Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Phân tích nguyên nhân những hạn chế

* Phân tích nguyên nhân những hạn chế

Tải bản đầy đủ - 0trang

67



nhiều làng nghề truyền thống phong phú, đa dạng nhƣng việc qui hoạch tổng

thể và chi tiết để phát triển từng ngành nghề cụ thể, nhất là các làng nghề

truyền thống vẫn còn nhiều hạn chế; cơng tác quảng bá xúc tiến phát triển du

lịch di sản văn hóa kết hợp với du lịch làng nghề, du lịch sinh thái vẫn chƣa

có sự phối hợp nhịp nhàng, tạo điều kiện cho các hộ sản xuất trong lĩnh vực

này cùng nhau phát triển. Quá trình chỉ đạo, xây dựng, qui hoạch các vùng

chun canh, các khu cơng nghiệp còn chậm, làm cho cơng tác sản xuất hàng

hố còn chƣa đƣợc phổ biến, sản xuất còn mang nặng tính tự cấp, tự túc. Do

vậy nên quy mô sản xuất của các hộ đa số là nhỏ, các hộ sản xuất với quy mơ

lớn rất ít. Điều này làm cho quy mơ vay vốn của đa số hộ sản xuất là nhỏ, ảnh

hƣởng đến khả năng mở rộng tín dụng với đối tƣợng khách hàng này.

- Về phía các Hộ nơng nghiệp nơng thơn

+ Các hộ còn gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh

Đất đai, nhà xƣởng chật hẹp là yếu tố chính gây cản trở việc mở rộng

sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ. Diện tích đất canh tác bình quân một

ngƣời chỉ đạt khoảng hơn 1 sào Bắc bộ/ngƣời, nhiều xã trong vùng còn

khơng đạt đƣợc tỷ lệ này. Thực tế cho thấy hầu hết các hộ làm kinh tế trang

trại đều do úp thầu hoặc cải tạo các vùng đất bạc màu, khó canh tác, cải tạo

đất trống đồi trọc để hình thành nên.

+ Các hộ còn phát triển sản xuất mang tính tự phát

+ Trình độ tổ chức quản lý kinh doanh của các hộ còn nhiều hạn chế

Đa số các hộ sản xuất khơng có kiến thức kinh doanh một cách bài bản mà

chỉ dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu. Khả năng lập dự án đầu tƣ của các chủ hộ

thƣờng rất kém, nhiều ngƣời còn khơng nắm vững đƣợc những qui định của Ngân

hàng về các thủ tục và điều kiện vay vốn.

- Về phía NHNo&PTNT huyện Ứng Hòa

Qui trình và thủ tục tín dụng ở nhiều khâu còn chƣa phù hợp, CBTD



68



thực hiện toàn bộ các khâu trong cho vay. Do vậy quyền quyết định của

CBTD đối với khách hàng là khá lớn dẫn đến dễ bị lợi dụng và gây rủi ro.

Quy trình này dễ kéo dài thời gian giải quyết cho vay. Thủ tục tín dụng còn

nhiều chỗ chồng chéo, liên quan đến nhiều loại giấy tờ, nhiều chữ kí dẫn

đến thời gian từ khi đề nghị vay vốn cho đến khi giải ngân bị kéo dài, làm

lỡ thời cơ kinh doanh, sản xuất, gây nản lòng khách hàng.

Trình độ của đội ngũ cán bộ, nhất là CBTD còn nhiều hạn chế trong

thực hiện nghiệp vụ ngân hàng cũng nhƣ hiểu biết các kiến thức pháp luật,

kiến thức về các ngành nghề sản xuất kinh doanh, trình độ phân tích. Kỹ

năng thẩm định hiệu quả kinh tế phƣơng án kinh doanh, dự án đầu tƣ,

đánh giá tình hình tài chính của khách hàng còn yếu, việc tính tốn các hệ

số tài chính còn chiếu lệ, sơ sài, xác định vòng quay vốn lƣu động thiếu

thực tế. Việc sử dụng cán bộ tại chi nhánh chƣa có tính chọn lọc, do số

lƣợng cán bộ ít, chất lƣợng của cán bộ chƣa cao do không đƣợc đào tạo

chuyên sâu về tín dụng dẫn đến tình trạng lực lƣợng CBTD còn thiếu cả về

số lƣợng và chất lƣợng, quá tải và áp lực cơng việc rất lớn, nên gây khó khăn

trong việc tập trung quản lý kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ khách hàng. Trong

lúc đó, tình hình kinh tế có nhiều biến động tác động xấu đến kết quả hoạt

động kinh doanh của khách hàng vay dẫn đến phát sinh nợ xấu tại Chi nhánh.

Công tác Marketing ngân hàng chƣa đƣợc chú trọng đúng mức. Các

thông tin về thị trƣờng, sản phẩm và khách hàng còn thiếu và chƣa thƣờng

xun. Ngân hàng chƣa có các biện pháp tích cực để chăm sóc khách hàng

một cách thƣờng xun, đơi khi còn quá tin tƣởng chủ quan vào hệ thống

NHTM Nhà nƣớc luôn đƣợc sự tin tƣởng tuyệt đối từ khách hàng truyền

thống mà quên rằng nếu họ luôn đƣợc các NHTMCP chào mời với các ƣu

đãi (về tiện ích, cơng nghệ, thái độ phục vụ, phí, lãi suất...) thì Ngân hàng

có thể mất khách hàng. Chính vì vậy Ngân hàng cần có những chính sách



69



khuyến khích khách hàng thƣờng xun.

Mặt khác, các NHTM cổ phần đang tăng cƣờng mở rộng mạng lƣới

phát triển về khu vực nông thôn nên sự cạnh tranh giữa các NHTM trong việc

đầu tƣ vốn, cung cấp sản phẩm dịch vụ tiện ích cho khách hàng hoạt động

trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn ngày một gay gắt.

3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cho vay sản xuất nông nghiệp

tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh

huyện Ứng Hòa.

3.3.1. Nâng cao chất lượng cơng tác thẩm định

Việc phân tích đánh giá khách hàng vay vốn một cách đúng đắn là một

trong những yếu tố then chốt góp phần nâng cao chất lƣợng hoạt động cho

vay của một Ngân hàng. Qua việc phân tích, đánh giá giúp cho Ngân hàng

thấy đƣợc tƣ cách của ngƣời vay vốn, khả năng tài chính hiện tại, khả năng trả

nợ của khách hàng, từ đó tạo lập đƣợc cơ sở để cho Ngân hàng làm căn cứ

đƣa ra quyết định cho vay đúng đắn.

Việc xem xét kỹ lƣỡng năng lực của các khách hàng vay vốn là rất quan

trọng. Nó giúp cho Ngân hàng thấy đƣợc khả năng quản lý, tổ chức sản xuất

và điều hành của các nhà quản trị, các Giám đốc của các doanh nghiệp. Ngồi

ra nó còn cho thấy khả năng về vốn, công nghệ, khả năng cạnh tranh, mở rộng

sản xuất, khả năng mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm…của các doanh

nghiệp để từ đó đƣa ra quyết định cho vay một cách chính xác.

Đánh giá chính xác kết quả kinh doanh của khách hàng là một yêu cầu hết

sức cấp bách. Tình trạng khách hàng vay vốn lập báo cáo sai sự thật, báo cáo lãi

trong khi hoạt động kinh doanh thua lỗ nhằm mục đích vay vốn Ngân hàng dễ

làm cho Ngân hàng có những nhận định sai về kết quả kinh doanh của khách

hàng vay vốn, từ đó làm cho quyết định của Ngân hàng trong việc xét duyệt cho

vay khơng chính xác.



Comment [MCL8]: Giải pháp cung nên chia ra

làm 2 mảng: giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay của

ngân hàng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng

vốn vay của ngƣời đi vay(cá nhân, tổ chức)



70



3.3.2. Hạn chế rủi ro trong cho vay

Để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cho vay sản xuất nông nghiệp

các Ngân hàng thƣơng mại cần phải có các biện pháp hạn chế rủi ro trong cho

vay, nhằm giảm tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu, nợ khó đòi… Để giải quyết vấn đề này

Ngân hàng cần phải có các giải pháp cụ thể nhƣ sau:

- Yêu cầu từng cán bộ tín dụng kiểm tra đánh giá rà sốt lại từng khách

hàng đang có dƣ nợ và đảm bảo tốt về dự án, tài chính, tài sản thế chấp để có

giải pháp với từng nhóm khách hàng, từng khách hàng.

- Đối với khách hàng kinh doanh các mặt hàng nhạy cảm hoặc các mặt

hàng kinh doanh với các đối tác nƣớc ngồi khơng bền vững phải đánh giá lại

tình hình tài chính, tài sản đảm bảo để ngừng cấp tín dụng hoặc giảm thấp dƣ

nợ để hạn chế rủi ro.

- Đối với những khách hàng kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ, có khả

năng mất vốn hoặc sử dụng sai mục đích phải có ngay biện pháp thu hồi nợ và

ngừng cấp tín dụng.

- Đối với khách hàng có giá trị tài sản đảm bảo suy giảm, đánh giá lại

tài sản đảm bảo không an toàn; động viên thuyết phục khách hàng giảm dƣ nợ

và ký lại phụ lục hợp đồng tín dụng giảm hạn mức tín dụng.

- Đối với những khách hàng sắp có quan hệ tín dụng với Ngân hàng:

Yêu cần cán bộ tín dụng và bộ phận thẩm định thẩm định kỹ các điều kiện

cho vay: tƣ cách khách hàng, năng lực tài chính, hiệu quả dự án; đánh giá

định giá tài sản thế chấp phù hợp, chính xác có tính đến khả năng giảm giá

của tài sản để xác định đánh giá những rủi ro có thể xảy ra, xác định mức cho

vay phù hợp sao cho vừa đáp ứng đƣợc nguyện vọng của khách hàng nhƣng

vừa đảm bảo an toàn cho vốn vay.

- Hạn chế cho vay các ngành nghề kinh doanh các khách hàng có mức

độ rủi ro cao: kinh doanh bất động sản, vận tải biển, …



71



- Phân tán rủi ro trong q trình đầu tƣ tín dụng bằng cách:

+ Cho vay đa dạng các ngành hàng không tập trung cho vay nhiều

khách hàng lớn vào một ngành hàng.

+ Tăng lƣợng khách hàng vay, tăng dƣ nợ với những khách hàng có

quy mơ nhỏ để giảm thấp độ rủi ro.

3.3.3. Tăng cường công tác Marketing, kênh tiếp cận với khách hàng vay vốn

Đẩy mạnh công tác Marketing là một biện pháp hữu hiệu trong việc mở

rộng cho vay. NHNo&PTNT chi nhánh huyện Ứng Hoà cần làm ngay một

số công tác sau:

Thứ nhất, xây dựng chiến lƣợc Marketing phù hợp phục vụ cho chiến

lƣợc tín dụng theo hƣớng mở rộng tín dụng cho vay nơng nghiệp nơng thơn

Thứ hai, Chun mơn hóa cán bộ tín dụng (tiếp thị). Cán bộ tín dụng có

vai trò nhƣ cán bộ tiếp thị, marketing cho Ngân hàng. Họ tiếp xúc, thu nhận,

thu nhập, thẩm định thông tin về khách hàng, về phƣơng án vay vốn sau đó

chuyển cho bộ phận thẩm định. Trên cơ sở các thơng tin từ cán bộ tín dụng

cung cấp, cán bộ thẩm định phân tích, đánh giá đối chiếu với các tiêu chuẩn

tín dụng,với hệ thống chỉ tiêu định lƣợng. Bên cạnh đó cán bộ tín dụng cần

biết thêm thơng tin thì họ phải tự tìm, đối chiếu qua hệ thống lƣu trữ thông tin

của Ngân hàng, hoặc trang tâm quản lý rủi ro...

Thứ ba, Tăng cƣờng tiếp xúc với khách hàng thông qua việc:

+ Tổ chức hội thảo, hội nghị...

+ Tăng cƣờng tuyên truyền, quảng cáo trên các phƣơng tiện thông

tin đại chúng...

3.3.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Một trong những vấn đề quyết định sự an tồn tín dụng phụ thuộc khá

nhiều vào chất lƣợng nghiệp vụ chuyên môn của CBTD. Từ việc chấp hành

cơ chế chính sách đến việc thẩm định dự án, xét duyệt hồ sơ cho vay, quyết



72



định đầu tƣ, kiểm tra kiểm sốt vốn vay, thu nợ... nói chung mọi đúng, sai,

thành cơng hay thất bại đều có nhân tố chủ quan của con ngƣời với tƣ cách là

chủ thể trong quan hệ tín dụng.

Cán bộ nhân viên có trình độ chun mơn cao sẽ hiểu đƣợc bản chất

của các hình thức cho vay, phƣơng thức cho vay, lãi suất và các nhân tố ảnh

hƣởng đến việc ra quyết định tín dụng. Các kiến thức về kế tốn, tài chính sẽ

giúp cho CBTD tiến hành dễ dàng và nhanh chóng cơng tác thẩm định, một

trong những khâu quan trọng nhất trong qui trình tín dụng, qua đó có thể nâng

cao hiệu quả trong công tác thẩm định và cho vay, đồng thời có thể phát hiện

ra các dự án thiếu tính khả thi để từ chối cho vay, qua đó hạn chế rủi ro tín

dụng. Muốn nâng cao chất lƣợng tín dụng, hạn chế rủi ro phải có đội ngũ

CBTD giỏi. Giỏi ở đây là những cán bộ đƣợc đào tạo có hệ thống, am hiểu và

có kiến thức phong phú về kinh tế thị trƣờng, nắm vững những văn bản pháp

luật có liên quan đến hoạt động tín dụng Ngân hàng. Đồng thời ngƣời CBTD

phải có đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu CBTD thiếu trách nhiệm, tƣ lợi,

sẽ thực hiện đầu tƣ các dự án khơng có hiệu quả, thiếu tính khả thi gây tổn

thất cho Ngân hàng và xã hội.

Bên cạnh những kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, các kiến thức

tổng hợp về nhiều lĩnh vực nhƣ những hiểu biết về thị trƣờng, công nghệ,

nguyên liệu, lao động, đất đai hay thậm chí cả những kiến thức về môi trƣờng

... cũng là những kiến thức cần thiết đối với các CBTD khi tiến hành cho vay

đối với khách hàng nói chung, các hộ sản xuất nói riêng.

Ngồi ra thái độ tác phong, trình độ và cung cách phục vụ của các

CBTD là hình ảnh sinh động nhất của Ngân hàng, là bộ mặt của Ngân hàng

và có ảnh hƣởng lớn đến niềm tin và các quyết định của khách hàng.

Chính vì vậy, nâng cao trình độ CBTD thông qua đào tạo và đào tạo lại

là việc hết sức cần thiết. NHNo&PTNT Ứng Hòa ln coi trọng công tác đào



73



tạo, bồi dƣỡng cán bộ, coi đây là khâu then chốt trong việc nâng cao hiệu quả

sản xuất kinh doanh và mở rộng thị phần.

Để thực hiện một cách có hiệu quả giải pháp về nhân sự Ngân hàng cần

chú trọng vào một số cơng việc chính sau đây:

Thứ nhất, công tác đánh giá cán bộ và bố trí cán bộ cần thực hiện một

cách phù hợp và hợp lý

Đây là công việc cực kỳ quan trọng bởi lẽ nếu đánh giá chính xác sẽ tạo

điều kiện tốt cho việc đào tạo và đào tạo lại cũng nhƣ việc bố trí cơng tác thích

hợp cho cán bộ công nhân viên một cách hợp lý, giúp họ phát huy hết khả năng và

thế mạnh của mình. Nhờ đó công việc của cán bộ công nhân viên sẽ đạt hiệu quả

hơn. Ngƣợc lại, nếu đánh giá sai sẽ dẫn đến hàng loạt các rủi ro cho Ngân hàng:

Bố trí vị trí cơng tác khơng tƣơng xứng với năng lực làm việc sẽ gây ra tâm lý

chán nản, tiêu cực, bầu khơng khí làm việc căng thẳng do bị áp lực của công việc,

giảm hiệu quả của công việc và lãng phí nguồn lực. Bố trí vị trí cơng tác quá sức

so với trình độ thực tế của cán bộ sẽ dẫn đến những hậu quả khơn lƣờng. Do đó

việc đánh giá cán bộ và bố trí cán bộ phải dựa vào những căn cứ sau:

+ Phải nắm vững và dựa vào tiêu chuẩn cán bộ của Ngân hàng nói

chung và CBTD nói riêng để đánh giá.

+ Phải lấy hiệu quả cơng tác và sự đóng góp thực tế của cán bộ làm

thƣớc đo phẩm chất và năng lực, không nên đồng nhất bằng cấp, học vị.

Thứ hai, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

Để nâng cao chất lƣợng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói

chung và hoạt động tín dụng nói riêng thì vấn đề đào tạo và đào tạo lại chuyên

môn cho đội ngũ cán bộ cần đƣợc quan tâm và chú trọng nhiều hơn nữa. Hàng

năm Ngân hàng nên tổ chức những đợt tập huấn nhằm nâng cao trình độ

chun mơn cho cán bộ nhân viên. Nên thuê thêm những chuyên gia giỏi

trong lĩnh vực Ngân hàng để tƣ vấn cho đội ngũ cán bộ nhân viên. Tổ chức



74



các cuộc thi tay nghề (nghiệp vụ), tài trợ du học cho các cán bộ có năng

lực...Việc tổ chức đào tạo chun mơn gồm một số giai đoạn sau:

+ Thực hiện đánh giá thực trạng nguồn nhân lực của Ngân hàng và mức

độ đáp ứng nhu cầu hiện tại, dự tính đến nhu cầu nhân lực và trình độ cần

phải có trong tƣơng lai theo chiến lƣợc phát triển chung của Ngân hàng.

Nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn này là phát hiện ra những hụt hẫng về kiến

thức của mỗi cán bộ khi thực hiện các chức trách cụ thể và tác động của

những thiếu sót đó đến kết quả cơng việc.

+ Tổng hợp các nhu cầu cụ thể về đào tạo cán bộ, ƣu tiên lựa chọn ứng

cử viên đi đào tạo là các cán bộ có những triển vọng nhất.

+ Lập kế hoạch và ngân sách đào tạo đến từng bộ phận.

+ Giám sát quá trình đào tạo cán bộ và kết quả đào tạo.

+ Tổng kết công tác đào tạo sau một năm, xây dựng các phƣơng pháp

động viên các cán bộ công nhân viên với việc sử dụng một số khuyến khích

về tinh thần và vật chất.

Ngồi ra, q trình đào tạo chun mơn cho cán bộ Ngân hàng nói

chung và CBTD nói riêng cần đi vào bề sâu. Nhân viên tín dụng khơng chỉ

phải biết rõ về các nghiệp vụ tín dụng mà còn phải am hiểu các vấn đề xã hội

cũng nhƣ vấn đề của các ngành kinh tế then chốt, về giá cả, thị trƣờng...Có

nhƣ vậy mới đảm bảo giảm tối thiểu đƣợc rủi ro khi tiến hành cho vay đối với

khách hàng và mở rộng đƣợc thị phần.

3.3.5. Một số giải pháp khác ngân hàng cần thực hiện

- Đơn giản thủ tục cho vay.

Thủ tục cho vay của Ngân hàng hiện nay mà ngƣời vay vốn cảm thấv

khó khăn và phiến hà nhất đó là tài sản thế chấp và lập dự án vay vốn.

Để có thể tạo điều kiện cho khách hàng vay vốn tiếp cận đƣợc với

nguồn vốn tín dụng ngân hàng cần có chính sách cho vay linh hoạt hơn, có thể



75



phối kết hợp với các cở sở khoa học, các câu lạc bộ, các hiệp hội hoặc các

doanh nghiệp lớn hƣớng dẫn truyền dạy nghề và tiêu thụ sản phẩm cho các

khách hàng vay vốn có qui mơ nhỏ lẻ tự phát. Có thể cho vay tín chấp hoặc

dùng tài sản thế chấp hình thành từ chính các khoản vay.

Thực tế cho thấy một số khách hàng vay vốn đặc biệt là các hộ kinh doanh

sau khi vay đƣợc vốn đã mạnh dạn mở rộng kinh doanh, dám nghĩ, dám làm,

đƣa lại hiệu quả kinh tế cho ngƣời vay vốn cho xã hội và cho cộng đồng.

- Giải pháp về thời hạn cho vay:

Một thực tế trong quan hệ vay vốn là ngƣời vay mong muốn đƣợc vay

với lãi suất thấp nhất nhƣng thời hạn lại phải dài nhất. Đây là mong ƣớc chính

đáng của ngƣời vay. Song khả năng đáp ứng của Ngân hàng thì lại có hạn vì

phụ thuộc vào nguồn vốn huy động. Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp,

hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ đặc biệt do đó vẫn phải đảm bảo

hiệu quả trong kinh doanh.

Cần phải đa dạng hóa các loại hình cấp tín dụng cho DN vay vơn sản

xuất nơng lâm ngƣ nghiệp. Một doanh nghiệp có thể cho vay cả ngắn hạn, dài

hạn, cho thuê tài chính hay bảo lãnh tín dụng, các thủ tục vay vốn phải đơn

giản khơng rƣờm rà nhƣng vẫn phải đầy đủ các yếu tố pháp lý.

Để đảm bảo khả năng an toàn trong hoạt động đồng thời đáp ứng nhu

cầu của ngƣòi vay vốn. Ngân hàng cần phải tính tốn độ lệch tài chính, tức là

độ lệch giữa tài sản nợ và tài sản có nhằm đảm bảo cho thu nhập ròng của

Ngân hàng là tối ƣu. Muốn vậy Ngân hàng cần căn cứ vào tình hình tài sản nợ

để thỏa thuận thời hạn hồn trả món vay đối với ngƣời vay vốn nhƣng các

món vay đó phải đủ lớn để định kỳ hạn nợ cho phù hợp.

- Giải pháp về lãi suất cho vay.

Hoạt động tín dụng thực chất là đi vay để cho vay, vì vậy Ngân hàng

ln tìm cách để vay đƣợc, đồng thời cũng phải cho vay đƣợc. Muốn vậy một



76



điều kiện cơ bản là lãi suất đi vay và cho vay phải phù hợp, cả ngƣời gửi và

ngƣời vay đều chấp nhận. Chênh lệch lãi suất đầu ra và đầu vào đủ bù đắp chi

phí ngân hàng, trích lập rủi ro và mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Trong

nền kinh tế thị trƣờng lãi suất do thị trƣờng mà cụ thể trƣớc hết là ngƣời vay

quyết định. Lãi suất nếu hiểu đơn giản đó là giá của tín dụng ngân hàng, bao

gồm giá mua và giá bán.

Hiện nay Ngân hàng áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận theo cơ chế tự

do hóa lãi suất. Do đó một số ngƣời lo ngại sẽ có các hiện tƣợng:

+ Vốn của Ngân hàng sẽ tập trung ở các khách hàng thuận lợi, những

khách hàng vay vốn làm ăn có lãi còn những khách hàng gặp khó khăn hoặc

những doanh nghiệp mới ra đời sẽ bị Ngân hàng từ chối cho vay.

+ Các Ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh, chạy theo lãi suất cao

dẫn đến buông lỏng các điều kiện đối với khách hàng chấp nhận lãi suất cao.

Hoặc các Ngân hàng đua nhau nâng lãi suất huy động và cho vay. Vốn đầu tƣ

sẽ dẫn về khu vực có lợi nhuận giả tạo, trong khi các khu vực sản xuất kinh

doanh lành mạnh khơng hấp thụ đƣợc vốn vì: lãi suất cho vay cao hơn lợi

nhuận thu đƣợc. Vấn đề này sẽ khó xảy ra vì ngành Ngân hàng đã có những

bài học thực tế của những năm 1989 - 1990; 1997 – 1998; 2009 - 2010...kinh

tế bong bóng, kinh doanh lừa đảo chấp nhận lãi suất cao dẫn đến phá sản

khơng trả đƣợc nợ vay ngân hàng có thể làm đổ vỡ từng tổ chức thậm chí cả

hệ thống tín dụng.

Lãi suất là vấn đề mà khơng những ngân hàng quan tâm mà khách hàng

cũng rất quan tâm.

Lãi suất thỏa thuận không phải là lãi suất cao tùy theo ý muốn của

Ngân hàng. Đó chính là lãi suất phù hợp với nhu cầu của ngƣời vay, do ngƣời

vay quyết định, đảm bảo có vốn cho sản xuất kinh doanh thu đƣợc lợi nhuận.

Do vậy lãi suất phụ thuộc vào hiệu quả của dự án đầu tƣ. Nếu với lãi suất



77



Ngân hàng đƣa ra khách hàng có thể chấp nhận đƣợc.

Ngoài các biện pháp tạo nguồn vốn huy động thấp, Ngân hàng cần xây

dựng một cơ chế tài chính hợp lý, tiết kiệm chi phí, đảm bảo mức chênh lệch

thu - chi hợp lý tạo lãi suất cho vay phù hợp với sự phát triển của khách hàng

vay vốn sản xuất nơng nghiệp trên địa bàn.

Xây dựng tiêu chí chuẩn mực để xếp loại khách hàng vay vốn, trên cơ

sở đó có chính sách cho vay phù hợp với từng khách hàng.

3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả vốn vay đối với ngƣời vay vốn

3.4.1 Nông nghiệp

Về trồng trọt: Tìm giải pháp phát triển bền vững cho các sản phẩm

nơng nghiệp tránh tình trạng các trang trại sản xuất ồ ạt theo phong trào

không nghĩ đến việc bảo quản, tiêu thụ sản phẩm ở cuối quá trình sản xuất,

đầu tƣ cho sản xuất cây lâu năm, xây dựng kế hoạch ngắn hạn cho vụ đông

năm 2017 – 2018. Tập trung đầu tƣ xây dựng các vùng sản xuất lúa chất

lƣợng cao năm 2017; tiếp tục hƣớng dẫn các xã thực hiện hỗ trợ theo Quyết

định số 513/QĐ-UBND ngày 02/8/2016 của UBND huyện quy định cơ chế hỗ

trợ khuyến khích phát triển nơng nghiệp trên địa bàn huyện Ứng Hòa, giai

đoạn 2016 - 2020;

Về chăn nuôi: Chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia

cầm, thủy sản; vệ sinh tiêu độc, khử trùng, công tác kiểm dịch, quản lý giết

mổ; tiếp tục triển khai dự án lai tạo bò 3B trên nền bò cái lai sinh thành đàn

bò lai F1 hƣớng thịt.

Công tác quản lý HTX: Tiếp tục chỉ đạo các HTX NN tổ chức lại theo

Luật HTX năm 2012 đối với các HTX NN chƣa tổ chức lại; chỉ đạo các HTX

đại hội thƣờng niên, tổng kết công tác hoạt động sau chuyển đổi theo Luật

HTX năm 2012.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Phân tích nguyên nhân những hạn chế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×