Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Phương pháp dạy: Phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều

khiển hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục thái độ và hình

thành ý thức đúng đắn cho học sinh

+ Phương pháp học: Phương pháp nhận thức và rèn luyện để hình thành

hệ thống tri thức và kỹ năng thực hành, hình thành nhân cách cho người học.

Khi sử dụng đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự định. Nếu mục

đích khơng đạt được thì có nghĩa là phương pháp khơng phù hợp với mục đích

hoặc nó khơng được sử dụng đúng.

Bất kì phương pháp nào, dù là phương pháp nhận thức hay phương pháp

thực hành - luyện tập, để thực hiện có kết quả vào đối tượng nào đó thì cũng

phải biết được tính chất của đối tượng, tiến trình biến đổi của nó dưới tác động

của phương pháp đó. Nghĩa là phải nhận thức những quy luật khách quan của

đối tượng mà chủ thể định tác động vào thì mới đề ra những biện pháp hoặc hệ

thống những thao tác cùng với những phương tiện tương ứng để nhận thức và để

hành động thực tiễn.

1.1.1.3. Kỹ năng làm văn

Kỹ năng là một khái niệm phức tạp, xung quanh khái niệm này có nhiều

định nghĩa khác nhau. Tác giả Nguyễn Sinh Huy cho rằng: “Kỹ năng là khả

năng của con người thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách lựa

chọn, vận dụng tri thức, những kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo phù hợp với mục

tiêu, điều kiện thưc tế.” (Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm – NXB sư

phạm)

Kỹ năng làm văn là kỹ năng thơng qua hệ thống kiến thức đã có, HS cảm

nhận bằng sự tinh tế của bản thân mà có được những bài văn hay.

Các kỹ năng làm văn bao gồm:

- Kỹ năng định hướng hoạt động giao tiếp

+ Nhận diện loại văn bản

+ Phân tích đề bài

- Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp

+ Xác định dàn ý của bài văn miêu tả đã cho



8



+ Quan sát đối tượng tìm và xắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả

- Kỹ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp

+ Xây dựng đọan văn

+ Liên kết các đoạn văn thành bài văn

- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp

+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu

cầu diễn đạt.

+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt

1.1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy học tập làm văn

Tập làm văn là môn học mang tính tổng hợp. Nó dựa trên kết quả nghiên

cứu của nhiều khoa học khác nhau như: Tâm lý học, ngôn ngữ học, lý luận văn

học...Sau đây, chúng tôi đi vào phân tích một số cơ sở khoa học chi phối một

cách trực tiếp đến dạy học TLV.

1.1.2.1. Cơ sở tâm lý học

* Dạy tập làm văn là dạy một hoạt động

Thành tựu to lớn của Tâm lý học Xô Viết đã xác định bản chất của tâm lý

là hoạt động và chỉ ra năng lực của con người chỉ được hình thành và phát triển

trong hoạt động. Nói năng cũng là một hoạt động, hoạt động lời nói. Hoạt động

nói năng còn có tên gọi khác là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Cũng như

các hoạt động tâm lý khác, hoạt động lời nói chỉ nảy sinh khi có động cơ nói

năng, bởi vì: “Chúng ta nói khơng phải để nói mà để bảo vệ một cái gì đó, tác

động đển một người nào đó” (A.N.Lê-ơn-chép). Chính vì vậy, công việc đầu

tiên của dạy học TLV - dạy sản sinh lời nói - là tạo được động cơ, nhu cầu nói

năng, kích thích học sinh tham gia giao tiếp.

Khi nghiên cứu hoạt động lời nói, người ta thấy rằng cái kích thích hành

vi nói là cái gì đó nằm ngồi ngơn ngữ. Chính vì vậy, xét đến tận cùng, dạy TLV

không phải bắt đầu từ hoạt động ngôn ngữ, từ sự tổ chức hoạt động ngôn ngữ

mà phải bắt đầu từ sự hoạt động khác của HS. Nói cách khác, những kích thích

nói năng khơng thể tách rời những ký năng sống khác.



9



Vì vậy, để dạy tốt TLV trước hết phải trau dồi vốn sống của HS, phải dạy

cho các em biết suy nghĩ, tạo cho các em cảm xúc, tình cảm rồi mới dạy cho các

em cách thể hiện những suy nghĩ, tình cảm đó bằng ngơn ngữ nói và viết.

* Các giai đoạn của hoạt động lời nói và kỹ năng làm văn

Theo trường phái tâm lý học hoạt động thì nhận thức của trẻ em được phát

triển qua hoạt động thực tiễn. Các nhà bác học Xơ Viết như: L.X.Vu-gơt-xki,

A.N.Lê-ơn-chép…đã góp phần xây dựng và phát triển tâm lý học hoạt động.

Trong tâm lý học, hoạt động được coi là sự vận động của chủ thể, của con

người. Hoạt động quy định nguồn gốc, nội dung và vận hành của tâm lý. Chúng

tôi nêu sơ đồ của tâm lý hoạt động như sau:

Hoạt động cụ







Động cơ mục đích chung



thể

Hành động







Mục đích cụ thể



Thao tác







Điều kiện phương tiện



Lý thuyết hoạt động lời nói, vận dụng thành tựu của tâm lý học hành

động, đi sâu nghiên cứu các mối quan hệ qua lại, các giai đoạn của hoạt động lời

nói.

Theo A.N.Lê-ơn-chép “để giao tiếp được trọn vẹn về mặt nguyên tắc thì

con người phải nắm được hàng loạt các kỹ năng:

Một là: phải định hướng nhanh chóng và đúng đắn trong các điều kiện

giao tiếp.

Hai là: phải biết lập đúng chương trình lời nói của mình, lựa chọn nội

dung giao tiếp một cách đúng đắn.

Ba là: phải tìm được phương tiện hợp lý để truyền đạt những nội dung đó.

Bốn là: phải đảm bảo mối liên hệ qua lại.

Nếu như một mắt xích của hoạt động giao tiếp bị phá huỷ thì người nói

khơng thể đạt được kết quả giao tiếp như mong đợi, kết quả đó sẽ không hiệu

quả”



10



Như vậy, theo A.N.Lê-ôn-chép, cấu trúc bao gồm 4 giai đoạn kế tiếp

nhau: định hướng, lập chương trình, thực hiện hố chương trình và kiểm tra.

Mỗi giai đoạn này sử dụng các kỹ năng cụ thể như sau:

+ Ứng với giai đoạn định hướng là kỹ năng xác định đề bài, giới hạn đề

bài và kỹ năng xác định tư tưởng cơ bản của bài viết.

+ Ứng với giai đoạn lập chương trình là kỹ năng lập ý, tìm ý, xây dựng

dàn ý. Việc làm này sẽ giúp học sinh trình bày bài nói (viết) một cách đầy đủ,

mạch lạc, có lơgic. Khi lập dàn ý, phải sắp xếp được ý chủ đạo và sắp sếp ý theo

một trình tự nhất định.

+ Ứng với giai đoạn hiện thực hố chương trình là kỹ năng nói (viết)

thành bài, bao gồm các kỹ năng bộ phận như: dùng từ, đặt câu, viết đoạn, viết

bài.

+ Ứng với giai đoạn kiểm tra kết quả là nhóm kỹ năng phát hiện lỗi - lỗi

chính tả, lỗi dùng từ, lỗi dựng câu...và kỹ năng chữa lỗi.

* Các nhân tố của hoạt động lời nói và dạy học tập làm văn

Việc chỉ ra các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp có ý nghĩa lớn

trong việc dạy học TLV. Hoạt động nói năng khơng thể có hiệu quả nếu khơng

tính đến những nhân tố này. Đây là những căn cứ để đánh giá chất lượng một

Ngơn bản: Có lựa chọn với vai nói khơng? Có lựa chọn đúng phương tiện

giao tiếp khơng? Có đạt được mục đích giao tiếp khơng…?

Sự hiểu biết về hoạt động lời nói đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được các

đề bài gắn với tình huống giao tiếp, tổ chức các giờ học TLV làm sao để cho học

sinh có nhu cầu giao tiếp.

1.1.2.2. Cơ sở ngơn ngữ học

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các

thành viên trong cộng đồng người, đồng thời cũng là phương tiện để phát triển

tư duy. Khi có ngơn ngữ phong phú thì lời văn khi viết mới hay. Nói cách khác,

muốn viêt đúng, viết hay thì cần phải nói đúng, nói hay. Do vậy, trong q trình

dạy học, GV phải coi ngơn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng trong quá

trình giáo dục trẻ thơ thành con người phát triển toàn diện.



11



Trong giao tiếp, diễn ra hoạt động trau dồi các ngôn bản, sự trau dồi này

bao gồm hai loại hành động luôn gắn bó vào nhau: hành động sản sinh ngơn bản

(bao gồm hành động nói ra hoặc viết ra các nội dung giao tiếp) và hành động

lĩnh hội văn bản tiếp nhận được (bao gồm hành động hiểu ngôn bản, đọc được,

nghe được). Các hành động sản sinh và lĩnh hội ngôn bản đó được coi là hành

động ngơn ngữ.

Ngơn ngữ ở dạng nói là ngơn ngữ của âm thanh nên khả năng truyền cảm

lớn. Điểm khó khăn khi “nói” là phải đáp ứng lập tức, người nói khơng được

chuẩn bị trước, khơng có thời gian suy nghĩ để lập ý, chọn từ. Người nói phải

ứng xử nhanh, sử dụng cú pháp đơn giản hơn khi viết. Ngồi ra, người nói

khơng thể diễn đạt hết ý mà nhờ ngữ cảnh cảnh hoặc những yếu tố ngoài lời để

làm cho người nghe hiểu được.

Lời nói miệng có hai dạng: hội thoại và độc thoại. Vì vậy, các dạng bài tập

luyện nói trong giờ TLV lại sẽ được chia ra: nói trong hội thoại và độc thoại.

Sự phát triển mạnh mẽ của ngữ dụng học trong những năm gần đây đã đặt

hội thoại vào một vị thế mới. Trong những kết quả nghiên cứu về hội thoại có

nhiều ứng dụng thực tế trong dạy học luyện nói. Các quy tắc hội thoại thường

gặp như: quy tắc thương lượng, quy tắc luôn phiên lượt lời, quy tắc tơn trọng,

quy tắc khiêm tốn của người nói, quy tắc cộng tác... Đó trở thành những chỉ dẫn

quan trọng để tổ chức các bài tập hội thoại và trở thành căn cứ để đánh giá HS.

Kỹ năng viết là sản phẩm của q trình học tập. Nó là một phương tiện học tập

và giao tiếp có hiệu quả, năng lực viết chính tỏ trình độ văn hố, văn minh của

từng người.

Trong văn bản, các câu hỏi thường đầy đủ và phức tạp hơn trong khẩu ngữ,

dùng nhiều từ ngữ sách vở hơn, văn bản có khối lượng lớn hơn so với một bài

nói miệng cùng đề tài. Trong khi viết, khơng có sự hỗ trợ của các yếu tố phi

ngơn ngữ như trong khi nói người ta nên phải sử dụng các dấu câu, phân chia

văn bản thành từng đoạn, dùng các kiểu chữ khác nhau. Kỹ năng viết ngày càng

phát triển ở các lớp trên.

1.1.2.3. Cơ sở văn học



12



Các kiến thức về loại thể văn học, đặc biệt là kiến thức về kể chuyện và

miêu tả thực sự cần thiết để dạy hai kiểu bài viết văn bản nghệ thuật: kể chuyện,

miêu tả. Để có thể dạy tốt các bài TLV ở tiểu học, GV cần vận dụng các tri thức

về miêu tả và kể chuyện, trong đó có các hiểu biết về cốt truyện, chi tiết, nhân

vật, về ngôn ngữ, về đề tài, tư tưởng. Các tri thức này góp phần chỉ ra nội dung

luyện tập của các kỹ năng làm văn. Nói cách khác, có các hiểu biết về loại thể

văn học, GV mới hiểu rõ tính đặc thù của từng kỹ năng trong từng kiểu văn. Để

“vẽ được bằng lời”, GV phải dạy HS tìm ý trong bài văn miêu tả bằng cách dạy

quan sát và ghi chép các nhận xét. GV phải hướng dẫn HS biết vận dụng các

giác quan để quan sát, biết lựa chọn vị trí và thời gian quan sát, biết liên tưởng,

tưởng tượng khi nhận xét sự vật và diễn đạt điều quan sát được một cách gợi

cảm, gợi tả, tức là có hình ảnh và cảm xúc.

1.1.3. Mục tiêu và nội dung chương trình Tập làm văn miêu tả lớp 5

1.1.3.1. Mục tiêu

a. Kiến thức

- HS nắm được cấu tạo các dạng văn miêu tả.

- Trang bị kiến thức và rèn luyện các kỹ năng làm văn.

- Góp phần cùng với các môn học khác cung cấp cho HS các kiến thức tổng hợp

về văn hóa, tự nhiên và xã hội.

b. Kỹ năng

- Rèn luyện kỹ năng làm văn làm văn cho HS.

- Rèn kỹ năng quan sát, óc tưởng tượng, tư duy, sáng tạo cho HS.

- Kỹ năng tổng hợp, phân tích các sự vật, sự việc.

c. Thái độ

- Góp phần bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho HS.

- Bồi dưỡng cho HS thêm u thích mơn học.

1.1.3.2. Nội dung chương trình TLV lớp 5

* Chương trình TLV lớp 5 được thiết kế tổng cộng 62 tiết/ năm. Trong đó, văn

miêu tả (gồm tả cảnh, tả người) có 35 tiết (ơn tập cả tả cây cối,con vật,đổ vật ở

lớp 4) được phân bố như sau:



13



14



HỆ THỐNG NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH TLV MIÊU TẢ LỚP 5

(Học kỳ I và học kỳ II)

TUẦN



TÊN BÀI



Tuần 1 1. Cấu tạo của bài văn tả cảnh

2. Luyện tập tả cảnh (một buổi trong ngày)

Tuần 2

Luyện tập tả cảnh (một buổi trong ngày)

Tuần 3

Luyện tập tả cảnh (2 tiết)

Tuần 4 1. Luyện tập về tả cảnh (trường học)

Tuần 5

Tuần 6

Tuần 7

Tuần 8

Tuần 11

Tuần 14

Tuần 15

Tuần 16

Tuần 17

Tuần 19

Tuần 20

Tuần 21

Tuần 24

Tuần 25

Tuần 16

Tuần 27



2. Kiểm tra viết (tả cảnh)

Trả bài văn tả cảnh

Luyện tập tả cảnh (sông nước)

Luyện tập tả cảnh (sông nước – 2 tiết)

Luyện tả cảnh địa phương

Trả bài văn tả cảnh

Luyện tập tả người

Luyện tập tả người (tả hoạt động – 2 tiết)

Kiểm tra viết (tả người)

Trả bài văn tả người

Luyện tập tả người (2 tiết)

Viết bài văn tả người

Trả bài văn tả người

Ôn tập về tả đồ vật (2 tiết)

Viết bài văn tả đồ vật

Trả bài văn tả đồ vật

1. Ôn tập về tả cây cối



2. Viết bài văn tả cây cối

Tuần 29

Trả bài văn tả cây cối

Tuần 30

1. Ôn tập về tả con vật



15



2. Viết bài tả con vật

Ôn tập về tả cảnh (2 tiết)

Trả bài văn tả con vật và viết bài văn tả



Tuần 31

Tuần 32



cảnh

1. Viết bài văn về tả cảnh

Tuần 33 1. Ôn tập về tả người

2. Viết bài văn tả người

Tuần 34 1. Trả bài văn tả cảnh

2. Trả bài văn tả người

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1.



Thực trạng dạy học TLV miêu tả cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học số 1

Phúc Trạch



1.2.1.1. Mục đích khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát về vấn đề dạy và học phân môn TLV dạng văn

miêu tả lớp 5 theo chương trình mới, việc áp dụng phương pháp dạy học theo

định hướng của GV. Từ đó xác định những khó khăn mà GV gặp phải khi dạy

văn miêu tả và các biện pháp khắc phục.

Mặt khác chúng tơi tìm hiểu tâm lý của học sinh lớp 5 và khảo sát thực

trạng học tập để thấy được những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, chúng tơi

đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả cho

học sinh lớp 5

1.2.1.2. Nội dung khảo sát

Đề tài tiến hành khảo sát trên những nội dung sau:

- Tìm hiểu SGK, SGV và các đồ dùng dạy học phân môn TLV dạng văn miêu tả.

- Hoạt động dạy và học văn miêu tả của học sinh lớp 5.

- Thái độ của học sinh khi tham gia học phân môn TLV.

1.2.1.3. Phương pháp khảo sát

- Phương pháp dự giờ trực tiếp.

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh.

- Phương pháp trắc nghiệm.

1.2.1.4. Thời gian và địa bàn khảo sát

- Thời gian tiến hành khảo sát: từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 9 năm

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×