Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai trên Thế giới và Việt Nam

3Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai trên Thế giới và Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



trùng. Các biện pháp tránh thai tự nhiên (tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm

đạo) [23].

1.3.2 Tình hình sử dụng BPTT ở Việt Nam

Ở Việt Nam tỷ lệ sử dụng các BPTT rất cao và tăng lên trong khoảng

thời gian 1988 - 1997. Có khoảng 60% phụ nữ có chồng trả lời đã từng sử

dụng 1 BPTT nào đó trong năm 1988, và tỷ trọng này tăng lên đên 73% năm

1994 và 82% năm 1997. Tỷ lệ phụ nữ có chồng đang sử dụng BPTT tăng từ

53% năm 1988 lên 65% năm 1994, 75% năm 1997 và 80,2% năm 2003 [7].

Cơ cấu sử dụng BPTT ở Việt Nam có 2 đặc điểm: Ưu thê vẫn là vòng

tránh thai (DCTC) trong các BPTT hiện đại, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tính

vòng kinh và xuất tinh ra ngoài còn cao trong các biện pháp. Phương pháp

được sử dụng phổ biên nhất tại thời điểm của cả 3 cuộc điều tra 1988, 1994 và

1997 vẫn là DCTC. Năm 1997 có tới trên một nữa (56%) phụ nữ Việt Nam có

chồng trong độ tuổi sinh đẻ trả lời rằng: họ đã từng sử dụng DCTC một lúc

nào đó trong cuộc đời. Mặc dù những người đã từng sử dụng DCTC tăng

đáng kể giữa điều tra 1994 và 1997 tới 8%, nhưng tỷ lệ đang sử dụng tăng

chậm hơn chỉ có 5%. Phần lớn tăng 12% về sử dụng BPTT hiện đại là kêt quả

của việc gia tăng các biện pháp khác không phải là DCTC, đặc biệt là thuốc

uống tránh thai, BCS và triệt sản nữ. Chứng tỏ mô hình sử dụng các biện pháp

tránh thai đã dần thay đổi, tỷ lệ CPR ngày càng tăng, nhưng số người sử dụng

DCTC ngày càng giảm: số người sử dụng DCTC năm 1994 là 76%, năm 1988

là 88%, đên năm 2002 chỉ còn chiêm 68%, tổng số người đang sử dụng biện

pháp hiện đại [7], [17].

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Bạch Yên và cộng sự, từ năm

2009 đên năm 2013, huyện Minh Hoá có 12.314 người mới sử dụng các

BPTT, trong đó tỷ lệ người sử dụng dụng cụ tử cung giảm dần và người sử

dụng bao cao su và viên uống tránh thai lại tăng dần qua các năm. Tại huyện



11



Đam Rông có 6.561 người mới sử dụng các BPTT, trong đó thuốc tiêm được

sử dụng phổ biên, trong khi số phụ nữ đặt dụng cụ tử cung đang tăng lên theo

năm [21].

Kêt quả cuộc Điều tra biên động Dân số năm 2015 cho thấy, tỷ lệ sử

dụng các biện pháp tránh thai bất kỳ đạt 75,7%, giảm 1,5% so với kêt quả

Điều tra biên động dân số 2013. Số liệu của các cuộc Điều tra BĐDS hàng

năm cho thấy, tỷ lệ sử dụng BPTT bất kỳ của Việt Nam hiện đang ở mức

cao.Tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại tại thời điểm 1/4/2015 đạt mức 65,0%,

giảm 2% so với kêt quả Điều tra biên động dân số 2013. Tỷ lệ sử dụng BPTT

bất kỳ ở khu vực nông thôn cao hơn ở thành thị 3,4% (76,8% so với 73,4%).

Trong đó, tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị

3,7% (66,2% so với 62,5%), còn tỷ lệ sử dụng BPTT khác ở khu vực nông

thôn và thành thị không có sự chênh lệch nhiều, ở nông thôn thấp hơn thành

thị 0,2% (10,8% so với 10,6%). Tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại khá cao ở các

vùng còn khó khăn về kinh tê - xã hội như Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền

Trung và Trung du và miền núi phía Bắc (65,7%) và đối với các nhóm phụ nữ

có trình độ học vấn thấp hơn như chưa đi học (71,1%), chưa tốt nghiệp tiểu

học (70,6%) và tốt nghiệp tiểu học (68,1%) [18].

Những con số này một lần nữa chứng minh trong thập kỷ vừa qua các

chương trìnhKHHGĐ đã được Nhà nước đầu tư và tập trung thực hiện có

trọng điểm, đặc biệt ởkhu vực nông thôn. Các chương trình này đã góp phần

làm giảm mức sinh ở khu vực này, qua đó làm giảm mức sinh chung của cả

nước trong hơn 10 năm qua.

BPTT được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam hiện nay là vòng tránh

thai. Tỷ lệ sử dụng vòng tránh thai từ năm 2004 đên 2015 tuy có xu hướng

giảm dần nhưng vẫn luôn duy trì ở mức khá cao. Năm 2013 lần đầu tiên trong

hơn một thập kỷ qua, tỷ lệ sử dụng biện pháp này rơi xuống thấp hơn 50%



12



trong số các biện pháp tránh thai được sử dụng, đên năm 2015 tỷ lệ này tiêp

tục giảm x́ng còn 47,9% (giảm 1,7% so với năm 2013). Tỷ lệ sử dụng các

BPTT như uống thuốc tránh thai, tiêm, cấy có xu hướng tăng chậm. Năm

2015 tỷ lệ sử dụng BPTT trùn thớng (tính vòng kinh/xuất tinh ngoài) đạt

14,0%, cao hơn các năm 2004 đên năm 2013, tăng so với năm 2013 là 1%

[18].

1.3.3 Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai tại tỉnh Hậu Giang

Năm 2012, tổng các (BPTT) được thực hiện: 72.746/69.920, đạt 104%

KH. Trong đó: đình sản đạt 239,1% KH; dụng cụ tử cung đạt 109,5% KH;

thuốc tránh thai: cấy (23,3%); tiêm (107%); uống (101,6%); bao cao su đạt

106,8% KH [9].

Năm 2014, Tổng các (BPTT) được thực hiện 71.789/71.200, đạt

100,8% KH (tăng 0,3% sck). Trong đó: đình sản 109/100 cas, đạt 109% KH;

dụng cụ tử cung: 7.385/7.300 (đạt 101,2% KH); thuốc tránh thai: 548/1.380

(39,71%); Tiêm: 3.934/4.080 (96,4%); Uống 35.458/34.640 (102,4%); Bao

cao su: 24.364/23.700 (102,8%) KH [10].

Năm 2015, Kêt quả thực hiện các biện pháp tránh thai đên tháng

12/2015:Số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh

thai hiện đại là 117.294 (đình sản 5.312, vòng tránh thai 46.303, bao cao su

21.919, thuốc uống 36.655, cấy tránh thai 2.810, tiêm tránh thai 4.295) chiêm

tỷ lệ 81,8%; Số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng biện pháp tránh

thai khác là 3.319, chiêm tỷ lệ 2,3%. Như vậy tổng các biện pháp tránh thai

chung là 84%. Riêng kêt quả thực hiện các biện pháp tránh thai mới theo chỉ

tiêu năm:Toàn tỉnh có 73.304/72.649 người áp dụng các BPTT lâm sàng và

phi lâm sàng, đạt 100,9% KH năm, trong đó:

- Đình sản



: 97/87 (111,5% KH)



- DCTC



: 9.064 /8.819 (102,7% KH)



13



- Thuốc cấy



: 1.274/1.430 (89% KH)



- Thuốc tiêm



: 4.295/4.119 (104,3% KH)



- Thuốc uống



: 36.655/36.398 (100,7% KH)



- BCS



: 21.919/21.796 (100,6% KH) [11].



Năm 2016, Toàn tỉnh có 79.024/72.649 người áp dụng các BPTT lâm

sàng và phi lâm sàng, đạt 108,8% KH năm, tăng 7,9% so với cùng kỳ [12].

1.4 Đề án xã hội hoá cung cấp phương tiện tránh thai

Ngày 12 tháng 03 năm 2015, Bộ Y tê đã phê duyệt đề án “Xã hội hoá

cung cấp phương tiện tránh thai và dịch vụ kê hoạch hoá gia đình/SKSS tại

khu vực thành thị và nông thôn phát triển giai đoạn 2015-2020” [3].

1.4.1 Mục tiêu

1.4.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về phương tiện tránh thai,

hàng hóa và dịch vụ kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản có chất lượng

cho người dân nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội, sự bền vững của chương

trình dân số - kê hoạch hóa gia đình; huy động và nâng cao hiệu quả của các

nguồn lực đầu tư từ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

cho chương trình dân số - kê hoạch hóa gia đình phù hợp với xu hướng phát

triển của nền kinh tê thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

1.4.1.2 Mục tiêu cụ thê

- Có ít nhất 01 chủng loại phương tiện tránh thai mới được đưa vào Việt

Nam.

- Có ít nhất 01 chủng loại phương tiện tránh thai hoặc hàng hóa kê

hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản mới được sản xuất tại Việt Nam.

- 100% cấp tỉnh tại địa bàn Đề án có Trung tâm Tư vấn và cung ứng

dịch vụ cấp tỉnh thực hiện xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai, hàng

hóa và dịch vụ kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản.



14



- 100% cấp huyện tại địa bàn Đề án có cơ sở y tê thực hiện xã hội hóa

cung cấp dịch vụ kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản.

- 100% cấp xã tại địa bàn Đề án có cơ sở thực hiện xã hội hóa cung cấp

phương tiện tránh thai, hàng hóa kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản.

1.4.2 Đối tượng

- Đối tượng tác động: doanh nghiệp/tổ chức/tư nhân sản xuất, phân

phối cung ứng phương tiện tránh thai, hàng hóa kê hoạch hóa gia đình/sức

khỏe sinh sản; cơ sở y tê trong và ngoài công lập cung cấp dịch vụ kê hoạch

hóa gia đình/sức khỏe sinh sản.

- Đối tượng thụ hưởng: người làm việc, người sinh sống tại địa bàn của

đề án, ưu tiên các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, thanh niên, vị thành

niên.

1.4.3 Các nhiệm vụ và hoạt động chủ yêu

- Đa dạng hóa phương tiện tránh thai và hàng hóa kê hoạch hóa gia

đình/sức khỏe sinh sản theo phân khúc thị trường, chú trọng vào các phương

tiện tránh thai hiện đại có tác dụng lâu dài và hiệu quả.

+ Củng cố và phát triển mạng lưới cung ứng phương tiện tránh thai và

hàng hóa kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản trên cơ sở huy động sự

tham gia của các doanh nghiệp/tổ chức/tư nhân thuộc các thành phần kinh tê

theo phân khúc thị trường.

+ Nâng cao chất lượng và số lượng chủng loại phương tiện tránh thai

và hàng hóa kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản theo phân khúc thị

trường; Thử nghiệm, đưa ra thị trường chủng loại phương tiện tránh thai mới.

+ Tăng cường quản lý chất lượng phương tiện tránh thai và hàng hóa kê

hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản; thử nghiệm mô hình đăng ký hợp quy,

hợp chuẩn về phương tiện tránh thai và hàng hóa kê hoạch hóa gia đình/sức

khỏe sinh sản.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai trên Thế giới và Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×