Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CHO VAY SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CHO VAY SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



- Tín dụng ngân hàng có thể đầu tƣ vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong

đời sống kinh tế xã hội.

Chính vì những lợi thế chủa mình mà tín dụng ngân hàng trở thành hình

thức tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trƣờng.

* Các hình thức tín dụng ngân hàng

- Căn cứ theo thời gian

+ Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống

+ Tín dụng trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm

+ Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm

- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng:

+ Cho vay bất động sản:

+ Cho vay công nghiệp và thƣơng mại:

+ Cho vay nông nghiệp:

+ Cho vay cá nhân:

+ Thuê mua và các loại tín dụng khác:

- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm (Biện pháp bảo đảm tiền vay)

+ Tín dụng khơng tài sản bảo đảm:

+ Tín dụng có tài sản bảo đảm:

- Căn cứ vào phƣơng thức cho vay

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng

+ Cho vay từng lần

+ Cho vay từng dự án đầu tƣ

+ Cho vay hợp vốn

+ Cho vay trả góp

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng

+ Cho vay thơng qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi

- Căn cứ vào tính chất và đặc điểm sử dụng vốn



7



+ Tín dụng vốn lƣu động

+ Tín dụng vốn cố định

- Căn cứ theo phƣơng thức trả nợ

+ Trả nợ một lần

+ Trả nợ làm nhiều lần

- Căn cứ theo thành phần kinh tế

+ Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh.

+ Tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

- Căn cứ theo hình thức cấp tín dụng

+ Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn

+ Chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá trị khác

+ Bão lãnh

+ Cho thuê tài chính (Cho thuê thiết bị trung, dài hạn),

1.1.1.2. Tín dụng cho vay sản xuất nông nghiệp

* Khái niệm cho vay kinh tế nơng nghiệp.

Tín dụng phát triển nơng nghiệp là quan hệ tín dụng ngân hàng giữa

một bên là ngân hàng với một bên là thành phần cá nhân hay pháp nhân phát

triển kinh tế nông nghiệp nông thôn. Trong đó, ngân hàng là ngƣời chuyển

nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị (ngƣời cung ứng vốn - ngƣời cho vay), còn

các cá nhân và pháp nhân là ngƣời nhận lƣợng giá trị đó (nhận cung ứng vốn ngƣời đi vay). Sau một thời gian nhất định các cá nhân và pháp nhân này trả

lại số vốn đã nhận từ ngân hàng, số vốn hoàn trả lại lớn hơn số vốn ban đầu

(phần lớn hơn gọi là lãi). Phát triển kinh tế nơng nghiệp nơng thơn đƣợc Nhà

nƣớc, Chính phủ ƣu tiên các quy định điều kiện vay vốn, cơ chế đảm bảo tiền

vay, nguồn vốn cho vay, thời hạn cho vay, lãi xuất cho vay đối với các lĩnh

vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

* Các hình thức hoạt động của kinh tế nơng nghiệp nơng thôn



8



Do các cá nhân và pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh tế nông

nghiệp nông thôn nền kinh tế có những đặc trƣng phát triển do bản thân nền

sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp quyết định. Các cá nhân và pháp nhân sản

xuất hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế hàng hoá phụ thuộc rất

nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật, quyền làm chủ tƣ

liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tƣ mỗi ngƣời mỗi đơn vị. Việc phân loại các

cá nhân và pháp nhân có căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện để xây dựng các

chính sách kinh tế - xã hội phù hợp nhằm đầu tƣ phát triển có hiệu quả kinh tế

phát triển nơng nghiệp.

- Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có:

+ Các cá nhân và pháp nhân hồn tồn tự cấp khơng có phản ứng với

thị trƣờng. Loại này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các

sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình.

+ Các cá nhân và pháp nhân sản xuất hàng hóa chủ yếu: Loại này có mục

tiêu là tối đa hóa lợi nhuận đƣợc biểu hiện rõ rệt là họ phản ứng gay gắt với thị

trƣờng vốn, lao động. Họ chủ yếu là cung ứng, bao tiêu sản phẩm nơng nghiệp.

- Theo tính chất của ngành sản xuất gồm có:

+ Các cá nhân và pháp nhân thuần nơng là loại chỉ thuần túy sản xuất

nông nghiệp.

+ Các cá nhân và pháp nhân chuyên nông là loại chuyên làm các ngành

nghề tại nơng thơn nhƣ cơ khí, mộc, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng,

vận tải, thủ công mỹ nghệ, dệt, may, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp.

+ Các cá nhân và pháp nhân kiêm nông là loại vừa làm nông nghiệp

vừa làm nghề tiểu thủ cơng nghiệp, nhƣng thu nhập từ nơng nghiệp là chính.

+ Các cá nhân và pháp nhân buôn bán là loại hoạt động ở nơi đơng dân

cƣ, có quầy hàng hoặc buôn bán ở chợ. Các cá nhân và pháp nhân này thƣờng

cung ứng dịch vụ, bao tiêu sản phẩm cho các hộ trên địa bàn nông thôn.



9



* Các phương thức cho vay kinh tế nông nghiệp nông thôn của các Ngân

hàng thương mại

- Theo thời hạn cho vay

+ Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng.

+ Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60

tháng.

+ Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng.

- Theo mối quan hệ giữa các chủ thể

+ Cho vay trực tiếp là hình thức cho vay phổ biến của ngân hàng. Ngân

hàng trực tiếp cho khách hàng vay vốn thông qua hồ sơ mà khách hàng nộp

cho ngân hàng.

+ Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay thơng qua các tổ chức trung

gian. Đó là các tổ, hội, đội nhƣ: hội phụ nữ, hội nông dân, nhóm sản xuất…

- Theo tính chất bảo đảm tiền vay

+ Cho vay có tài sản bảo đảm là loại hình cho vay dựa trên cơ sở có

đảm bảo nhƣ thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.

+ Cho vay khơng có tài sản bảo đảm là hình thức cho vay khơng có tài

sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Loại cho vay này thƣờng

đƣợc cấp cho các khách hàng có uy tín cao, những khách hàng có mối quan

hệ tốt và lâu dài đối với ngân hàng, họ có tình hình tài chính lành mạnh, cũng

có thể là các khoản vay thực hiện theo chỉ thị của Chính phủ, hay Chính phủ

yêu cầu không cần tài sản đảm bảo.

- Theo mục đích cho vay

+ Cho vay cơng nghiệp và thƣơng mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ

sung vốn lƣu động trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ....

+ Cho vay nông nghiệp là cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nhƣ

phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu....



10



+ Cho vay tiêu dùng là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng

nhƣ mua sắm vật dụng, mua nhà cửa, vật kiến trúc, ngày nay ngân hàng còn

thực hiện các khoản cho vay để thanh tốn các chi phí thơng thƣờng của đời

sống nhƣ thanh toán tiền điện, nƣớc, điện thoại...

+ Cho vay phát triển ngành nghề tại nông thôn là loại cho vay phục vụ

phát triền làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống tại nông thôn.

+ Cho vay đầu tƣ cở sở hạ tầng ở nông thôn.

- Theo phương thức cho vay

+ Cho vay từng lần

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng

+ Cho vay theo dự án đầu tƣ

+ Cho vay trả góp

+ Cho vay thơng qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi

1.1.2. Đặc điểm của hoạt động tín dụng cho vay sản xuất nông nghiệp của

các NH thương mại

- Đặc điểm cho vay kinh tế nông nghiệp.

Thứ nhất, cho vay kinh tế nơng nghiệp có tính thời vụ gắn liền với chu

kỳ sinh trƣởng của động, thực vật. Tính chất thời vụ trong cho vay nơng

nghiệp có liên quan đến chu kỳ sinh trƣởng của động, thực vật trong ngành

nông nghiệp nói chung và các ngành nghề cụ thể mà ngân hàng tham gia cho

vay. Thƣờng tính thời vụ đƣợc biểu hiện ở những mặt sau: tính mùa, vụ trong

sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu nợ của ngân hàng.

Nếu ngân hàng tập trung cho vay vào các chuyên ngành hẹp nhƣ cho vay một

số cây, con nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian

nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch hoặc tiêu thụ

tiến hành thu nợ. Nhƣ vậy, chu kỳ sống tự nhiên của cây, con là yếu tố quyết

định để ngân hàng tính tốn thời hạn cho vay.



11



Thứ hai, mơi trƣờng tự nhiên, mơi trƣờng kinh tế có ảnh hƣởng đến thu

nhập và khả năng trả nợ của khách hàng. Trong trƣờng hợp khách hàng bị

thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh hay các sản phẩm nông nghiệp rơi vào tình

trạng “đƣợc mùa rớt giá”, tất cả các nhân tố đó ảnh hƣởng trực tiếp tới khả năng

trả nợ ngân hàng khi khách hàng tham gia quan hệ tín dụng với ngân hàng.

Thứ ba, chi phí tổ chức cho vay cao. Cho vay phát triển nơng nghiệp

nơng thơn chi phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thƣờng cao do quy mơ

từng món vay nhỏ. Số lƣợng khách hàng đơng, phân bổ ở khắp mọi nơi nên

mở rộng cho vay thƣờng liên quan tới việc mở rộng mạng lƣới cho vay và thu

nợ: Mở chi nhánh, phòng giao dịch, tổ lƣu động cho vay tại xã. Do đặc thù

kinh doanh của kinh tế nơng nghiệp nơng thơn có độ rủi ro cao nên chi phí

cho dự phòng rủi ro là tƣơng đối lớn so với các ngành khác.

Thứ tư rủi ro do khơng có tài sải thế chấp(ít gặp vì hình thức cho vay

đối với khách hàng có uy tín cao)

1.1.3. Vai trò của tín dụng cho vay của các NH thương mại đối với phát

triển sản xuất nông nghiệp ở Nước ta.

1.1.3.1. Một là đối với nền kinh tế

Thúc đẩy tốc độ luân chuyển vốn: Trong quá trình sản xuất kinh doanh,

để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời

tồn tại ở cả ba giai đoạn: dự trữ – sản xuất – lƣu thông nên hiện tƣợng thừa

vốn, thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra tại các doanh nghiệp. Hoạt động cho vay

của NHTM đã góp phần điều tiết các nguồn vốn: giúp doanh nghiệp bổ sung

vốn khi thiếu vốn và giúp doanh nghiệp tạo thu nhập khi thừa vốn từ đó tạo

điều kiện cho q trình sản xuất kinh doanh khơng bị gián đoạn, tạo nguồn

thu nhập cho doanh nghiệp.

Góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả: Do cung ứng đủ vốn cho nền

kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất



12



kinh doanh, làm cho sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hóa dịch

vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng gia tăng của xã

hội. Vì vậy, hoạt động cho vay của NHTM góp phần giúp cung hàng hóa đáp

ứng đầu cầu hàng hóa trên thị trƣờng từ đó, góp phần làm ổn định thị trƣờng

giá cả trong nƣớc.

Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã

hội: Cho vay góp phần cho doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh đồng

thời có khả năng mở rộng quy mô sản xuất nên nhờ cho vay của NHTM nhu

cầu về lao động, khai thác tài sản trong nền kinh tế nhiều hơn. Nhƣ vậy, cho

vay của NHTM đã góp phần thúc đẩy tạo ra công ăn việc làm cho nền kinh tế,

góp phần cho ngƣời lao động có thu nhập và cuộc sống ổn định. Một xã hội

phát triển lành mạnh, đời sống đƣợc ổn định, ai cũng có việc làm, đây là tiền

đề để xã hội ổn định và trật tự.

1.1.3.2. Hai là đối với khách hàng:

Thông qua hoạt động cho vay của NHTM, ngƣời đi vay đƣợc đáp ứng

nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh tốn mà khơng mất q nhiều về

thời gian, sức lực và chi phí tìm kiếm, cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và

hợp pháp. Khi đi vay, ngƣời đi vay chịu áp lực trả nợ do đó ngƣời đi vay cố

gắng sử dụng vốn vay hiệu quả, tăng nhanh vòng quay của vốn nhằm đảm bảo

khả năng trả nợ.

1.1.3.3. Ba là đối với ngân hàng:

Cho vay là hoạt động chính trong NHTM và tạo thu nhập chủ yếu cho

NHTM do đó hiệu quả cho vay quyết định lớn tới hiệu quả hoạt động kinh

doanh của ngân hàng. Đồng thời, thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng có

thể mở rộng đối tƣợng khách hàng tăng khả năng cạnh tranh cho ngân hàng và

ngân hàng có thể bán chéo các sản phẩm tăng cƣờng thêm thu nhập cho ngân

hàng. Ngoài ra, cho vay giúp ngân hàng đa dạng đƣợc phƣơng pháp kinh doanh,



13



đồng vốn huy động và góp phần tăng cƣờng hiệu quả của đồng vốn này.

1.1.4. Những vấn đề lý luận về hiệu quả tín dụng và hiệu quả tín dụng cho

vay sản xuất nông nghiệp tại NHNo.

1.1.4.1. Khái niệm về hiệu quả của hoạt đơng tín dụng:

Có một số tác giả cho rằng hiệu quả kinh tế đƣợc xác định bởi quan hệ

giữa tỷ lệ tăng lên của hai đại lƣợng kết quả và chi phí. Các quan điểm này

mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ khơng phải của tồn bộ

phần tham gia vào quy trình kinh tế.

Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế đƣợc xác định bởi tỷ số

giữa kết quả nhận đƣợc và chi phí bỏ ra để có đƣợc kết quả đó. Điển hình cho

quan điểm này là tác giả Manfred Kuhu, theo ơng: "Tính hiệu quả đƣợc xác

định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh

doanh". Đây là quan điểm đƣợc nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp

dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế.

Một khái niệm đƣợc nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nƣớc quan tâm

chú ý và sử dụng phổ biến đó là: Hiệu quả kinh tế của một số hiện tƣợng

(hoặc một quá trình) kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt

đƣợc mục tiêu xác định. Đây là khái niệm tƣơng đối đầy đủ phản ánh đƣợc

tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì ta có thể đƣa ra khái niệm về

hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá nhân (từng

hộ gia đình), các pháp nhân(doanh nghiệp) nhƣ sau: hiệu quả kinh doanh là

một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy

móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt đƣợc mục tiêu mà các cá

nhân, pháp nhân vay vốn đã đề ra.

Nhƣ vậy, hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng đối với các cá nhân,

pháp nhân vay vốn là kết quả hoạt động tín dụng đối với các cá nhân, pháp



14



nhân vay vốn mang lại trên cơ sở nguồn lực Ngân hàng bỏ ra.

Xét trên quan điểm của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng đối với các

cá nhân, pháp nhân vay vốn đƣợc xem là có hiệu quả khi nó đảm bảo đƣợc

hai yếu tố:

- Khả năng sinh lợi cho Ngân hàng

- Khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn

Điều này có nghĩa là các Ngân hàng khi tiến hành cho vay đối với các

cá nhân, pháp nhân vay vốn thì khoản cho vay đó phải đem lại thu nhập cho

Ngân hàng, đảm bảo trang trải đƣợc chi phí trả cho lãi suất huy động hoặc đi

vay, chi phí Ngân hàng và rủi ro của Ngân hàng. Song không phải các Ngân

hàng cứ cho vay nhiều, mang lại nhiều lợi nhuận là có hiệu quả cao bởi vì nếu

cho vay ra mà khơng thu hồi đƣợc vốn cho vay hoặc cho vay không cân xứng

với nguồn huy động đƣợc thì sớm hay muộn Ngân hàng cũng dễ rơi vào tình

trạng thua lỗ, đổ bể. Chính vì vậy, yếu tố hiệu quả trong kinh doanh là yếu tố

quan trọng và cần thiết đầu tiên đối với sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.

1.1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt đông tín dung cho vay sản

xuất nơng nghiệp:

A. Quy mơ cho vay của ngân hàng đối với cá nhân, pháp nhân ngƣời vay vốn

Thể hiện thông qua các chỉ tiêu sau:

Doanh số cho vay: Là chỉ tiêu cơ bản khi đánh giá một cách khái quát

và có hệ thống đối với những khoản vay tại một thời điểm. Khi xác định

doanh số cho vay, chƣa có sự đánh giá cụ thể về chất lƣợng và phần ròng của

những khoản vay trong một thời kỳ nhất định. Nhƣng đây là chỉ tiêu cho biết

khả năng luân chuyển sử dụng vốn của một Ngân hàng. Quy mơ đầu tƣ và cấp

vốn tín dụng của Ngân hàng đó với nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ.

Dƣ nợ tín dụng đối với nền kinh tế: Tổng dƣ nợ nội tệ và ngoại tệ thể

hiện đƣợc mối quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với khách hàng, đồng thời là



15



chỉ tiêu phản ánh phần vốn đầu tƣ hiện đang còn lại tại một thời điểm của

Ngân hàng mà Ngân hàng đã cho vay nhƣng chƣa thu về. Đồng thời chỉ tiêu

này cũng phản ánh Mối quan hệ với doanh số cho vay (dƣ nợ đầu kỳ + doanh

số cho vay – doanh số thu nợ = dƣ nợ cuối kỳ), với khả năng đáp ứng nguồn

vốn của các NHTM đối với nhu cầu sử dụng vốn trong nền kinh tế.

B. Hiệu quả tín dụng của hoạt động cho vay sản xuất nông nghiệp

a, Xét trên quan điểm Ngân hàng:

- Chỉ tiêu dƣ nợ: Đƣợc tính bằng Dƣ nợ của hoạt động cho vay sản xuất

nơng nghiệp/ Tổng dƣ nợ tín dụng. Chỉ tiêu này cho thấy biến động tỷ trọng dƣ

nợ của hoạt động cho vay sản xuất nông nghiệp trong tổng dƣ nợ tín dụng của

một Ngân hàng qua các thời kỳ khác nhau. Có thể nghiên cứu biến động quy

mơ, khối lƣợng tín dụng của hoạt động cho vay sản xuất nơng nghiệp. Nếu

chỉ xem xét tử số, tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ phát triển ngày càng có

uy tín. Vì tín dụng có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn, thế mà dƣ nợ lại lớn chứng tỏ

mối quan hệ khách hàng- Ngân hàng là hoàn toàn tin cậy.

Chỉ tiêu này cũng có thể dùng so sánh giữa các Ngân hàng khác nhau

để thấy đƣợc thế mạnh của Ngân hàng này so với thế mạnh của Ngân hàng

khác trong hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, có thể coi đây nhƣ một chỉ tiêu

định lƣợng để có thể thấy rõ bản chất của tín dụng của hoạt động cho vay sản

xuất nơng nghiệp ở một Ngân hàng.

- Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng: Chỉ tiêu này thƣờng đƣợc các Ngân

hang tính tốn hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý Vốn Tín dụng

trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng; giải quyết một cách hợp lý ba lợi

ích: Nhà nƣớc, khách hàng và Ngân hàng. Hệ số này phản ánh số vòng chu

chuyển của Vốn Tín dụng thƣờng là một năm. Đƣợc tính theo cơng thức sau:

Doanh số thu nợ/ Dƣ nợ Bình quân.

- Chỉ tiêu nợ quá hạn:



16



+ Nợ quá hạn của của hoạt động cho vay sản xuất nông nghiệp / Tổng

dƣ nợ Ngân hàng sẽ chuyển các khoản vay không trả đƣợc nợ khi đến hạn

thành các khoản nợ quá hạn. Nợ quá hạn có thể do các nguyên nhân chủ quan

của cá nhân, pháp nhân ngƣời vay vốn, do các nguyên nhân khách quan hoặc

do xác định không hợp lý thời hạn vay, phƣơng thức hoàn trả hay một số yếu

tố khác của hợp đồng. Nợ quá hạn là điều không mong muốn của Ngân hàng.

Nó làm giảm hiệu quả tín dụng của Ngân hàng và các Ngân hàng luôn cố

gắng làm giảm tỷ lệ này.

+ (Nợ quá hạn của hoạt động cho vay sản xuất nông nghiệp/ Tổng dƣ

nợ ) x 100%

Chỉ tiêu này cho thấy trong 100% dƣ nợ tín dụng thì có bao nhiêu % là

nợ q hạn của hoạt động cho vay sản xuất nông nghiệp.

Thể hiện tỷ lệ nợ khơng thanh tốn đúng hạn trên tổng dƣ nợ. Các Ngân

hàng có chỉ số này thấp chứng tỏ hiệu quả tín dụng cao. Ở các nƣớc có nền tài

chính phát triển, ngƣời ta quy định các Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dƣ

nợ < 5% thì đƣợc coi là có chất lƣợng tín dụng tốt, ngƣợc lại nếu vƣợt q 5% thì

có dấu hiệu xấu, hoạt động của Ngân hàng đó khơng an tồn, nguy cơ rủi ro cao.

- Chỉ tiêu nợ khó đòi = Nợ khó đòi của hoạt động cho vay sản xuất

nông nghiệp/ Tổng dƣ nợ

Rõ ràng tỷ lệ này càng cao, thì tín dụng có hiệu quả càng thấp. Nợ khó đòi

có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng và nếu có q nhiều nợ khó đòi sẽ

có thể làm cho Ngân hàng phá sản. Các Ngân hàng đang cố gắng giảm đến mức

tối đa các khoản nợ khó đòi để làm tăng hiệu quả tín dụng của hoạt động cho vay

sản xuất nông nghiệp.

- Chỉ tiêu lợi nhuận = Lợi nhuận từ tín dụng của hoạt động cho vay

sản xuất nông nghiệp/ Tổng dƣ nợ

Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả các khoản tín



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CHO VAY SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×