Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bài 3: Diễn đạt lại những câu văn sau đây bằng cách thêm các từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật cho sinh động, gợi cảm.

Bài 3: Diễn đạt lại những câu văn sau đây bằng cách thêm các từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật cho sinh động, gợi cảm.

Tải bản đầy đủ - 0trang

này lại được phân loại nhỏ hơn: mở bài trực tiếp, mở bài gián tiếp, kết bài mở

rộng, kết bài khơng mở rộng.

Trong phân mơn Luyện từ và câu có một số bài tập rèn kỹ năng viết

đoạn văn, cần được GV chú ý để hướng dẫn HS lập ý trước khi cho HS viết

thành lời văn cụ thể, nhằm bổ trợ thiết thực, lôgic, đồng tâm cho phân môn TLV

ở tiểu học.

2.5.3. Rèn kỹ năng viết bài văn có bố cục chặt chẽ, lời văn phù hợp với yêu cầu nội

dung, thể loại và kiểu bài

Để bài làm của HS có bố cục chặt chẽ, cần hướng dẫn HS biết cách liên kết

các đoạn văn bằng những từ ngữ như: chẳng bao lâu, từ lâu, tuy vậy, trong khi

đó…Nhắc nhở HS xuống dòng khi kết thúc đoạn văn, mở đầu đoạn tiếp theo

bằng câu nối vào ý khác, làm cho bài văn trong sáng, mạch lạc, khúc chiết. Chữ

viết phải rõ ràng và cố gắng rèn viết chữ đẹp…Bài làm cần sáng sủa, sạch sẽ.

Lưu ý nhắc nhở HS nắm vững các đặc điểm về thể loại, kiểu loại tập làm văn.

Khi miêu tả cần lựa chọn những động từ chỉ hoạt động, chỉ trạng thái; dùng

những tính từ gợi hình ảnh, cảm xúc; những từ tượng thanh, tượng hình thích

hợp; dùng các hình ảnh so sánh, ví von sinh động…để vừa gợi tả cho cụ thể, vừa

thể hiện tình cảm, thái độ của mình với đối tượng được miêu tả.

Vẻ đẹp của một bài văn hay không chỉ ở ý nghĩa nội dung, bộc lộ cảm xúc

mà nội dung và cả xúc đó phải được thể hiện, thơng qua vẻ đẹp của tiếng Việt.

Trong giảng dạy, cần hướng dẫn HS tiểu học đi từ những cái cụ thể, chắt lọc

những điều quan trọng về kiến thức, kỹ năng để truyền thụ cho các em. Khơi

dậy tính kiên trì học hỏi, kiên trì rèn luyện của các em. Gắn kiến thức đề tài với

vốn sống, vốn hiểu biết của HS, đánh thức ở HS những gì các em đang có và

phát triển dần lên.

2.6. Hướng dẫn xây dựng đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài và xây dựng bố cục

bài văn

Bài tập luyện viết văn miêu tả là những bài tập viết thành đoạn, bài.

Khi thực hiện viết bài văn miêu tả, cần có thời gian suy nghĩ để tìm cách

diễn đạt (dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hố…). Vì



42



vậy, yêu cầu đặt ra là lời văn cần rõ ý, miêu tả sinh động, bộc lộ được cảm xúc,

bố cục bài văn chặt chẽ, hợp lí trong từng đoạn, trong toàn bài để tạo ra một

“chỉnh thể”.

* Bài tập viết đoạn văn: rèn cho HS kĩ năng tạo lập được đoạn văn đảm bảo

sự liên kết chặt chẽ về ý. Các đoạn văn được luyện viết là đoạn mở bài (trực

tiếp, gián tiếp); đoạn thân bài (mở rộng, không mở rộng). Các đoạn phải có sự

liền mạch về ý (khơng rời rạc, lộn xộn), các ý trong đoạn được diễn tả theo một

trình tự nhất định nhằm minh hoạ, cụ thể hố ý chính (có mở đầu, triển khai và

kết thúc).

- Hướng dẫn học sinh viết các đoạn văn

+ Đoạn văn mở bài: HS được học hai cách mở bài: mở bài trực tiếp

và mở bài gián tiếp. GV nên để HS lựa chọn cách mở bài mà mình cho là

hợp lí nhất và phù hợp với khả năng của từng em. Mở bài gián tiếp có thể xuất

phát từ một vấn đề khác rồi mới dẫn vào vấn đề mình cần nói tới. Có thể bắt đầu

bằng một sự kiện, hoàn cảnh xuất hiện vật định miêu tả. Cũng có thể bắt đầu

bằng những câu thơ, ca dao…có liên quan đến yêu cầu của đề bài.

Ví dụ: Sau đây là hai cách mở bài của bài văn Tả con đường quen thuộc

từ nhà em tới trường.

Mở bài trực tiếp: Từ nhà em tới trường có thể đi theo nhiều ngả đường.

Nhưng con đường mà em thích đi hơn cả là đường Nguyễn Trường Tộ.

Mở bài gián tiếp: Tuổi thơ của em có biết bao kỷ niệm gắn với những cảnh

vật của q hương. Đây là dòng sơng nhỏ đầy ắp tiếng cười của bọn trẻ chúng

em mỗi buổi chiều hè. Kia là triền đê rộn rã tiếng hát của thanh niên nam nữ

những đêm sáng trăng. Nhưng gần gũi, thân thiết nhất với em vẫn là con đường

từ nhà đến trường – con đường đẹp đẽ suốt những năm tháng học trò của em.

+ Thân bài: Có thể gồm một số đoạn văn, là toàn bộ nội dung miêu tả được

viết theo từng phần, từng ý đã được sắp xếp khi quan sát, chuẩn bị viết bài.

Trong đó, thể hiện được hình ảnh về đối tượng miêu tả với ngôn từ và các biện

pháp nghệ thuật mà người viết vận dụng để miêu tả.



43



+ Đoạn văn kết bài: Kết bài tuy chỉ là một phần nhỏ trong một bài văn

nhưng lại rất quan trọng bởi đoạn kết bài thể hiện được nhiều nhất tình cảm của

người viết với đối tượng miêu tả. Thực tế cho thấy, HS thường hay liệt kê cảm

xúc của mình làm phần kết bài khơ cứng, gò bó, thiếu chân thực. Các em thường

làm kết bài khơng mở rộng, điều đó khiến bài văn chưa có sự hấp dẫn. Do đó,

GV cần hướng dẫn, gợi ý để HS biết cách và viết được phần kết bài mở rộng

bằng cảm xúc của mình một cách tự nhiên. GV có thể dùng câu hỏi gợi mở để

khơi gợi cảm xúc của HS trong quá khứ, hiện tại, tương lai hoặc trong hồn cảnh

nào đó đối với đối tượng được tả.

Ví dụ: Dưới đây là hai cách kết bài của bài văn Tả con đường quen thuộc

từ nhà em tới trường

Kết bài không mở rộng: Con đường từ nhà em tới trường có lẽ khơng khác

nhiều lắm con đường trong thành phố nhưng nó thật thân thiết với em.

Kết bài mở rộng: Em rất yêu quý con đường từ nhà đến trường. Sáng nào

đi học, em cũng thấy con đường rất sạch sẽ. Em biết đấy là nhờ công quét dọn

ngày đêm của các cô bác công nhân vệ sinh. Em và các bạn bảo nhau không

được vứt rác bừa bãi để con đường luôn sạch sẽ.

* Bài tập viết bài văn: thường được thực hiện trong cả một tiết học. Chúng

luyện cho HS triển khai nhiệm vụ giao tiếp thành một bài. Bài văn phải có bố

cục chặt chẽ, có lời văn phù hợp với yêu cầu nội dung và thể loại, các đoạn văn

trong bài phải liên kết với nhau thành một bài văn hoàn chỉnh, được bố cục chặt

chẽ theo ba phần:

Mở bài: Giới thiệu đối tượng miêu tả, thể hiện tình cảm, quan hệ của

người miêu tả với đối tượng miêu tả.

Thân bài: Dùng lời văn để tả, tái hiện, sao chụp chân dung của đối tượng

miêu tả ở những góc nhìn nhất định. Có thể sử dụng các biện pháp nghệ thuật

để lột tả hình ảnh một cách sinh động.

Kết bài: Nêu những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ trực tiếp của

người miêu tả và của mọi người nói chung đối với đối tượng miêu tả.



44



Nhóm bài tập viết đoạn, bài là những bài tập khó nhất, đòi hỏi sự sáng tạo

nhất, yêu cầu HS phải vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết, cảm xúc về

cuộc sống, về các đối tượng được tả và các kĩ năng ngôn ngữ đã được hình

thành trước đó để tạo lập được đoạn, bài. Đây là một quá trình chuyển từ ý đến

lời. GV phải luyện cho HS diễn đạt đúng những gì muốn tả. Ý có thể được diễn

tả thành những lời khác nhau. HS phải biết lựa chọn cách diễn đạt có hiệu quả

nhất.

Để rèn luyện kỹ năng viết văn miêu tả cho HS, GV phải giúp HS xác định

được mục đích của bài viết, chủ đề của bài viết và duy trì chủ đề này trong suốt

bài viết để bài văn khơng lan man.

Thật khó khi phân định đúng, sai ở một bài văn. Mà ta đánh giá bài văn đó

có hay khơng, có đặc sắc khơng? Vì thế, bài văn phải bộc lộ tình cảm chân

thành, hồn nhiên của các em ở từng câu, từng đoạn của bài và cô đọng lại ở phần

kết bài. Do vậy, GV cần chú ý rèn cho HS cách tưởng tượng, bộc lộ cảm xúc

trong bài văn một cách thường xuyên, liên tục; từ tiết đầu tiên của mỗi loại bài

đến những tiết xây dựng đoạn văn, tiết viết bài và cả trong tiết trả bài.

2.7. Bổ sung vốn hiểu biết và kỹ năng sống cho học sinh

- Trước hết, người GV phải tạo tình huống khiến HS háo hức, khám phá

điều thú vị trong đối tượng miêu tả. Bổ xung vốn hiểu biết và kỹ năng sống cho

HS có nghĩa là giúp cho HS nắm một số từ gợi tả để có thể dùng trong miêu tả.

VD: GV yêu cầu HS tìm các từ ngữ gợi tả mái tóc (vàng hoe, đen nhánh,

bạc phơ, cháy nắng, óng ả, xoăn tít…); khn mặt (bầu bĩnh, vuông chữ điền,

trái xoan, khắc khổ…); nước da (trắng trẻo, trắng hồng, ngăm ngăm, bánh mật,

đen sạm…); dáng người (nhỏ nhắn, gầy gò, đẫy đà, to khoẻ, cao cao…); nụ cười

(khanh khách, sằng sặc, mủm mỉm, ha hả…).

Cho HS tìm từ bằng các hình thức như: quan sát thực tế (quan sát người

bạn), quan sát tranh ảnh, xem phim, đọc sách, nhất là qua các phân môn của

Tiếng Việt hoặc các mơn học khác và qua hình thức trò chơi…



45



VD: GV cho HS quan sát bức tranh cây hoa phượng đang ra hoa đỏ rực và

hỏi: Quan sát tranh, em thấy cây hoa có đặc điểm gì mà nhà văn Xn Diệu đã

ví “như mn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau.”?

GV phân tích tìm ra đặc điểm tương đồng của bộ phận nào đó của cây hoa

với mn ngàn con bướm đậu khít nhau. Qua việc phân tích sẽ rèn cho HS óc

quan sát tinh tế, sự liên tưởng và tư duy phân tích, kích thích ở HS kĩ năng suy

luận.

- Dạy HS viết văn miêu tả phải gắn liền với việc bổ sung một số kiến thức cơ bản

về tự nhiên và xã hội đồng thời hình thành kỹ năng sống cho các em.

- Dạy HS biết phân biệt các đối tượng xung quanh mình bằng những dấu hiệu bản

chất, chẳng hạn như:

● Biết phân biệt một số đồ vật quen thuộc: các đồ dùng vật dụng trong gia đình

(bàn ghế, giường, tủ…), đồ dùng học tập (cặp, sách, bút…).

● Biết một số loại cây xung quanh nơi các em sinh sống: Một số cây ăn quả (cây

nhãn, cây xồi, cây na, cây mít…), cây bóng mát (cây bàng, cây phượng, cây

bằng lăng…), cây lấy gỗ (cây keo, cây bạch đàn…).

● Biết một số loài vật quen thuộc và gần gũi với các em: Con vật ni trong nhà

(gà, lợn chó, mèo, trâu…), lồi vật hoang dã (hổ, sư tử, cá sấu…).

● Biết những người thân, người bạn thân thiết với các em: ông bà, cha mẹ, anh

chị, bạn bè cùng lớp, cùng xóm.

● Biết một số cảnh mà HS đã rất quen thuộc: cảnh ăn cơm trong gia đình, con

đường đến trường…

Giúp HS hiểu được lợi ích của đối tượng mà mình miêu tả với kiểu bài

miêu tả đồ vật, con vật, cây cối.

● Khi HS viết kiểu bài miêu tả đồ vật, HS phải hiểu được đồ vật đó dùng để làm

gì.

Ví dụ: Bộ bàn ghế trong gia đình có nhiều cơng dụng như tiếp khách, ngồi

xem tivi, ngồi họp mặt cả gia đình..; quyển truyện đọc lớp 4 có thể dùng để học

tốt phân mơn kể chuyện, giải trí và cung cấp nhiều kiến thức thuộc nhiều mặt

khác nhau.



46



● Khi HS viết kiểu bài miêu tả cây cối, HS sẽ hiểu được lợi ích của các lồi cây

đó.

Ví dụ: Cây mít vừa là cây lấy gỗ vừa là cây ăn quả, cây phượng vừa là cây

bóng mát vừa là cây làm cảnh.

● Khi HS viết kiểu bài miêu tả con vật, HS sẽ biết về một số lồi vật, tập tính sinh

sống cũng như lợi ích của chúng.

Ví dụ: con chó thường được nuôi để làm cảnh và trông nhà, con mèo nuôi

để làm cảnh và bắt chuột…

Từ đó, giáo dục ý thức và thái độ và hành vi phù hợp cho các HS. Biết yêu

quý, giữ gìn và sử dụng hợp lý các đồ vật. Có ý thức chăm sóc, bảo vệ các cây

cối và loài vật.

2.8. Ra đề bài văn miêu tả

Đề bài văn miêu tả phải đảm bảo cho HS có điều kiện quan sát đối tượng

miêu tả, tả chân thực. Muốn vậy, trước tiên, đề bài chỉ chọn các đối tượng HS có

thể quan sát, khơng nên ra đề miêu tả các loại con vật, cây cối…xa lạ với HS.

HS miền núi không bắt tả biển, ngược lại HS ở vùng biển khơng đòi hỏi tả núi.

GV cần căn cứ vào đối tượng HS cụ thể để ra đề bài văn miêu tả cho phù hợp

nếu ra đề văn miêu tả không sát với địa phương, với vốn hiểu biết của các em,

xa lạ với đời sống thực chỉ dẫn đến tả sáo, tả công thức hoặc tả sao chép của

người khác.

- HS tiểu học vùng thuận lợi nói chung có thể viết được những bài văn

miêu tả chỉ bằng quan sát qua tranh ảnh, phim…Nhưng đối với HS ở vùng khó

khăn, những đề tài xa lạ là điều cần tránh. HS đến trường học tập bằng ngôn ngữ

Tiếng Việt tương đối hạn hẹp mà GV lại yêu cầu HS hình dung, tưởng tượng rồi

đặt câu, viết một bài văn miêu tả hoàn chỉnh với một đối tượng mà HS chưa

nhìn thấy bao giờ thì đúng là điều quá sức đối với các em.

Ví dụ: Khi ra đề bài tả người cho HS làm bài kiểm ta viết, chúng tôi chọn

bốn đề bài sau:

a) Tả một người thân trong gia đình em.

b) Tả một người bạn cùng lớp hoặc người bạn thân gần nhà em.



47



c) Tả một ca sĩ hay một nghệ sĩ hài mà em yêu thích.

d) Tả thầy giáo hoặc cơ giáo mà em kính mến.

Với bốn đề bài trên, HS có thể chọn đối tượng miêu tả là một nhân vật quen

thuộc, gần gũi. Nhưng với một vài HS khác, các em cũng có thể chọn tả ca sĩ

đang biểu diễn với rất nhiều chi tiết sống động mà các em đã có dịp quan sát

trên ti vi qua các chương trình ca nhạc hoặc phim ảnh.

- Dựa vào gợi ý của các đề bài mẫu trong sách giáo khoa, GV có thể tự ra

một số đề TLV miêu tả đối tượng khá quen thuộc như sau:

Ví dụ:

● Đề bài TLV miêu tả đồ vật:

Đề 1: Em hãy miêu tả cái bút máy của mình. Đề 2: Hãy miêu tả chiếc cặp

sách của em.

● Đề bài TLV miêu tả cây cối:

Đề 1: Em hãy miêu tả một cây ở sân trường.

Đề 2: Em hãy miêu tả một cây gắn với nhiều kỷ niệm của mình.

● Đề bài TLV miêu tả loài vật:

Đề 1: Em hãy miêu tả con vật nuôi trong nhà em.

Đề 2: Thường ngày em hay chơi đùa với con vật nào? Em hãy miêu tả con

vật đó.

● Đề bài TLV miêu tả cảnh:

Đề 1: Tả cảnh một buổi sáng.

Đề 2: Tả ngôi nhà của em (hoặc căn hộ, phòng ở của gia đình em).

● Đề bài TLV miêu tả người:

Đề 1: Tả ông (bà) của em.

Đề 2: Tả một người lao động đang làm việc (công nhân, bác sĩ, giáo viên..)

đang làm việc.

Tuy nhiên cần lưu ý, phải đảm bảo mọi HS trong lớp đều biết và đã từng

được quan sát đối tượng đó.



48



- GV có thể đưa ra những đề bài TLV có yêu cầu được nêu ra một cách gián

tiếp. Đối tượng miêu tả là do các em tự lựa chọn sẽ khiến các em cảm thấy rất

hứng thú và được chủ động, có thể đưa ra một số đề như sau:

Ví dụ:

Đề bài TLV miêu tả đồ vật:

Đề 1: Những đồ vật quanh em tuy nhỏ bé nhưng rất có ích: chiếc đồng hồ

báo thức, cây bút, cái thước kẻ, quyển sách… Em hãy tả một trong những đồ vật

đó.

Đề 2: Tuổi thơ ai cũng có những đồ chơi đã từng gắn bó với mình như một

người bạn. Hãy tả lại một trong những đồ chơi đó.

● Đề bài TLV miêu tả cây cối:

Đề 1: Trước cổng nhà em hay trong khu nhà nơi em ở, trên đường đi học

hoặc giữa sân trường, có một cây cho bóng mát. Em hãy tả lại cây đó.

Đề 2: Có những cái cây đã gắn bó với em như một người bạn thân thiết.

Em hãy viết một bài văn miêu tả một trong những cây đó.

● Đề bài TLV miêu tả lồi vật:

Đề 1: Có nhiều câu chuyện kể về những con vật rất đặc biệt, có tình, có

nghĩa. Em hãy viết bài văn tả lại một trong những con vật đó.

Đề 2: Đến thăm vườn thú em đã được thấy những con vật làm trò rất vui.

Hãy tả lại một trong những con vật đó.

Khi HS đã có hứng thú đối với đối tượng miêu tả GV cần phải duy trì hứng

thú đó ở các em, khơi gợi giúp các em có thể miêu tả đối tượng đó khơng những

đúng mà phải hay.

Như vậy, khi ra đề bài văn miêu tả GV cần phải chú ý đến đặc điểm tâm lý,

vùng miền, khơi gợi cảm xúc ở các em bằng chính cách ra đề bài phải luôn luôn

phù hợp với đối tượng HS.



49



TIỂU KẾT

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, ở chương 2, chúng tôi đề xuất một

số biện pháp để rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 5 như sau:

1. Giúp học sinh hiểu rõ đối tượng của văn miêu tả

2. Rèn kỹ năng quan sát cho học sinh

3. Hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn ý

4. Giúp học sinh tích lũy vốn từ miêu tả và làm giàu trí tương tượng

5. Rèn luyện kỹ năng viết câu, đoạn trong bài tập làm văn cho học sinh

6. Hướng dẫn xây dựng đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài và xây dựng bố cục bài

văn

7. Bổ sung vốn hiểu biết và kỹ năng sống cho học sinh

8. Ra đề bài văn miêu tả

Nội dung của mỗi biện pháp đều có phân tích và có dẫn chứng cụ thể minh

họa giúp cho người đọc có thể hiểu và vận dụng một cách hiệu quả nhất vào quá

trình giảng dạy.



50



CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM

1.



Trình bày kết quả thực nghiệm

1.1 Mục đích thể nghiệm

Trên cơ sở đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học

sinh lớp 5. Chúng tôi tiến hành thể nghiệm nhằm:

- Xác định tính khả thi của các biện pháp mà đề tài đề xuất

- Xác định tính hiệu quả của các biện pháp

Nếu những giờ dạy thể nghiệm thu được thành cơng nhất định thì có nghĩa

là những biện pháp mà chúng tơi đưa ra có tác dụng tốt và có tính khả thi.

1.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm

Xuất phát từ mục đích thể nghiệm chúng tơi đã lựa chọn:

- Đối tượng thể nghiệm: Chúng tôi tiến hành thể nghiệm trên hai khối lớp, đó là

khối lớp 5 Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch. Giữa lớp thể nghiệm và lớp đối

chứng có những điểm giống và khác nhau được thể hiện trong bảng sau:

Điều kiện



Lớp thể nghiệm



Lớp đối chứng



1. Giống nhau - Số lượng học sinh trong lớp

- Mặt bằng nhận thức của học sinh là như nhau

- Thời gian tiến hành thể nghiệm

- Sử dụng bảng chính và sách giáo khoa

2. Khác nhau



- Áp dụng các biện pháp: Giúp học - Giữ nguyên phương

sinh hiểu rõ đối tượng của văn miêu pháp dạy học cũ.

tả, rèn kỹ năng quan sát; tích lũy

vốn từ và làm giàu tưởng tượng của

các em; viết những câu văn sinh

động, gợi tả, gợi cảm, giàu hình ảnh

và nhạc điệu; rèn luyện kỹ năng viết

câu đoạn; xây dựng đoạn văn mở

bài, thân bài, kết bài; ra đề bài văn

miêu tả.



51



Cụ thể như sau:

Bảng 1: Đối chứng thể nghiệm lớp 5A và 5B Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch

Dân tộc

Tổng

Lớp



số



Học lực



Thiểu

Nam Nữ



Kinh số



Trung

Giỏi Khá bình



Yếu



Thể

nghiệm



29



17



12



9



20



8



9



11



1



27



14



13



6



21



5



5



2



2



5A

Đối

chứng

5B

- Địa bàn thể nghiệm: tại Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch

- Thời gian bài giảng thể nghiệm được tiến hành trong tháng 2, tháng 3 học kỳ II

2018 – 2019.

1.3 Phương pháp thể nghiệm

- Sau khi dạy, chúng tôi sử dụng phiếu bài tập để kiểm tra mức độ hiểu bài ứng

dụng vào bài viết của HS ở hai lớp thực nghiệm và đối chứng.



52



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bài 3: Diễn đạt lại những câu văn sau đây bằng cách thêm các từ ngữ, các biện pháp nghệ thuật cho sinh động, gợi cảm.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×