triển chung cho toàn thể cộng đồng, trước mắt và lâu dài.



11

Sản xuất nông nghiệp bền vững gắn chặt với sử dụng đất nông nghiệp bền

vững, hiệu quả.

(2) Sử dụng đất bền vững quan hệ đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn

hố và mơi trường, hiện tại và tương lai, làm giảm suy thoái đất và nước đến

mức tối thiểu, giảm chi phí sản xuất bằng cách sử dụng thông minh các nguồn

tài nguyên bên trong và áp dụng hệ thống quản lý phù hợp. Sử dụng đất bền

vững trong nông nghiệp liên quan trực tiếp đến các hệ thống canh tác cụ thể

nhằm duy trì và nâng cao thu nhập, đồng thời bảo vệ các nguồn tài nguyên

thiên nhiên và thúc đẩy phát triển nông thôn, hiện tại và tương lai.

(3) Sử dụng đất nơng nghiệp với mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên

liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu, trên cơ sở cân nhắc những mục

tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện

sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu tới môi trường;

1.2.1.3 . Các nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp bền vững.

(1) Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý theo hướng tập trung chun mơn

hố, sản xuất hàng hố theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện

thâm canh tồn diện và liên tục. Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất

nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

trước mắt và lâu dài. Thâm canh cây trồng, vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao

hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vừa đảm bảo phát triển một nền

nông nghiệp ổn định.

(2) Sử dụng đất nơng nghiệp có hiệu quả đảm bảo giá trị lợi nhuận trên

một đơn vị diện tích cao. Nâng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở

thực hiện đa dạng hố hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nơng nghiệp, đa

dạng hố cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường. Nâng

cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cũng gắn liền với chuyển dịch cơ cấu

sử dụng đất và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động



12

sang các hoạt động phi nơng nghiệp khác. Tận dụng triệt để các nguồn lực

thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học kĩ thuật, đất đai, lao động qua

liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật ni có tỉ suất cao, tăng sức cạnh

tranh và hướng tới xuất khẩu.

(3) Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, hiệu quả trên cơ sở sử dụng bền

vững phải quan tâm tới ba hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường. Về hiệu

quả kinh tế, là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng

của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao

động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội.

Về hiệu quả xã hội, tạo được công ăn việc làm cho lao động, xố đói giảm

nghèo, định canh, định cư, cơng bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn

dân. Về hiệu quả mơi trường, đảm bảo được lợi ích hiệu quả mà không ảnh

hưởng xấu tới tài nguyên đất và mơi trường sinh thái. Ngăn ngừa suy thối,

khắc phục ơ nhiễm và bảo tồn được đa dạng sinh học. Trong q trình sử

dụng đất nơng nghiệp cần phải chú trọng tới cả ba hiệu quả trên.

1.2.2. Sử dụng đất nông nghiệp bền vững.

1.2.2.1. Hệ thống nông nghiệp bền vững.

(1) “Hệ thống nông nghiệp bền vững” bao hàm sự quản lý thành công

các tài nguyên cho nông nghiệp để thỏa mãn các nhu cầu đa dạng và thay đổi

của con người trong khi vẫn duy trì hay tăng cường chất lượng của môi

trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Trong khái niệm này, sức sản xuất

cao là một khía cạnh quan trọng. Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả

cao trong sản xuất để phát triển một nền nông nghiệp bền vững là xu hướng

tất yếu với các nước trên thế giới.

(2) Phần lớn các hệ thống nông nghiệp ưu thế trong vùng nhiệt đới ẩm

được đặc trưng bởi sức sản xuất hoa màu và gia súc thường thấp và suy giảm

nhanh khi sử dụng liên tục, mức độ xuống cấp của đất đai và môi trường cao,



13

ngoại trừ một số ít ngoại lệ đáng chú ý, như các hệ thống lâm sinh và các hệ

thống canh tác dựa trên cây lúa.

(3) Sử dụng đất bền vững có nghĩa là sự duy trì sức sản xuất cao trên

mỗi đơn vị diện tích trên một cơ sở liên tục, với sự tăng cường chất lượng đất

và cải thiện các đặc trưng của môi trường. Thực chất các hệ thống nông

nghiệp với nhập lượng thấp, dựa trên sự khai thác độ phì của đất, thường

khơng bền vững.

1.2.2.2. Sử dụng đất nơng nghiệp bền vững.

(1) Sử dụng đất đai bền vững là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà

mối quan hệ người - đất tổ hợp trong các nguồn tài nguyên khác và môi trường.

Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hố cây trồng, vật ni

trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên

cứu áp dụng cơng nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó

là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp

hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững, đồng thời phát huy tối đa

công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất.

(2) Sử dụng đất nơng nghiệp bền vững, có hiệu quả cao thơng qua việc

bố trí cơ cấu cây trồng, vật ni hợp lý là một trong những vấn đề bức xúc

hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm

của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh

nơng nghiệp mà còn là sự mong muốn của người nơng dân, những người trực

tiếp tham gia vào q trình sản xuất nơng nghiệp.

(3) Mục tiêu chính của một hệ thống sử dụng đất bền vững là duy trì

một sức sản xuất ở mức cao, duy trì hay cải thiện các thuộc tính mơi trường,

thẩm mỹ cảnh quan và tăng cường chất lượng đất. Tính bền vững liên kết với

mật thiết chất lượng đất và nó phải được duy trì hay tăng cường.

(4) Yêu cầu đối với sử dụng đất nông nghiệp bền vững:

- Sử dụng đất đai dài hạn;



14

- Đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không hủy hoại tiềm năng tương lai;

- Tăng cường sản xuất trên đầu người;

- Duy trì và tăng cường chất lượng mơi trường;

- Phục hồi sức sản xuất và khả năng điều hòa mơi trường của các hệ

sinh thái bị suy thối và nghèo nàn.

(5) Nhiệm vụ sử dụng đất nông nghiệp bền vững

- Sử dụng hợp lý hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất;

- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình

thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất;

- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp hình thành quy mô

kinh tế sử dụng đất;

- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp hình thành việc sử dụng đất một

cách kinh tế, tập trung thâm canh.

1.2.3. Sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả

Việc sử dụng đất phụ thuộc nhiều vào các yếu tố liên quan. Vì vậy, xác

định bản chất và khái niệm hiệu quả dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết

học của C.Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống:

- Hiệu quả phải được xem xét trên ba mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã

hội, hiệu quả môi trường;

- Phải xem xét tới lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài;

- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích chung

của cả cộng đồng;

- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác;

- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành.

Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên ba

khía cạnh: hiệu quả về mặt kinh tế sử dụng đất, hiệu quả về mặt xã hội và

hiệu quả về mặt môi trường.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×