Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



Tại Hàn Quốc: Mục tiêu là giảm tỷ lệ gia tăng dân số từ 1,58% (1982)

xuống 1,49% (1986) và đã đạt 0,9% (1990). Trong 20 năm đầu thực hiện

KHHGÐ, mức sinh hàng năm giảm 0,165 con/phụ nữ. 10 năm gần đây mức

sinh mỗi năm giảm 0,1 con/phụ nữ. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh

đẻ áp dụng các BPTT tăng từ 9% (1964) lên 77% (1988) [24].

Tại Trung Quốc: Nêu năm 1950 bình quân mỗi phụ nữ trung bình sinh

6,08 con thì sau 43 năm chỉ còn 1,9 con và từ năm 1970 (là năm bắt đầu thực

hiện KHHGÐ) đên nay, hàng năm TFR đã giảm bình quân 0,17 con. Ðây là

mức phấn đấu ước mơ của nhiều quốc gia đang phát triển [23].

1.2.2Tình hình thực hiện công tác Dân số – Kê hoạch hoá gia đình tại Việt

Nam

Đứng trước xu hướng dân số thê giới ngày mợt tăng nhanh, nhiều q́c

gia còn trong tình trạng đói nghèo. Việt Nam là một trong những quốc gia

sớm đi đầu trong việc thực hiện công tác DS-KHHGĐ. Năm 1961, khi dân sớ

nước ta mới khoảng 30 triệu người, Chính phủ đã ban hành Quyêt định số

216/CP được coi là văn bản pháp quy đầu tiên của Nhà nước ta về cơng tác

DS-KHHGĐ và mang đậm tính nhân văn “Vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh

phúc hồ thuận của gia đình và để cho việc ni dạy con cái được chu đáo,

việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn một cách thích hợp”. Để kỷ

niệm và đánh dấu sự kiện này, ngày 19/5/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban

hành Quyêt định số 326, lấy ngày 26/12 hàng năm làm Ngày Dân số Việt

Nam. Từ đó ngày 26 tháng 12 năm 1961 trở thành mốc lịch sử quan trọng của

chương trình dân sớ Việt Nam. Việt Nam chính thức tuyên bố tham gia

chương trình dân số toàn cầu, đánh dấu sự khởi đầu nhận thức ý nghĩa của

mối quan hệ giữa dân số và phát triển trong tiêng chuông báo động về tình

hình gia tăng dân số quá nhanh trên thê giới [20].



5



Số con trung bình của 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 - 49) 6,39

con/1phụ nữ vào năm 1960, tức là tương đương với mức sinh tiềm tàng, sau

14 năm thực hiện việc sinh đẻ đã có hướng dẫn (1961 - 1975), TFR x́ng

còn 5,25 con vào năm 1975, đên năm 1985 TFR giảm x́ng còn 3,95. TFR

giảm x́ng nhanh, đặc biệt kể từ sau khi nghị quyêt Trung ương 4 khoá VII

ra đời, TFR từ 3,95 (1985) giảm x́ng còn 3,1 con vào năm 1994; 2,3 con

vào năm 1999 và 2,28 con vào năm 2002. Theo kêt quả tổng điều tra dân số

và nhà ở năm 1999 thì TFR đã tiên gần đên mức sinh thay thê, trong đó 3

vùng là đồng bằng sông Hồng, Ðông Nam bộ, sông Cửu Long đã đạt được

mức sinh thay thê. Hai vùng có mức sinh cao nhất là Tây Bắc 3,6 con và Tây

Nguyên là 3,9 con, cao gấp 1,6 - 1,7 lần mức sinh bình quân của cả nước [5].

Trải qua 45 năm triển khai công tác dân số, đặc biệt là từ khi thực hiện

Nghị quyêt lần thứ 4 Ban chấp hành Trung Ương Đảng khoá VII, về chính

sách dân sớ và kê hoạch hoá gia đình. Công tác dân số đã đạt được những kêt

quả to lớn góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh và phát triển kinh tê - xã

hội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Trong những đánh giá về vấn đề DS-KHHGĐ đã nhận định: Tỷ lệ sinh

con thứ 3 trở lên mặc dù đã có sự giảm dần nhưng chưa ổn định chiêm

khoảng 22% số sinh ( theo điều tra năm 2002); (1993: 45,7%; 1994: 37,1%;

1995; 37,7%, 1996: 29,5%; 1997: 31,67%, năm 2002 là 21,73%). Tỷ lệ này

cũng không đồng đều giữa các vùng trong cả nước, vùng đồng bằng sông

Hồng tỷ lệ sinh con thứ 3 thấp (khoảng 16%), còn các vùng khác tỷ lệ này

tương đối cao. Khu vực nông thôn cao gần gấp đôi khu vực thành thị (24% so

với 13%) Thậm chí vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung tỷ lệ sinh con

thứ 3 trở lên chiêm đên gần 50% [5], [7], [14].

Nhằm thực hiện hiệu quả công tác dân số – kê hoạch hoá gia

đình/CSSKSS cho nhân dân, ngày 14 tháng 11 năm 2011, Thủ tướng Chính



6



phủ đã phê duyệt Chiên lược Dân số và Sức khoẻ sinh sản Việt Nam giai đoạn

2011-2020 [15].

Theo kêt quả báo cáo chung tổng quan ngành y tê năm 2015 của Bộ Y

tê, thì dịch vụ DS-KHHGĐ, CSSKSS chủ yêu được cung cấp bởi mạng lưới

cơ sở y tê công lập bao gồm chi cục DS-KHHGĐ, trung tâm chăm sóc SKSS

và trung tâm DS-KHHGĐ, Khoa sản của bệnh viện đa khoa hoặc bệnh viện

chuyên khoa sản ở tuyên tỉnh; trung tâm DS-KHHGĐ và khoa chăm sóc

SKSS thuộc TTYT/bệnh viện đa khoa tuyên huyện và cán bộ y tê/dân số

tuyên xã. Đên nay, các khoa sản/bệnh viện/trung tâm hầu hêt đã đủ điều kiện

thực hiện các dịch vụ KHHGĐ/SKSS, bao gồm cả kỹ thuật triệt sản nam/nữ,

cấy thuốc tránh thai. Tại tuyên xã, 96% TYT xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản

nhi, hầu hêt đã được đào tạo và có kỹ năng cơ bản về KHHGĐ/CSSKSS theo

chuẩn quốc gia, có khả năng thực hiện kỹ thuật đặt, tháo vòng, tiêm th́c

tránh thai. Nhiều chỉ tiêu DS-KHHGĐ quan trọng của Kê hoạch 5 năm và

Nghị quyêt Đại hội XI của Đảng đạt mục tiêu đề ra cho năm 2015, như quy

mô dân số không quá 93 triệu người (2015 là 91,7%); mức giảm tỷ lệ sinh

<0,1%o năm, duy trì mức sinh thay thê (2015 là 2,1 con/phụ nữ) [2].

1.2.3 Thách thức đối với công tác Dân số – Kê hoạch hoá gia đình

tại Việt Nam [6]

Ngân sách của Việt Nam cho chương trình KHHGĐ phụ thuộc vào viện

trợ nước ngoài trong thời gian dài.Theo ước tính của chính phủ, khoảng 80%

ngân sách mua PTTT giai đoạn 1996 – 2006 là từ các nhà tài trợ. Việt Nam đã

đạt mức quốc gia có thu nhập trung bình, và các nhà tài trợ chính cho lĩnh vực

dân số KHHGĐ, bao gồm tập đoàn ngân hàng KfW (Ngân hàng Phát triển

của Chính phủ Đức) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) đã ngừng cam

kêt tài trợ cho chương trình này. Chương trình còn đới mặt với những thách

thức về việc triển khai, bao gồm thiêu sự điều phối hoặc điều phối yêu kém



7



giữa các kênh cung cấp dịch vụ lâm sàng và phi lâm sàng, cũng như giữa các

nhà cung cấp dịch vụ khu vực nhà nước và tư nhân. Năng lực của chính phủ

về dự báo nhu cầu và duy trì việc cung cấp thường xuyên PTTT cho tất cả

phụ nữ có nhu cầu còn hạn chê.Sớ liệu có sẵn về tình trạng kinh tê của người

sử dụng BPTT và nguồn cung cấp PTTT (ví dụ của nhà nước, tiêp thị xã hợi

hoặc cơ sở y tê và nhà thuốc tư nhân) là số liệu từ 5 - 10 năm trước. Tư vấn,

giám sát hỗ trợ và giáo dục sức khỏe cho vị thành niên là lĩnh vực cần được

cải thiện trong các cơ sở cung cấp dịch vụ nhà nước.

Thách thức khác trong những năm gần đây là vấn đề thay đổi cơ cấu tổ

chức. Ngay trước thời điểm hỗ trợ của các nhà tài trợ kêt thúc, Tổng cục Dân

số Kê hoạch hóa Gia đình (TCDS/KHHGĐ) đã chuyển từ một cơ quan cấp bộ

hoạt động độc lập thành một cơ quan trực thuộc BYT. Vì vậy, thẩm quyền của

TCDS/KHHGĐ có phần thu hẹp lại, đặc biệt là trong việc phối hợp với các

bợ ngành liên quan khác của chính phủ (Bợ Tài chính hoặc Bợ Kê hoạch và

Đầu tư – trong việc ra quyêt định về ngân sách). TCDS/KHHGĐ chịu trách

nhiệm xây dựng chính sách, điều phới và cung cấp các PTTT.Vụ Sức khỏe Bà

mẹ Trẻ em, BYT có nhiệm vụ xây dựng và hướng dẫn chuyên môn cung cấp

dịch vụ KHHGĐ.

Khối tư nhân cung cấp dịch vụ KHHGĐ ở Việt Nam cũng phải đối mặt

với những thách thức quan trọng. Một thập kỷ trước, theo số liệu Điều tra

Nhân khẩu học và Y tê tiên hành năm 2002 ở Việt Nam, khoảng 14% người

sử dụng các BPTT nhận dịch vụ tránh thai tại cơ sở tư nhân. Các bên liên

quan trong lĩnh vực KHHGĐ lưu ý còn nhiều rào cản đới với sự phát triển của

khu vực tư nhân ở quốc gia này, bao gồm thuê nhập khẩu, thủ tục phê duyệt

của chính phủ chậm chạp và khó khăn về việc điều chỉnh giá dịch vụ, và sự

hạn chê của tiêp thị và truyền thông liên quan đên KHHGĐ.



8



Hiện nay BYT chịu trách nhiệm cung cấp PTTT cho người dân trong

bối cảnh khơng còn những ng̀n tài trợ trên.Tại thời điểm PATH bắt đầu hợp

tác với chính phủ để triển khai phương thức thị trường tổng.

1.2.4 Tình hình thực hiện công tác Dân số – Kê hoạch hoá gia đình tại tỉnh

Hậu Giang

Tại Hậu Giang, công tác DS-KHHGĐ trong những năm qua luôn đạt

các chỉ tiêu cơ bản, đã tập trung giải quyêt căn bản vấn đề về quy mô dân số

trên cơ sở giảm nhanh mức sinh, nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn

nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp

phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh. Các giải pháp đã thực hiện

như đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc SKSS-KHHGĐ của người dân bằng nhiều

loại hình cung cấp như dịch vụ tư vấn, nâng cấp hệ thống cung cấp dịch vụ

các tuyên, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người cung cấp dịch

vụ. Bên cạnh đới tượng còn được tiêp cận các biện pháp tránh thai qua Chiên

dịch Truyền thông dân số gắn với dịch vụ KHHGĐ hằng năm, nhiều năm liền

Hậu Giang là một trong những tỉnh được xêp vào nhóm có thành tích cao

trong Chiên dịch và đứng đầu trong cả nước [10].

Năm 2012, toàn tỉnh có 12.157 trẻ sinh ra sống (tăng 131 trẻ so với năm

2011), có 1.237 trẻ là con thứ 3; tỷ xuất sinh năm 2012 là 15,6%o; tỷ xuất giảm

sinh là 0,2%o (đạt 100% so với kê hoạch) [9].

Năm 2014, dân số toàn tỉnh là 787.800 người, tỷ suất sinh (CBR) giảm

x́ng còn 15,65%o; sớ con trung bình của mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

x́ng còn 1,78 (mức sinh thay thê là: TFR = 2,1 con/phụ nữ); tỷ lệ tăng dân

số tự nhiên (NIR) giảm còn 9,9%o; tỷ lệ sinh con lần thứ 3 là 9,98% (giảm

0,23%o so cùng kỳ). Tỷ sớ giới tính khi sinh (bé trai/100 bé gái) là 106/100

năm 2014 (thấp hơn trung bình cả nước 111,2); tỷ suất chêt trẻ em dưới 1 tuổi



9



cũng x́ng còn 10,4%o; tỷ suất chêt trẻ em dưới 5 tuổi giảm x́ng còn

15,4%o năm 2014; tỷ lệ tử vong mẹ là 31/100.000 trẻ đẻ sống [10].

Năm 2015, toàn tỉnh có 12.345 trẻ sinh ra sống, so với cùng kỳ giảm 86

trẻ, trong đó có 1.201 trẻ sinh lần 3, tỷ lệ 9,73%. Tỷ suất sinh đạt 15,59%o,

như vậy, mức giảm sinh giảm 0,06%o/0,05%o, đạt 120%; Tỷ sớ giới tính khi

sinh là 101,98 bé trai /100 bé gái (6.233 bé trai và 6.112 bé gái) so với kê

hoạch cho phép tăng 102,88 bé trai /100 bé gái [11].

Năm 2016, Công tác DS-KHHGĐ cũng đạt được nhiều kêt quả nỗi bật:

Chiên dịch truyền thông Dân số-CSSKSS –KHHGĐ đạt 108,5% kê hoạch đề

ra (tăng 3% so với cùng kỳ). Tỷ suất sinh (CBR) giảm x́ng còn 15,34%o

(toàn q́c là 15,74%o), so cùng kỳ năm 2015 là 15,59%o, như vậy, mức

giảm sinh giảm 0,25%o/0,05%o, như vậy giảm gấp 5 lần so chỉ tiêu giao; Tỷ

lệ sinh con lần thứ 3 là 9,81% (toàn quốc là 16,3%), giảm 0,17% so cùng kỳ;

Tỷ sớ giới tính khi sinh (bé trai/100 bé gái) là 106,02/100, thấp hơn trung bình

cả nước 112,2 bé trai/100 bé gái [12].

1.3Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai trên Thê giới và Việt Nam

1.3.1 Tình hình sử dụng BPTT trên thê giới

Người ta ước tính vào năm 1994, số lượng người sử dụng BPTT trên

thê giới khoảng 899 triệu, khoảng 57% số cặp vợ chồng có nguy cơ có thai.

Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai cụ thể như sau:

- Triệt sản nữ 17%.

- Dụng cụ tử cung (DCTC): 12%.

- Thuốc uống tránh thai: 8%.

- Triệt sản tự nguyện nam: 5%.

- Bao cao su (BCS): 5%.

Một số biện pháp tránh thai khác được cung cấp gồm có: Thuốc tiêm

tránh thai (DMPA), thuốc cấy tránh thai (Norplant, Implanon), thuốc diệt tinh



10



trùng. Các biện pháp tránh thai tự nhiên (tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm

đạo) [23].

1.3.2 Tình hình sử dụng BPTT ở Việt Nam

Ở Việt Nam tỷ lệ sử dụng các BPTT rất cao và tăng lên trong khoảng

thời gian 1988 - 1997. Có khoảng 60% phụ nữ có chồng trả lời đã từng sử

dụng 1 BPTT nào đó trong năm 1988, và tỷ trọng này tăng lên đên 73% năm

1994 và 82% năm 1997. Tỷ lệ phụ nữ có chồng đang sử dụng BPTT tăng từ

53% năm 1988 lên 65% năm 1994, 75% năm 1997 và 80,2% năm 2003 [7].

Cơ cấu sử dụng BPTT ở Việt Nam có 2 đặc điểm: Ưu thê vẫn là vòng

tránh thai (DCTC) trong các BPTT hiện đại, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tính

vòng kinh và xuất tinh ra ngoài còn cao trong các biện pháp. Phương pháp

được sử dụng phổ biên nhất tại thời điểm của cả 3 cuộc điều tra 1988, 1994 và

1997 vẫn là DCTC. Năm 1997 có tới trên một nữa (56%) phụ nữ Việt Nam có

chồng trong độ tuổi sinh đẻ trả lời rằng: họ đã từng sử dụng DCTC một lúc

nào đó trong cuộc đời. Mặc dù những người đã từng sử dụng DCTC tăng

đáng kể giữa điều tra 1994 và 1997 tới 8%, nhưng tỷ lệ đang sử dụng tăng

chậm hơn chỉ có 5%. Phần lớn tăng 12% về sử dụng BPTT hiện đại là kêt quả

của việc gia tăng các biện pháp khác không phải là DCTC, đặc biệt là thuốc

uống tránh thai, BCS và triệt sản nữ. Chứng tỏ mô hình sử dụng các biện pháp

tránh thai đã dần thay đổi, tỷ lệ CPR ngày càng tăng, nhưng số người sử dụng

DCTC ngày càng giảm: số người sử dụng DCTC năm 1994 là 76%, năm 1988

là 88%, đên năm 2002 chỉ còn chiêm 68%, tổng sớ người đang sử dụng biện

pháp hiện đại [7], [17].

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Bạch Yên và cộng sự, từ năm

2009 đên năm 2013, huyện Minh Hoá có 12.314 người mới sử dụng các

BPTT, trong đó tỷ lệ người sử dụng dụng cụ tử cung giảm dần và người sử

dụng bao cao su và viên uống tránh thai lại tăng dần qua các năm. Tại huyện



11



Đam Rông có 6.561 người mới sử dụng các BPTT, trong đó thuốc tiêm được

sử dụng phổ biên, trong khi số phụ nữ đặt dụng cụ tử cung đang tăng lên theo

năm [21].

Kêt quả cuộc Điều tra biên động Dân số năm 2015 cho thấy, tỷ lệ sử

dụng các biện pháp tránh thai bất kỳ đạt 75,7%, giảm 1,5% so với kêt quả

Điều tra biên động dân số 2013. Số liệu của các cuộc Điều tra BĐDS hàng

năm cho thấy, tỷ lệ sử dụng BPTT bất kỳ của Việt Nam hiện đang ở mức

cao.Tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại tại thời điểm 1/4/2015 đạt mức 65,0%,

giảm 2% so với kêt quả Điều tra biên động dân số 2013. Tỷ lệ sử dụng BPTT

bất kỳ ở khu vực nông thôn cao hơn ở thành thị 3,4% (76,8% so với 73,4%).

Trong đó, tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị

3,7% (66,2% so với 62,5%), còn tỷ lệ sử dụng BPTT khác ở khu vực nông

thôn và thành thị không có sự chênh lệch nhiều, ở nông thôn thấp hơn thành

thị 0,2% (10,8% so với 10,6%). Tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại khá cao ở các

vùng còn khó khăn về kinh tê - xã hội như Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền

Trung và Trung du và miền núi phía Bắc (65,7%) và đới với các nhóm phụ nữ

có trình độ học vấn thấp hơn như chưa đi học (71,1%), chưa tốt nghiệp tiểu

học (70,6%) và tốt nghiệp tiểu học (68,1%) [18].

Những con số này một lần nữa chứng minh trong thập kỷ vừa qua các

chương trìnhKHHGĐ đã được Nhà nước đầu tư và tập trung thực hiện có

trọng điểm, đặc biệt ởkhu vực nông thôn. Các chương trình này đã góp phần

làm giảm mức sinh ở khu vực này, qua đó làm giảm mức sinh chung của cả

nước trong hơn 10 năm qua.

BPTT được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam hiện nay là vòng tránh

thai. Tỷ lệ sử dụng vòng tránh thai từ năm 2004 đên 2015 tuy có xu hướng

giảm dần nhưng vẫn luôn duy trì ở mức khá cao. Năm 2013 lần đầu tiên trong

hơn một thập kỷ qua, tỷ lệ sử dụng biện pháp này rơi xuống thấp hơn 50%



12



trong số các biện pháp tránh thai được sử dụng, đên năm 2015 tỷ lệ này tiêp

tục giảm x́ng còn 47,9% (giảm 1,7% so với năm 2013). Tỷ lệ sử dụng các

BPTT như uống thuốc tránh thai, tiêm, cấy có xu hướng tăng chậm. Năm

2015 tỷ lệ sử dụng BPTT trùn thớng (tính vòng kinh/xuất tinh ngoài) đạt

14,0%, cao hơn các năm 2004 đên năm 2013, tăng so với năm 2013 là 1%

[18].

1.3.3 Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai tại tỉnh Hậu Giang

Năm 2012, tổng các (BPTT) được thực hiện: 72.746/69.920, đạt 104%

KH. Trong đó: đình sản đạt 239,1% KH; dụng cụ tử cung đạt 109,5% KH;

thuốc tránh thai: cấy (23,3%); tiêm (107%); uống (101,6%); bao cao su đạt

106,8% KH [9].

Năm 2014, Tổng các (BPTT) được thực hiện 71.789/71.200, đạt

100,8% KH (tăng 0,3% sck). Trong đó: đình sản 109/100 cas, đạt 109% KH;

dụng cụ tử cung: 7.385/7.300 (đạt 101,2% KH); thuốc tránh thai: 548/1.380

(39,71%); Tiêm: 3.934/4.080 (96,4%); Uống 35.458/34.640 (102,4%); Bao

cao su: 24.364/23.700 (102,8%) KH [10].

Năm 2015, Kêt quả thực hiện các biện pháp tránh thai đên tháng

12/2015:Số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh

thai hiện đại là 117.294 (đình sản 5.312, vòng tránh thai 46.303, bao cao su

21.919, thuốc uống 36.655, cấy tránh thai 2.810, tiêm tránh thai 4.295) chiêm

tỷ lệ 81,8%; Số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng biện pháp tránh

thai khác là 3.319, chiêm tỷ lệ 2,3%. Như vậy tổng các biện pháp tránh thai

chung là 84%. Riêng kêt quả thực hiện các biện pháp tránh thai mới theo chỉ

tiêu năm:Toàn tỉnh có 73.304/72.649 người áp dụng các BPTT lâm sàng và

phi lâm sàng, đạt 100,9% KH năm, trong đó:

- Đình sản



: 97/87 (111,5% KH)



- DCTC



: 9.064 /8.819 (102,7% KH)



13



- Thuốc cấy



: 1.274/1.430 (89% KH)



- Thuốc tiêm



: 4.295/4.119 (104,3% KH)



- Thuốc uống



: 36.655/36.398 (100,7% KH)



- BCS



: 21.919/21.796 (100,6% KH) [11].



Năm 2016, Toàn tỉnh có 79.024/72.649 người áp dụng các BPTT lâm

sàng và phi lâm sàng, đạt 108,8% KH năm, tăng 7,9% so với cùng kỳ [12].

1.4 Đề án xã hội hoá cung cấp phương tiện tránh thai

Ngày 12 tháng 03 năm 2015, Bộ Y tê đã phê duyệt đề án “Xã hội hoá

cung cấp phương tiện tránh thai và dịch vụ kê hoạch hoá gia đình/SKSS tại

khu vực thành thị và nông thôn phát triển giai đoạn 2015-2020” [3].

1.4.1 Mục tiêu

1.4.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về phương tiện tránh thai,

hàng hóa và dịch vụ kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản có chất lượng

cho người dân nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội, sự bền vững của chương

trình dân số - kê hoạch hóa gia đình; huy động và nâng cao hiệu quả của các

nguồn lực đầu tư từ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

cho chương trình dân số - kê hoạch hóa gia đình phù hợp với xu hướng phát

triển của nền kinh tê thị trường định hướng xã hợi chủ nghĩa.

1.4.1.2 Mục tiêu cụ thê

- Có ít nhất 01 chủng loại phương tiện tránh thai mới được đưa vào Việt

Nam.

- Có ít nhất 01 chủng loại phương tiện tránh thai hoặc hàng hóa kê

hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản mới được sản xuất tại Việt Nam.

- 100% cấp tỉnh tại địa bàn Đề án có Trung tâm Tư vấn và cung ứng

dịch vụ cấp tỉnh thực hiện xã hội hóa cung cấp phương tiện tránh thai, hàng

hóa và dịch vụ kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản.



14



- 100% cấp huyện tại địa bàn Đề án có cơ sở y tê thực hiện xã hội hóa

cung cấp dịch vụ kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản.

- 100% cấp xã tại địa bàn Đề án có cơ sở thực hiện xã hội hóa cung cấp

phương tiện tránh thai, hàng hóa kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản.

1.4.2 Đối tượng

- Đối tượng tác động: doanh nghiệp/tổ chức/tư nhân sản xuất, phân

phối cung ứng phương tiện tránh thai, hàng hóa kê hoạch hóa gia đình/sức

khỏe sinh sản; cơ sở y tê trong và ngoài công lập cung cấp dịch vụ kê hoạch

hóa gia đình/sức khỏe sinh sản.

- Đối tượng thụ hưởng: người làm việc, người sinh sống tại địa bàn của

đề án, ưu tiên các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, thanh niên, vị thành

niên.

1.4.3 Các nhiệm vụ và hoạt động chủ yêu

- Đa dạng hóa phương tiện tránh thai và hàng hóa kê hoạch hóa gia

đình/sức khỏe sinh sản theo phân khúc thị trường, chú trọng vào các phương

tiện tránh thai hiện đại có tác dụng lâu dài và hiệu quả.

+ Củng cố và phát triển mạng lưới cung ứng phương tiện tránh thai và

hàng hóa kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản trên cơ sở huy động sự

tham gia của các doanh nghiệp/tổ chức/tư nhân thuộc các thành phần kinh tê

theo phân khúc thị trường.

+ Nâng cao chất lượng và số lượng chủng loại phương tiện tránh thai

và hàng hóa kê hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản theo phân khúc thị

trường; Thử nghiệm, đưa ra thị trường chủng loại phương tiện tránh thai mới.

+ Tăng cường quản lý chất lượng phương tiện tránh thai và hàng hóa kê

hoạch hóa gia đình/sức khỏe sinh sản; thử nghiệm mô hình đăng ký hợp quy,

hợp chuẩn về phương tiện tránh thai và hàng hóa kê hoạch hóa gia đình/sức

khỏe sinh sản.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×