Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Công nhân sửa đường

Công nhân sửa đường

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thông qua những bài tập như trên giúp HS khắc sâu phần kiến thức về bố

cục của một bài TLV miêu tả đồ vật, đồng thời HS có thể học trong đó cả cách

diễn đạt, cách dùng từ, đặt câu.

Sau khi nắm chắc bố cục của bài văn miêu tả, kết hợp với những chi tiết

tiêu biểu đã lựa chọn được trong khi quan sát và tìm ý học sinh tiến hành lập dàn

ý.

Dàn ý bài miêu tả trong nhà trường thường có mục phát biểu cảm nghĩ

của các em đối với đối tượng được miêu tả. Tốt nhất nên hướng dẫn các em trình

bày những suy nghĩ, tình cảm của mình lồng vào các chi tiết miêu tả hoặc phát

biểu xen kẽ trong quá trình miêu tả. Một số GV không hiểu rõ yêu cầu của phần

này đã hướng dẫn HS đưa vào những nội dung: ca ngợi lợi ích, tác dụng, công

dụng..làm như vậy là biến bài miêu tả thành bài khoa học thưởng thức.

2.4. Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ miêu tả và tưởng tượng khi miêu tả

2.4.1. Tạo điều kiện để học sinh tích lũy vốn từ ngữ miêu tả.

- Biện pháp đầu tiên là giúp HS tích lũy vốn từ ngữ miêu tả qua các bài tập đọc.

Nhiều bài tập đọc là các bài miêu tả hay của nhà văn. Số lượng từ ngữ miêu tả ở

các bài đó phong phú, cách sử dụng chúng sáng tạo.

Muốn lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh,

HS phải có vốn từ phong phú. Do vậy, GV cần giúp HS tích lũy vốn từ miêu tả

và làm giàu tưởng tượng trong làm văn miêu tả.

- Ghi chép từ ngữ dùng để miêu tả, cụ thể như:

+ Các từ dùng trong miêu tả cây cối: xanh mướt, mơn mởn, khẳng khiu,

xum xuê, rực rỡ, đo đỏ…

+ Các từ thường dùng trong miêu tả đồ vật: tròn xoe, nhỏ nhắn…

+ Các từ thường dùng trong miêu tả con vật: tinh nhanh, rón rén, oai vệ…

+ Các từ thường dùng trong miêu tả cảnh: trong xanh, đám mây, nắng

chói trang…



37



+ Các từ thường dùng trong miêu tả người: xinh xắn, dế thương, xinh đẹp,

hóm hỉnh…

Các từ miêu tả đó thường là các từ láy, gợi lên hình ảnh, âm thanh…để

miêu tả cho sinh động.

- Các tiết học từ ngữ cũng là một dịp để GV giúp HS không chỉ hiểu rõ nghĩa của

từ mà còn mở rộng chúng khi tìm từ gần nghĩa hoặc trái nghĩa.

VD: GV hướng dẫn để HS thấy bên cạnh tính từ gầy nói về hình dáng một

người còn có nhiều từ gần nghĩa khác tương tự: khơ đét, xương xẩu, hom hem

hay lép kẹp… Bên cạnh tính từ đẹp còn có hàng loạt các từ ngữ khác: trông dễ

mến, xinh, xinh xắn, dễ coi…

Việc học tập và mở rộng vốn từ láy, từ tượng thanh, từ tượng hình cũng có

ý nghĩa tích cực đối với việc tích lũy vốn từ ngữ miêu tả của HS.

2.4.2. Hướng dẫn học sinh tưởng tượng khi miêu tả

Tưởng tượng như một hình dung về đối tượng mà ta nhắm mắt lại thì đối

tượng sẽ hiện ra rõ nét hơn, cụ thể hơn, gần gũi hơn. Tưởng tượng giúp ta thấy

được nét đặc sắc của đối tượng, thấy được điểm khác biệt tương đối giữa đối

tượng này với tượng khác, thấy được mối quan hệ của đối tượng với sự vật hiện

tượng xung quanh, với những kỷ niệm mang dấu ấn sâu sắc trong lòng người

viết. Từ tưởng tượng, HS sẽ cảm nhận được đối tượng miêu tả bằng tình cảm,

tình yêu của chính mình, thấy được tầm quan trọng của đối tượng được tả đối

với chính mình và cả đối với những người xung quanh. Miêu tả gắn với tưởng

tượng là một cách bộc lộ cảm xúc, tình cảm và khả năng cảm thụ cái đẹp của

người viết văn. Tưởng tượng làm cho đối tượng miêu tả hoàn thiện hơn, sống

động hơn và gần gũi hơn.

GV có thể hướng dẫn HS tưởng tượng theo cách:

- Không trực tiếp quan sát, tập trung tất cả các giác quan vào đối tượng.

- Nhắm mắt hình dung về đối tượng: hình ảnh, hoạt động của đối tượng, những

ảnh hưởng, tác động của đối tượng đến sự vật xung quanh.

- So sánh đối tượng được miêu tả đối với các đối tượng khác tương đồng.

- Phân tích, đánh giá cái hay, cái đẹp có ở đối tượng.



38



- Nhân hóa hay tự nhiên hóa một vài hình ảnh đặc sắc ở đối tượng.

- Dự đốn trước khả năng và những điều tốt đẹp mà đối tượng có thể vươn tới.

- Liên tưởng với những điều mình đã biết; đã nghe, đọc, cảm nhận về đối tượng từ

trước tới nay.

- Ghi chép lại những gì mình đã tưởng tượng để lựa chọn, chắt lọc đưa vào bài

viết của mình.

Nhờ tưởng tưởng, liên tưởng, phong phú, táo bạo, mới mẻ, người quan sát

sẽ có nhiều nhận xét cụ thể, sinh động tạo nên sức hấp dẫn cho đoạn miêu tả có

tác động mạnh tới người đọc.

2.5. Rèn luyện kỹ năng viết câu, đoạn trong bài tập làm văn cho học sinh

Trong một bài văn miêu tả nói chung hay trong bài văn miêu tả đồ vật,

cây cối, con vật.. là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiến thức và kỹ

năng tiếp nhận được trong quá trình học tập mơn Tiếng Việt. Do vậy, từ việc

nắm ý tới việc diễn đạt thành văn, từ văn nói tới văn viết có một khoảng cách

khá xa. Vì thế, bên cạnh bồi dưỡng tình cảm tư tưởng tình cảm, vốn sống cho

học sinh qua các bài học ở phân môn Tiếng Việt, mỗi giáo viên phải chú trọng

rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn cho các em từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức

tạp sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và khả năng tư duy của học sinh.

2.5.1. Kỹ năng viết những câu văn sinh động gợi tả, gợi cảm, giàu hình ảnh và nhạc

điệu

Từ cách dẫn dắt, gợi mở của GV và từ một ý cho trước hay từ một câu

đơn (chỉ có một cụm chủ ngữ, vị ngữ), GV hướng dẫn HS tập mở rộng câu bằng

cách thêm các thành phần phụ cho câu như: trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ…Sử

dụng các hình ảnh, chi tiết sinh động biểu cảm; các biện pháp nghệ thuật như:

nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, điệp từ, điệp ngữ, cường điệu hóa…làm cho cách diễn

đạt câu văn, đoạn văn thêm cụ thể, sống động giúp người đọc như cùng cảm

nhận với mình.

Yêu cầu rèn luyện kỹ năng này có thể thực hiện ở những tiết học luyện từ

và câu hoặc tiết trả bài tập làm văn. Bài tập luyện viết câu sẽ giúp HS có ý thức

viết văn ngày càng chặt chẽ về ý tứ, sinh động giàu cảm xúc…Từ đó, giúp các



39



em thêm hứng thú học tập mơn Tiếng Việt nói chung và phân mơn TLV nói

riêng. Sau đây là một số ví dụ về cách dùng từ, câu văn sinh động:

Bài 1: Từ những câu văn đã cho viết câu văn sinh động, gợi cảm xúc

bằng cách thêm biện pháp nghệ thuật:

- Bông hồng thật là đẹp.

+ Bông hồng xinh đẹp đang tươi cười và thì thầm tỏa hương thơm.(biện

pháp nhân hóa)

- Hai sừng trâu cong cong.

+ Hai cái sừng trâu cong cong như hai cái lưỡi liềm. (biện pháp so sánh)

- Con ngan có bộ lơng màu vàng.

+ Con ngan khốc lên mình một chiếc áo màu vàng. (biện pháp nhân

hóa)

- Chiếc đồng hồ giúp em thức dậy đi học.

+ Chiếc đồng hồ giống như người bạn thân thiết đánh thức tôi mỗi sáng

đi học.

- Em yêu cây phượng vào mỗi ngày hè.

+ Sao yêu thế cái cây phượng ở sân trường em. Yêu những tán lá, yêu

từng chùm hoa đỏ rực vào mỗi ngày hè và yêu cả tiếng ve râm ran trong sân

trường. ( biện pháp điệp từ)

- Xa xa, những cành liễu rủ thấp thoáng trên bờ hồ.

+ Xa xa , thấp thoáng những cành liễu trên bờ hồ. (biện pháp đảo ngữ)

Bài 2: Điền thêm từ thích hợp vào chỗ chấm để tạo thành những câu

văn gợi tả, gợi cảm

- Trong sân trường, cây bàng…chúng em vào lớp.

+ Trong sân trường cây bàng như đang vẫy tay đón chào chúng em vào

lớp. (biện pháp nhân hóa)

- Chú mèo mướp có đơi mắt tròn đen…

+ Chú mèo mướp có đơi mắt tròn đen như hai hạt nhãn, bộ râu rung

rung trắng như cước. (biện pháp so sánh)

- Cái bàn học…



40



+ Cái bàn học cùng em học bài, cùng em viết những trang nhật ký,

cùng em tâm sự những lúc vui buồn. (biện pháp điệp từ)

Bài 3: Diễn đạt lại những câu văn sau đây bằng cách thêm các từ ngữ,

các biện pháp nghệ thuật cho sinh động, gợi cảm.

- Đơi cánh gà mẹ xòe ra rất rộng.

+ Đơi cánh gà mẹ xòe ra rất rộng như một chiếc ơ vững chãi che trở

cho đàn con khỏi mưa cánh gà mẹ xòe ra rất rộng.

- Chiếc bảng đen xinh xắn.

+ Chiếc bảng đen xinh xắn, mỗi khi chúng em lau, cậu ta nhòe nhoẹt

nước mắt nhưng học hành lại rất chăm chỉ.

- Những chùm hoa phượng đỏ rực.

+ Những chùm hoa phượng đỏ rực đung đưa trong gió như đang đón

trào mùa hè đến.

Ngồi cách viết câu, dùng từ, ngữ nêu trên, trong giảng dạy, GV cần

hướng dẫn HS chú ý đến các đặc điểm cấu tạo của từ tiếng việt và sự đa dạng về

kiểu loại (từ đơn, từ ghép, từ láy); phong phú về ý nghĩa (từ một nghĩa, từ nhiều

nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm khác nghĩa…); linh hoạt về cách sử dụng (từ

dùng trong sinh hoạt, trong sách vở, từ địa phương…).

2.5.2. Kỹ năng viết đoạn văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về ý

Để thực hiện tốt kỹ năng này, trước hết cần phải quan sát kỹ đối tượng tìm

được nhiều ý, nhiều chi tiết, biết sắp xếp các ý theo một trình tự rõ ràng, hợp

lý…

Để sắp xếp ý, đoạn hợp lý chúng ta phải căn cứ vào:

- Căn cứ vào nội dung đã lựa chọn để sắp xếp từng ý (theo một thứ tự nào đó: từ

ngồi vào trong, từ trước ra sau, từ xa đến gần, từ trên xuống dưới…)

- Sắp xếp các ý theo đoạn với thứ tự đã lựa chọn cho phù hợp: Để viết được bài

văn, HS cần tập viết đoạn. Trong chương trình TLV, bài tập viết đoạn chiếm số

lượng nhiều. Đoạn văn được phân loại theo chức năng: đoạn mở bài, đoạn thân

bài, đoạn kết bài. Cách phân loại này chi phối cách xây dựng các kiểu bài viết

đoạn mở bài, viết đoạn thân bài và đoạn kết bài. Mỗi đoạn văn theo chức năng



41



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Công nhân sửa đường

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×