Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

55

Bảng 3.1. Tình hình hộ nghèo của huyện Chƣơng Mỹ

TT



Chỉ tiêu



Năm 2013

Số

Tỷ lệ

lượng

38.563

100



Năm 2014

Số

Tỷ lệ %

lượng

40.110

100



Năm 2015

Số

Tỷ lệ %

lượng

44.052

100



I



Tổng số hộ



1



Hộ giàu



3.007



7,8



4.492



11,2



5..331



12,1



2



Hộ khá



3.818



9,9



6.215



15,5



6.784



15,4



3



Hộ trung bình



22.634



58,7



20.884



52,1



25.652



58,2



4



Hộ cận nghèo



1.379



3,5



1.304



3,3



1.308



3



5



Hộ nghèo



7.725



20,1



7.215



17,9



4.977



11,3



II



Hộ nghèo và cận nghèo theo vùng miền



1



Miền Đáy



a



Hộ nghèo



b



Hộ cận nghèo



2



Miền Văn phòng



a



Hộ nghèo



b



Hộ cận nghèo



3



Miền Bùi



a



Hộ nghèo



b



Hộ cận nghèo



3.850



10,0



3.809



9,5



2.680



6,0



578



1,5



533



1,3



534



1,2



1.825



4,7



1.894



4,7



1.078



2,4



387



1,0



367



0,9



368



0,8



2.050



5,3



1.512



3,8



1.019



2,3



412



1,0



402



1,0



406



0,9



(Nguồn: Phòng Lao động-TBXH huyện Chương Mỹ)

Cơ cấu các hộ nghèo tại ba vùng của Chƣơng Mỹ cho thấy, vùng miền

Bùi và miền Đáy có tỷ lệ hộ nghèo cao, đây là hai vùng có điều kiện canh tác

khó khăn. Vùng miền Bùi, sản xuất nông nghiệp bị hạn chế bởi lƣợng nƣớc

tƣới cho cây trồng, vùng ven sông là vùng đất trũng hoa màu hay bị ngập lụt

gây mất mùa, không những vậy hai vùng này giao thơng đi lại khó khăn, xa

trung tâm nên việc giao lƣu hàng hố kém, trình độ dân trí khơng cao. Vì vậy,



56

vùng miền Bùi hiện tại có tới 1.019 hộ nghèo, chiếm 15,5% số hộ trong vùng,

và chiếm 21% số hộ nghèo của huyện. Vùng ven sơng Đáy có 2.680 hộ nghèo

chiếm 15% số hộ trong vùng, và chiếm tới 52% số hộ nghèo của huyện. Miền

văn phòng là vùng có giao thơng, thuỷ lợi dễ dàng, thuận lợi cho nên số hộ

nghèo chỉ chiếm 11,2%.

Qua cơ cấu các hộ nghèo tại ba vùng của huyện Chƣơng Mỹ, Ban giảm

nghèo của huyện đã kịp thời tham mƣu cho huyện uỷ, UBND huyện có kế

hoạch và giải pháp cụ thể, thiết thực, tập trung nhằm xoá dần khoảng cách

giàu nghèo giữa ba vùng sinh thái của huyện, hơn nữa tỷ lệ hộ cận nghèo vẫn

còn cao. Do vậy, bên cạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế thì cần tạo việc làm nâng

cao thu nhập và hỗ trợ các hộ nghèo phát triển kinh tế theo hƣớng bền vững

để độ che phủ của những chƣơng trình giảm nghèo trên địa bàn huyện phát

huy hiệu quả.

Mức độ nghèo theo tình trạng thu nhập tính bình qn đầu ngƣời của các

hộ trong nhóm hộ nghèo đƣợc nêu trên bảng 3.2

Bảng 3.2. Tình hình thu nhập của nhóm hộ nghèo

TT



Mức thu nh p

đ người tháng)



Số hộ



Tỷ lệ %



1



Dƣới 200.000đ



1.710



24,5



2



Từ 200.000đ - 300.000 đ



2.235



44,9



3



Từ 300.000đ - 400.000đ



1.025



20,6



( Nguồn: Phòng Lao động -TBXH huyện Chương Mỹ)

Nhƣ vậy, các hộ có thu nhập từ 300.000 đồng đến 400.000đ/ngƣời/tháng

có cơ hội thốt nghèo chiếm tỷ lệ không lớn, để giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo

huyện cần có những chính sách mạnh dạn, đầu tƣ hợp lý mới mong có khả

năng thu đƣợc hiệu quả cao trong công tác giảm nghèo.



57

3.1.2. Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo tại các hộ gia đình được nghiên cứu

Tổng hợp kết quả khảo sát về nguyên nhân dẫn đế tình trạng nghèo đói

tại 120 hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo trên địa bàn 3 xã đƣợc chọn nghiên

cứu điển hình tại huyện Chƣơng Mỹ cho kết quả nhƣ trên hình 3.1



9,17

Thiếu vốn cho sản xuất



11,67

39,17



Thiếu kiến thức SXKD

Có nhiều con và người phụ thuộc

Thiếu việc làm



15,00



Có người bị tế nạn xã hội



13,33

20,83



Nguyên nhân khác (ốm đau, tai

nạn...)



Hình 3.1. Tỷ lệ các nguyên nhân đói nghèo của hộ điều tra

Các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo có thể đƣợc chia thành 2 nhóm

ngun nhân chính nhƣ sau:

3.1.2.1. Các ngun nhân khách quan

Qua kết quả điều tra tại các hộ gia đình đƣợc nghiên cứu, đói nghèo tập

trung tại các gia đình có điều kiện kinh tế và cơ sở hạ tầng yếu kém. Trình độ

dân trí chƣa cao, nguồn vốn tự có trong gia đình để phát triển sản xuất còn ít,

nơng dân còn chƣa thích ứng với phát triển sản xuất hàng hoá gắn với cơ chế

thị trƣờng, thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính, phát triển

cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp, du lịch, dịch vụ chậm. Do có điểm xuất

phát thấp nên khi bƣớc vào nền kinh tế thị trƣờng nhân dân gặp khơng ít khó

khăn trong sản xuất kinh doanh.



58

Xây dựng nông thôn mới là bƣớc đột phá giúp giảm nghèo một cách

bền vững tại các huyện ngoại thành Hà Nội. Chính sách dồn điền đổi thửa

giúp đất đat đƣợc tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất nơng

nghiệp. Bên cạnh những lợi ích lớn lao mà chính sách mang lại thì vẫn tồn tại

những hạn chế nhất định đặc biệt là vốn sản xuất.

3.1.2.2. Các nguyên nhân chủ quan

Trình độ dân trí chƣa cao nên việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ

thuật vào sản xuất bị hạn chế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật ni theo

hƣớng sản xuất hàng hố gắn với cơ chế thị trƣờng diễn ra chậm và không

bền vững. Nƣớc ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh tốc độ CNH – HĐH vì thế

đòi hỏi ngƣời lao động phải có trình độ học vấn nhất định sao cho đáp ứng

đƣợc yêu cầu trình độ tay nghề của nền kinh tế thị trƣờng.

Bởi trong một xã hội dù với trình độ phát triển khác nhau thì nguồn lao

động vẫn là yếu tố quan trọng và cơ bản nhất quyết định của mọi quá trình phát

triển kinh tế xã hội. Trình độ học vấn là chìa khóa để tiếp cận tri thức khoa học

và cơng nghệ. Trình độ học vấn càng cao giúp cho bản thân ngƣời lao động càng

dề tiếp thu kỹ thuật sản xuất, công nghệ hiện đại. Nhất là khi nền kinh tế thế giới

hiện nay là một nền kinh tế tri thức thì càng đòi hỏi ngƣời lao động khơng chỉ

thạo tay nghề mà còn phải có trình độ học vấn cao. Vì vậy khơng có kiến thức về

tự nhiên và xã hội thì một mặt họ sẽ bị cản trở trong việc tiếp nhận các tiến bộ

KHKT, các loại thiết bị máy móc cơng nghệ mới trong lĩnh vực nơng nghiệp,

mặt khác sự hòa nhập xã hội của họ cũng bị hạn chế.

Trong hoạt động sống và làm việc trình độ lao động khơng ngừng đƣợc

cải thiện, việc các thành viên trong gia đình có sự tiến bộ trong tƣ tƣởng và cách

làm việc sẽ tạo điều kiện cho các thành viên khác có cơ hội tiếp cận với trình độ

mới. Việc nâng cao trình độ khơng những có ý nghĩa cho bản thân mà còn là cơ

sở cho việc giáo dục con cái tốt và làm kinh tế HGĐ có nhiều khởi sắc.



59

Qua kết quả điều tra về trình độ học vấn của tại 3 điểm nghiên cứu đƣợc

tổng hợp trên bảng 3.4.

Bảng 3.4: Trình độ học vấn của ngƣời lao động

Chỉ tiêu

Không biết chữ

Tiểu học

Trung học cơ sở

Trung học phổ thông

TCCN, CĐ

ĐH, trên ĐH

Tổng



Thƣợng Vực



Tiên Phƣơng



Số

lượng



Số

lượng



5

8

9

13

3

2

40



%



Tân Tiến

Số

lượng



%



%



12,5

2

5,0

3

7,5

20,0

4

10,0

2

5,0

22,5

8

20,0

10

25,0

32,5

19

47,5

15

37,5

7,5

6

15,0

10

25,0

5,0

1

2,5

100

40

100

40

100

(Nguồn: Xử lý kết quả điều tra của đề tài)



Qua bảng số liệu ta thấy rằng hầu hết ngƣời lao động nơng thơn có học

vấn, tuy nhiên ở trình độ khá thấp chủ yếu tập trung ở mức THPT; Ở trình độ

cao đẳng, đại học tỉ lệ rất thấp, đặc biệt tại xã Tân Tiến là 0%.

Hiện tƣợng “nữ làm – nam học” đã rất phổ biến trong cộng đồng nông

thôn từ xƣa tới nay. Trong việc tiếp cận các kênh thơng tin khoa học kỹ thuật

thì nam giới thƣờng đi học còn phụ nữ thƣờng đảm nhận các cơng việc đồng

áng điều này đã ảnh hƣởng ít nhiều tới hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản

xuất của hộ gia đình.

Bảng 3.5: Tỷ lệ nam, nữ tham gia các lớp tập huấn KHCN

Thƣợng Vực

Giới tính



Tiên Phƣơng



Tân Tiến



số hộ



Tỷ lệ



Số hộ



Tỷ lệ



số hộ



Tỷ lệ



Nam



29



72,5



24



60,0



35



87,5



Nữ



11



27,5



16



40,0



5



12,5



(Nguồn: xử lý kết quả điều tra của đề tài)



60

Kết quả khảo sát đã cho thấy nữ tham gia các lớp tập huấn có tỉ lệ thấp

hơn nam giới, thấp nhất tại xã Tân Tiến (12,5%) và cao nhất tại xã Tiên

Phƣơng (40%). Kết quả này một lần nữa khẳng định rằng phụ nữ ít có cơ hội

để nâng cao hiểu biết và mở rộng mối quan hệ xã hội hơn so với nam giới ở

địa bàn nghiên cứu. Điều này càng làm tăng thêm khoảng cách về nhận thức,

hiểu biết xã hội giữa nam và nữ và làm cho việc thoát nghèo bị chậm hơn khi

mà lực lƣợng lao động chính trong nơng nghiệp lại mơ hồ về các kiến thức

chăm sóc cây, con.

Nguyên nhân tiếp theo phải kể đến đó chính là thiếu vốn sản xuất, gia

đình đơng con, thiếu việc làm cần hỗ trợ nghề, các tệ nạn xã hội.

Những nguyên nhân kể trên đã và đang tác động tới tình hình nghèo tại

huyện Chƣơng Mỹ. Trong đó nguyên nhân đầu tiên phải kể đến đó chính là

thiếu vốn sản xuất (39,0%). Tác động của tình trạng thiếu vốn, thiếu hoặc

khơng có ruộng đất canh tác để phát triển sản xuất kinh doanh. Vốn là yếu tố

không thể thiếu trong sản xuất trong khi đó thì đối với hộ nghèo lại khơng có

vốn để đầu tƣ sản xuất, họ làm việc với những công cụ thô sơ kém hiệu quả,

không thể mua những cây giống cũng nhƣ con giống có chất lƣợng cao dẫn đến

năng xuất thấp mà lại bỏ ra nhiều sức lao động. Chính vì vậy, muốn họ thốt

khỏi cảnh nghèo đói thì cần phải có những chính sách hỗ trợ cho họ về vốn sản

xuất cũng nhƣ tƣ liệu sản xuất. Thực tế tại Chƣơng Mỹ thiếu vốn sản xuất

chiếm 39,0%. Để phát triển sản xuất trong điều kiện tín dụng ngân hàng ở nơng

thơn chƣa phát triển, nhiều hộ phải đi vay nặng lãi, thậm chí phải bán lúa non

để có tiền th cơng làm việc, mua vật tƣ thiết bị để phục vụ sản xuất, kinh

doanh dẫn đến khi có sản phẩm họ vẫn khó có lãi vì phải trả lãi suất vay cao.

Ảnh hƣởng của tình trạng thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật (20,5%)

phƣơng thức tổ chức sản xuất, khơng có việc làm ổn định. Ngƣời nghèo thƣờng

hạn chế về điều kiện học tập, vì vậy thiếu kiến thức là hiện tƣợng phổ biến. Kinh



61

nghiệm sản xuất của họ là những kinh nghiệm từ xƣa do tiền nhân để lại mà giờ

đây sự phù hợp của nó khơng còn nhƣ xa xƣa nữa, chính vì vậy mà năng xuất

sản xuất thấp, cộng với sự thiếu vốn về cơng cụ lao động, giống, phân bón cũng

nhƣ vốn sản xuất do vậy đã nghèo lại khó thốt khỏi nghèo.

Hộ nghèo do lao động khơng có việc làm ổn định chiếm khoảng 13%,

chủ yếu là những nông dân khơng có ruộng đất. Họ đƣợc mƣớn đi làm th

nhƣ làm cỏ, cấy lúa, làm đất... đến mùa thu hoạch họ đƣợc thuê đi thu hoặc,

thời gian làm việc của họ theo mùa vụ vì vậy những thời gian còn lại trong

năm họ đi làm thuê theo sự việc (nhƣ làm thợ phu hồ, trở vật liệu xây dựng

thuê...), thu nhập rất thấp, vì vậy đời sống của những hộ này rất khó khăn, khó

thốt nghèo.

Về đói nghèo do có ngƣời mắc tệ nạn xã hội thì ở đây mắc tệ nạn xã hội

chủ yếu đề cặp tới vấn đề thành viên trong gia đình đó có ngƣời bị mắc

nghiện hút, cờ bạc, riệu chè... Với những hộ gia đình bình thƣờng có khi còn

là hộ khá giả có ngƣời mắc tệ nạn xã hội còn dẫn đến tình trạng nghèo đói thì

tại những hộ nghèo có ngƣời mắc tệ nạn xã hội thì khó có thể thốt nghèo mà

còn ngày càng nghèo thêm. Theo kết quả điều tra cho thấy hộ nghèo có ngƣời

mắc tệ nạn xã hội chiếm 11,6%.

Gia đình đơng con, theo số liệu điều tra cho thấy có 12,0% số hộ nghèo

do gia đình đơng con, tập trung nhiều ở xã Tân Tiến. Các hộ có nhiều con

thƣờng là các hộ có ít lao động do con cái đang ở tuổi học hành. Do có ít lao

động vì vậy thu nhập của các hộ này thấp trong khi các nhu cầu chi têu cho

con cái ăn, mặc, học hành và các chi phí sinh hoạt khác là rất lớn vì vậy việc

đầu tƣ vốn cho sản xuất phải dành cho nhu cầu chi tiêu trong gia đình và hệ

quả tất yếu là sản xuất, kinh doanh không hiệu quả và họ trở nên nghèo.

Bất cập trong chính sách của Nhà nƣớc đối với nơng nghiệp, nơng thôn.

Đây là yếu quan quan trọng, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nghèo, có



62

phạm vi ảnh hƣởng rộng. Chính sách Nhà nƣớc phù hợp sẽ là yếu tố quyết

định đến việc giảm nghèo một cách bền vững. Thực tế cho thấy, ngay sau khi

đổi mới, Đảng, Nhà nƣớc đã đặc biệt quan tâm đến cơng tác xố đói, giảm

nghèo để phát triển đất nƣớc theo hƣớng bền vững. Các chủ trƣơng chính sách

về xố đói giảm nghèo ban hành hợp với lòng dân và xu hƣớng phát triển, vì

vậy tỷ lệ hộ nghèo đã giảm dần qua từng năm. Tuy nhiên đối với các bộ phận

dân nghèo, họ vẫn cần Nhà nƣớc có những chính sách cụ thể hơn nữa cả về

quản lý, trợ giúp về các mặt kinh tế, xã hội. Việc triển khai các chƣơng trình,

dự án phát triển nơng nghiệp, nơng thơn còn chậm. Nhƣ chính sách về thuế,

chính sách về quản lý giá các nơng thuỷ sản. Những hộ nghèo vẫn chƣa có

chính sách miễn giảm thuế nhƣ các hộ khác. Bên cạnh đó, khi họ làm ra sản

phẩm do Nhà nƣớc chƣa có chính sách quản lý phù hợp nên sản phẩm của

nơng dân làm ra nhiều khi bị tƣ thƣơng ép giá dẫn đến khơng có lợi nhận khi

đầu tƣ sản xuất "được mùa mất giá". Bên cạnh đó, khả năng đáp ứng phúc lợi

xã hội của Nhà nƣớc còn thấp. Trong khi đó phúc lợi xã hội đóng vai trò quan

trọng đối với ngƣời nghèo, là động lực ban đầu giúp ngƣời nghèo có cơ hội và

khả năng phát triển để vƣơn lên thốt nghèo.

Ngồi những ngun nhân kể trên, qua thực tế có thể kể đến những yếu

tố khác gây nghèo đói nhƣ do tàn tật, lƣời lao động, rủi do trong sản xuất kinh

doanh... tuy nhiên tỷ lệ số hộ nghèo do các nguyên nhân này tại các điểm

nghiên cứu là khơng lớn.

Nhƣ vậy, khi các hộ nghèo đói khơng có vốn, kiến thức, kinh nghiệm

sản xuất, họ có mặc cảm với xã hội, chán nản gây ra tình trạng khơng muốn

lao động hay có thể nói là lƣời lao động, họ khơng còn muốn cố gắng vƣơn

lên để thốt khỏi cảnh nghèo khổ. Để khắc phục tình trạng đó, cán bộ làm

cơng tác xố đói giảm nghèo của các cấp cần cố gắng động viên, khuyến

khích mở nhiều cuộc vận động cũng nhƣ kịp thời nêu gƣơng, nhân rộng



63

những gia đình vƣợt khó khăn thốt nghèo; tạo điều kiện cho các hộ gia đình

nghèo tham gia tập huấn khoa học kỹ thuật, ứng dụng những tiến bộ khoa học

kỹ thuật về giống mới cũng nhƣ các phƣơng pháp sản xuất mới hiệu quả, cho

họ vay vốn và trực tiếp hƣớng dẫn cách sử dụng vốn có hiệu quả.

Hộ nghèo tại Chƣơng Mỹ nói chung thƣờng do các tác động bởi một

nhóm hoặc nhiều nguyên nhân trên đây gây ra. Thực tế dẫn đến nghèo đều có

các nguyên nhân đan xen và tác động lẫn nhau. Vì vậy để thực hiện tốt cơng

tác xố đói giảm nghèo trên địa bàn huyện cần xem xét giải quyết đồng bộ các

nguyên nhân cho phù hợp với từng hộ gia đình, từng xã.

3.2. Kết quả thực hiện các chƣơng trình và giải pháp giảm nghèo trên

địa bàn huyện Chƣơng Mỹ

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố, Nghị

quyết của Ban chấp hành Huyện uỷ, HĐND huyện về việc thực hiện giảm cơ

bản hộ nghèo trong giai đoạn các năm 2013 – 2015, UBND huyện Chƣơng

Mỹ đã xây dựng chƣơng trình Giảm nghèo số 08/CT-UBND ngày 16/3/2013,

đây là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách và hết sức khó khăn cần đƣợc các cấp,

các ngành từ thành phố đến các thôn tập trung dồn sức quan tâm giải quyết

một cách có hiệu quả.

3.2.1. Quan điểm và chủ trương của các cấp bộ Đảng và Chính quyền

Sự phân hố giàu nghèo gây bất bình trong xã hội, gây nên mơi trƣờng

sinh thái bị huỷ hoại, gây mất ổn định về chính trị – xã hội. Nghị quyết Đại

hội tồn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X của Đảng chỉ rõ: Cùng với quá trình đổi

mới, tăng trƣởng kinh tế phải tiến hành cơng tác xố đói giảm nghèo, thực

hiện cơng bằng xã hội, tránh sự phân hoá giàu nghèo quá giới hạn cho phép.

Nghị quyết Trung ƣơng 5 (khóa VII) của Đảng nêu rõ: phải trợ giúp ngƣời

nghèo bằng cách cho vay vốn, hƣớng dẫn cách làm ăn, tranh thủ nguồn tài trợ

trong nƣớc và Quốc tế, phấn đấu tăng nhanh các hơi giàu đi đơi với xố đói



64

giảm nghèo. Nghị quyết 15 – NQ/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị

(khoá VIII) về phƣơng hƣớng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô giai đoạn 2001 –

2010 là “Thủ đô phải đi đầu trong cơng nghiệp hố - hiện đại hố nơng nghiệp

nông thôn”.

Tại thành phố Hà Nội, các quan điểm, chủ trƣơng, chính sách về phát

triển kinh tế – xã hội, xố đói giảm nghèo đối với các huyện ngoại thành Hà

Nội đƣợc ghi trong các Nghị quyết Đại hội Đảng Thành phố, Nghị quyết

Đảng bộ Thành phố và các Chƣơng trình của Thành uỷ, cụ thể nhƣ:

- Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, XIV Đảng bộ Thành phố Hà Nội

khẳng định: Tiếp tục đẩy mạnh cơng nghiệp hố - hiện đại hố, chú trọng khu

vực nơng nghiệp – nơng thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hƣớng dịch

vụ – công nghiệp – nông nghiệp, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của kinh

tế Thủ đô”. Phát triển kinh tế ngoại thành Hà Nội và từng bƣớc hiện đại hố

nơng thơn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng bộ, các cấp các

ngành Thủ đô.

- Thành uỷ Hà Nội ban hành Chƣơng trình số 06/CT – TU về phát triển

kinh tế ngoại thành Hà Nội và xây dựng nơng thơn mới. Trong chƣơng trình,

Thành uỷ đã đƣa ra các chỉ tiêu và nhiều giải pháp chỉ đạo, triển khai công tác

giảm nghèo tại khu vực ngoại thành Hà Nội.

- Nghị quyết số 16/NQ-TƢ ngày 21/5/2005 của Ban Thƣờng vụ Thành

uỷ Hà Nội về việc phát triển kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn.

Kể từ sau ngày điều chỉnh địa giới hành chính 01/08/2008, cơng tác

giảm nghèo trên địa bàn Thành phố tiếp tục đƣợc quan tâm. Ngày 31 tháng 10

năm 2008 Thành ủy đã xây dựng và triển khai thực hiện Chƣơng trình hành

động số 02-CTr/TU của Thành ủy về “Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) về nơng

nghiệp, nơng dân, nơng thơn”.



65

3.2.2. Những cơ chế, chính sách cụ thể của Chương Mỹ về giảm nghèo.

Cơng tác triển khai, qn triệt thực hiện Chƣơng trình: thực hiện Nghị

quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính Phủ về định hƣớng giảm

nghèo bền vững thời kỳ 2011 – 2020 và Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày

08/10/2012 của Thủ tƣớng Chính Phủ về việc phê duyệt chuong trình mục

tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 – 2015 đã đƣợc cụ thể hóa

bằng các văn bản nghị quyết và quyết định của Thành phố Hà Nội và huyện

Chƣơng Mỹ nhƣ sau:

- Quyết định số 01/2011/QĐ-UBND ngày 10/1/2011 của UBND

Thành phố Hà Nội về việc ban hành chuẩn nghèo, cận nghèo của Thành phố

Hà Nội giai đoạn 2011 – 2015;

- Kế hoạch số 24/KH-UBND ngày 28/01/2011 của BND Thành phố Hà

Nội về thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2011

– 2015;

- Kế hoạch số 156 KH-UBND ngày 29/11/2012 của UBND Thành phố

Hà Nội về thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững

trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2013 – 2015.

- Huyện Chƣơng Mỹ đã triển khai nhiều Nghị quyết, chƣơng trình của

Thành ủy Hà Nội để tổ chức thực hiện nhƣ Nghị quyết số 19/2011/NQ-HĐ

ngày 18 tháng 7 năm 2011 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011

- 2015 của Thủ đô nêu rõ: giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc về xã

hội. Bình quân hàng năm tạo việc làm mới cho 06 vạn lao động. Phát triển hệ

thống bảo hiểm xã hội, các quỹ trợ giúp xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu

chuẩn mới) xuống còn 4 - 5%;

- Công tác tuyên truyền, phổ biến về chƣơngs trình đƣợc huyện thƣờng

xuyên quan tâm, UBND huyện thƣờng xuyên chỉ đạo Đài truyền thanh huyện,

các ban, ngành, đoàn thể, các xã, thị trấn thực hiện tót cơng tác tuyên truyền,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×