Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Bệnh tật và sức khỏe yếu kém:

- Bệnh tật và sức khỏe yếu kém:

Tải bản đầy đủ - 0trang

13

Trong khi đó, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ phòng bệnh nhƣ nƣớc sạch,

chƣơng trình y tế… của ngƣời nghèo còn hạn chế càng làm tăng khả năng bị

mắc bệnh của họ.

1.1.2. Giảm nghèo, xóa đói giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

1.1.2.1. Giảm nghèo

Giảm nghèo là làm cho một bộ phận dân cƣ nghèo nâng cao thu nhập,

nâng cao mức sống, từng bƣớc thốt khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ

phần trăm và số lƣợng ngƣời nghèo giảm xuống theo thời gian.

Nói một cách khác, giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận

dân cƣ nghèo lên một mức sống cao hơn.

Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện

lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn để cải thiện đời sống

mọi mặt của mỗi ngƣời.

Ở góc độ ngƣời nghèo, giảm nghèo là quá trình tác động tạo điều kiện

của cộng đồng xã hội, giúp đỡ ngƣời nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn

lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó có nhiều lựa chọn

hơn, giúp họ từng bƣớc thốt khỏi tình trạng nghèo đói.

Ở góc độ vùng nghèo: giảm nghèo là quá trình thúc đầy phát triển kinh

tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản xuất

mới cao hơn.

*Ý nghĩa của giảm nghèo ảnh hưởng đến đến phát triển kinh tế- xã hội:

Qua nghiên cứu thực tế và tổng kết các cơng trình nghiên cứu của các tác

giả về giảm nghèo, chúng ta thấy đói nghèo là một lực cản trên con đƣờng

phát triển kinh tế của mỗi vùng cũng nhƣ của các quốc gia. Trên góc độ cá

nhân và gia đình thì tình trạng nghèo đói tạo thành một vòng luẩn quẩn là:

nghèo đói, trình độ văn hóa thấp



thu nhập thấp



ăn uống không đầy đủ



14

sức khỏe kém



năng suất lao động thấp



mƣợn, nợ nần chồng chất



làm không đủ ăn



vay



nghèo đói; cứ quấn lấy ngƣời nghèo mà họ



khơng biết phá vỡ mắt xích nào để thốt ra đƣợc.

Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện cho bộ phận dân cƣ nghèo tiếp cận

với các nguồn lực cần thiết để họ tự nâng cao mức sống, từng bƣớc thốt khỏi

tình trạng nghèo. Kết quả giảm nghèo biểu hiện ở sự giảm xuống về số lƣợng

ngƣời nghèo hoặc sự giảm xuống của tỷ lệ phần trăm số hộ nghèo trong tổng

số hộ, thể hiện mức sống chung của toàn bộ cộng đồng đƣợc nâng lên. Nói

cách khác, giảm nghèo là q trình chuyển một bộ phận dân cƣ nghèo lên

mức sống cao hơn hay thoát nghèo nhờ sự hỗ trợ của Nhà nƣớc, cộng đồng và

sự nỗ lực vƣơn lên của bản thân các hộ nghèo [8].

1.1.2.2. Xóa đói giảm nghèo

Xóa đói là làm cho bộ phận dân cƣ đói nâng cao thu nhập, nâng cao

mức sống từ đó mà vƣợt qua tiêu chí đói. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số

lƣợng ngƣời đói giảm xuống bằng khơng trong một thời gian nhất định.

Giảm nghèo là làm cho một bộ phận dân cƣ nghèo nâng cao thu nhập,

nâng cao mức sống, từng bƣớc thốt khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ

phần trăm và số lƣợng ngƣời nghèo giảm xuống theo thời gian.

Nhƣ vậy, có thể hiểu, xóa đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp,

chính sách của Nhà nƣớc và xã hội hay là của chính những đối tƣợng thuộc

diện đói nghèo nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thốt khỏi tình

trạng thu nhập không đáp ứng đƣợc những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn

nghèo đƣợc quy định theo từng địa phƣơng, khu vực, quốc gia.

Xóa đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng xã hội và tăng

trƣởng bền vững. Hiện nay nƣớc ta đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành

phần vận hành theo cơ chế thị trƣờng, có sự quản lý của nhà nƣớc và định

hƣớng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc phân hố giàu – nghèo ngày càng rõ nét.



15

Quan tâm bảo vệ lợi ích ngƣời lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp

pháp, vừa coi trọng xố đói, giảm nghèo từng bƣớc thực hiện công bằng xã

hội là yêu cầu khách quan đặt ra đối với nƣớc ta trên con đƣờng công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Mặt khác, việc đẩy mạnh cuộc vận động xóa đói,

giảm nghèo ở nƣớc ta còn xuất phát từ u cầu cơ bản và tồn diện của sự

nghiệp đổi mới theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.

Muốn thể hiện tính ƣu việt của Chủ nghĩa xã hội, đảm bảo vật chất, tinh

thần cho mọi ngƣời lao động, từ đó củng cố lòng tin của nhân dân trong việc

lựa chọn con đƣờng xã hội chủ nghĩa, thì một trong những vấn đề phải giải

quyết là xóa đói, giảm nghèo, khơng ngừng chăm lo tới đời sống vật chất và

tinh thần của nhân dân.

Nhìn về góc độ kinh tế, xóa đói giảm nghèo là một trong những mục

tiêu của tăng trƣởng (cả trên góc độ xã hội và kinh tế), đồng thời cũng là một

điều kiện (tiền đề) cho tăng trƣởng nhanh và bền vững. Trên phƣơng diện nào

đó, xét về ngắn hạn, khi phân phối một phần đáng kể trong thu nhập xã hội

cho chƣơng trình xóa đói giảm nghèo thì nguồn lực dành cho tăng trƣởng

kinh tế có thể bị ảnh hƣởng, song xét một cách tồn diện về dài hạn thì kết

quả xóa đói giảm nghèo lại tạo tiền đề cho tăng trƣởng nhanh và bền vững.

Nhìn về góc độ xã hội, đói nghèo sẽ dẫn đến những sức ép căng thẳng

về xã hội dễ dẫn đến lệ thuộc kinh tế vào các nƣớc giàu. Từ kinh tế dẫn đến

xâm nhập văn hoá, hệ tƣ tƣởng và chính trị. Thực tế cho thấy, trong điều kiện

hội nhập quốc tế, quốc gia có thể giữ vững chế độ chính trị, độc lập tự do khi

có tiềm lực kinh tế mạnh.

Xóa đói, giảm nghèo khơng đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một

cách thụ động mà phải tạo ra động lực tăng trƣởng tại chỗ, chủ động tự vƣơn

lên thốt nghèo. Xóa đói giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một

chiều của tăng trƣởng kinh tế đối với các đối tƣợng có nhiều khó khăn mà còn



16

là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tƣơng đối đồng đều cho phát triển,

tạo thêm một lực lƣợng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định cho giai đoạn

“cất cánh”. Đảng và Nhà nƣớc ta từ nhiều năm nay đã có những chủ trƣơng,

chính sách đẩy mạnh cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo, coi đó là trách

nhiệm của tồn Đảng, tồn xã hội. Xóa đói giảm nghèo khơng chỉ là cơng

việc trƣớc mắt mà còn là nhiệm vụ lâu dài. Trƣớc mắt là xóa hộ đói, giảm hộ

nghèo; lâu dài là xóa sự nghèo, giảm khoảng cách giàu nghèo, phấn đấu xây

dựng một xã hội giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Q trình đơ thị hóa có tác động hai mặt tới đói nghèo. Bên cạnh những

tác động tích cực thì nguy cơ xuất hiện những tác động tiêu cực là rất lớn, làm

cản trở việc thực hiện mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân

trong q trình đơ thị hóa. Bên cạnh những bộ phận dân cƣ có thể nhanh

chóng ổn định cuộc sống cũng nhƣ hoạt động kinh doanh, mộ bộ phân dân cƣ

không nhỏ chịu tác động tiêu cực của đơ thị hóa cần đƣợc quan tâm giúp đỡ

để khơng rời vào tình trạng đói nghèo hoặc tái nghèo. Giảm nghèo trong q

trình đơ thị hóa là vấn đề cần thiết, có vai trò đảm bảo ổn định kinh tế, chính

trị, xã hội, có ý nghĩa to lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng

đang thực hiện đô thị hóa nói riêng và cả xã hội nói chung.

Xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội là một trong những chính sách

thuộc hệ thống An sinh xã hội., cùng với các chính sách khác nhƣ: Bảo hiểm

y tế, Cứu trợ xã hội, Ƣu đãi xã hội,.. Xóa đói giảm nghèo đã góp phần tạo ra

một hệ thống các tấm lƣới bảo vệ cho các thành viên xã hội, đảm bảo cho An

sinh xã hội phát triển bền vững và lâu dài [8].

1.1.2.3. Giảm nghèo bền vững

Nghèo bền vững khái niệm để chỉ mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo,

khả năng tái nghèo hàng năm cao, mức độ chênh lệch giàu nghèo giữa các

vùng, nhóm dân cƣ lớn.



17

Giảm nghèo bền vững là làm cho bộ phận dân cƣ cải thiện và từng

bƣớc nâng cao điều kiện sống của ngƣời nghèo, trƣớc hết là ở khu vực miền

núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở

các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn,

giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cƣ.

Nhóm đối tƣợng giảm nghèo bền vững hƣớng tới là: Ngƣời nghèo, hộ

nghèo trên phạm vi cả nƣớc; ƣu tiên ngƣời nghèo là ngƣời dân tộc thiểu số,

ngƣời cao tuổi, ngƣời khuyết tật, phụ nữ và trẻ em

Trên địa bàn chủ yếu gồm: Huyện nghèo; Xã nghèo, bao gồm: Xã đặc

biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi; Xã đặc biệt khó khăn vùng

bãi ngang ven biển và hải đảo; Xã biên giới và xã an tồn khu và Thơn, bản

đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi.

Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo, không thể chỉ đánh

giá dựa trên số lƣợng ngƣời nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm

xuống mà phải căn cứ trên nhiều tiêu chí khác. Một số tiêu chí nhƣ sau:

- Thu nhập thực tế của ngƣời nghèo, hộ nghèo đƣợc cải thiện, vƣợt qua

đƣợc chuẩn nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo về thu nhập nếu gặp rủi

ro hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo.

- Đƣợc tạo cơ hội và có khả năng tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực sản

xuất đƣợc xã hội tạo ra, các dịch vụ hỗ trợ ngƣời nghèo và đƣợc quyền tham

gia và có tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển

kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và địa phƣơng.

- Đƣợc trang bị một số điều kiện tối thiểu để có khả năng tránh đƣợc

tình trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan nhƣ thiên tai, lũ lụt,

dịch bệnh… hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo.

- Đƣợc đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục dạy nghề và chăm sóc

sức khoẻ để về lâu dài, ngƣời nghèo, ngƣời mới thốt nghèo và con em họ có



18

đƣợc kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn định

trong cuộc sống.

Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lƣợc phát triển kinh

tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.

Các chuyên gia của LHQ cho rằng, Việt Nam cần xây dựng một hệ

thống ASXH bao trùm, phổ quát. Mọi ngƣời dân đều có thể đóng góp và

hƣởng lợi từ hệ thống ASXH ấy. Ông Pincuss chuyên gia kinh tế cấp cao

cũng phân tích thêm, “dù muốn tăng mức sống của ngƣời nghèo, thì cũng

khơng đồng nghĩa với việc loại ngƣời có mức thu nhập ở tầm trung và cao ra

khỏi mối quan tâm. Nếu chỉ là hệ thống ASXH cho ngƣời nghèo, hệ thống sẽ

giống nhƣ chƣơng trình giúp ngƣời nghèo. Nếu nhƣ vậy, sẽ không nhận đƣợc

sự hỗ trợ của các lực lƣợng khác trong xã hội. Hệ thống ASXH vì thế khơng

thể tồn tại về lâu dài”.

Mặc dù Bảo hiểm xã hội là một chính sách An sinh xã hội lớn, nhƣng

thực tế cho thấy đối tƣợng đƣợc hƣởng lợi từ Bảo hiểm xã hội chủ yếu là

tầng lớp dân cƣ có thu nhập bậc trung chứ khơng phải ngƣời nghèo. Còn

chính sách Cứu trợ xã hội mặc dù ngƣời nghèo là một trong các diện đƣợc

hƣởng nhiều, nhƣng các trợ cấp này(trừ một số trợ cấp dài hạn) thƣờng có

tính tức thì, ngắn hạn vì vậy xóa đói giảm nghèo đƣợc coi là giải pháp lâu dài

và bền vững, giúp ngƣời nghèo thoát nghèo, tự đảm bảo cho cuộc sống của

mình, góp phần tạo mạng lƣới An sinh xã hội toàn diện cho mỗi quốc gia.

Số ngƣời thuộc diện nghèo đói ngày nay chủ yếu thuộc các nƣớc đang

phát triển và chậm phát triển. Mục tiêu xóa đói giảm nghèo không chỉ dừng

lại ở phạm vi một quốc gia mà nó còn mở rộng ra trên phạm vi tồn thế giới.

Rất nhiều nƣớc ban hành chính sách xóa đói giảm nghèo. Sự liên kết và hỗ

trợ lẫn nhau giữa các tổ chức, quốc gia trên thế giới làm cho các chính sách



19

Xóa đói giảm nghèo nói riêng và hệ thống An sinh xã hội nói chung ngày

càng bền vững [8].

1.1.3. Các chính sách của nhà nước về giảm nghèo bền vững

1.1.3.1. Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung

a) Hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời

nghèo:

- Tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn

với việc hƣớng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, khuyến công và chuyển giao

kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng

ƣu đãi đối với hộ nghèo, nhất là hộ có ngƣời khuyết tật, chủ hộ là phụ nữ.

- Thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là

lao động nghèo; ƣu tiên nguồn lực đầu tƣ cơ sở trƣờng, lớp học, thiết bị, đào

tạo giáo viên dạy nghề; gắn dạy nghề với tạo việc làm đối với lao động nghèo.

Mở rộng diện áp dụng chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động đối với lao động

nghèo trên cả nƣớc.

b) Hỗ trợ về giáo dục và đào tạo:

- Thực hiện có hiệu quả chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học

bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ chi phí học tập đối với học sinh nghèo ở các cấp

học, nhất là bậc mầm non; tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng ƣu đãi đối

với học sinh, sinh viên, nhất là sinh viên nghèo;

- Thực hiện chính sách ƣu đãi, thu hút đối với giáo viên công tác ở địa

bàn khó khăn; khuyến khích xây dựng và mở rộng “Quỹ khuyến học”; ƣu tiên

đầu tƣ trƣớc để đạt chuẩn cơ sở trƣờng, lớp học ở các xã nghèo, thơn, bản đặc

biệt khó khăn.

c) Hỗ trợ về y tế và dinh dƣỡng:

- Thực hiện có hiệu quả chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế cho ngƣời

nghèo, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế đối với ngƣời thuộc hộ cận nghèo; xây



20

dựng chính sách hỗ trợ ngƣời nghèo mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo.

Nghiên cứu chính sách hỗ trợ việc cung cấp dinh dƣỡng cho phụ nữ, trẻ em

nghèo ở địa bàn nghèo;

- Tăng cƣờng hơn nữa chính sách ƣu đãi, thu hút đối với cán bộ y tế

công tác ở địa bàn nghèo. Ƣu đãi đầu tƣ trƣớc để đạt chuẩn cơ sở bệnh viện,

trạm y tế ở các huyện, xã nghèo.

d) Hỗ trợ về nhà ở:

Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo khu vực

nông thôn, miền núi để cải thiện nhà ở, ƣu tiên hộ nghèo ở ngƣời cao tuổi,

ngƣời khuyết tật. Xây dựng cơ chế, chính sách của địa phƣơng để hỗ trợ nhà ở

đối với ngƣời nghèo ở đô thị trên cơ sở huy động nguồn lực của cộng đồng,

gia đình, dòng họ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chƣơng trình đầu tƣ xây

dựng nhà ở cho ngƣời có thu nhập thấp.

đ) Hỗ trợ ngƣời nghèo tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý:

Thực hiện có hiệu quả chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí cho ngƣời

nghèo, tạo điều kiện cho ngƣời nghèo hiểu biết quyền, nghĩa vụ của mình, chủ

động tiếp cận các chính sách trợ giúp của Nhà nƣớc, vƣơn lên thốt nghèo.

e) Hỗ trợ ngƣời nghèo hƣởng thụ văn hóa, thơng tin:

Tổ chức thực hiện tốt chƣơng trình đƣa văn hóa, thơng tin về cơ sở; đa

dạng hóa các hoạt động truyền thơng, giúp ngƣời nghèo tiếp cận các chính

sách giảm nghèo, phổ biến các mơ hình giảm nghèo có hiệu quả, gƣơng thốt

nghèo [16].

1.1.3.2. Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù

a) Hộ nghèo, ngƣời nghèo dân tộc thiểu số; hộ nghèo, ngƣời nghèo sinh

sống ở huyện nghèo, xã nghèo và thơn, bản đặc biệt khó khăn đƣợc hƣởng các

chính sách ƣu tiên sau:



21

- Hộ nghèo, ngƣời nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn, xã an tồn khu, xã

biên giới và các thơn, bản đặc biệt khó khăn đƣợc hƣởng chính sách hỗ trợ

sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP

ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ;

- Hộ nghèo ở các thôn, bản giáp biên giới không thuộc huyện nghèo

trong thời gian chƣa tực túc đƣợc lƣơng thực đƣợc hỗ trợ 15 kg

gạo/khẩu/tháng theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm

2008 của Chính phủ;

- Có chính sách ƣu đãi cao hơn về mức đầu tƣ, hỗ trợ về lãi suất đối với

hộ nghèo ở các địa bàn đặc biệt khó khăn;

- Mở rộng chính sách cử tuyển đối với học sinh thuộc hộ gia đình sinh

sống ở các địa bàn đặc biệt khó khăn;

- Xây dựng chính sách học bổng cho con em hộ nghèo dân tộc thiểu số

ở các địa bàn đặc biệt khó khăn học đại học;

- Ƣu tiên hỗ trợ nhà văn hóa cộng đồng, đƣa thơng tin về cơ sở, trợ

giúp pháp lý miễn phí đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở các địa bàn đặc biệt

khó khăn;

- Xây dựng dự án bảo tồn đối với các nhóm dân tộc ít ngƣời, dự án định

canh định cƣ để hỗ trợ ngƣời dân ở các địa bàn đặc biệt khó khăn (núi đá, lũ

quét, thƣờng xuyên bị ảnh hƣởng bởi thiên tai).

b) Tiếp tục và mở rộng thực hiện các chính sách ƣu đãi đối với huyện

nghèo, xã nghèo:

- Huyện nghèo: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ

giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết số

30a/2008/NQ-CP, bao gồm: Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu

nhập; chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; chính sách cán



22

bộ đối với các huyện nghèo; chính sách, cơ chế đầu tƣ cơ sở hạ tầng ở cả

thôn, bản, xã và huyện.

- Xã nghèo: Ƣu tiên đầu tƣ trƣớc để hồn thành, đạt chuẩn theo tiêu chí

nơng thơn mới đối với cơ sở trƣờng lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa ở các xã

đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi;

Ƣu tiên đầu tƣ trƣớc để đạt chuẩn các cơng trình hạ tầng cơ sở theo tiêu

chí nơng thơn mới ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải

đảo, xã an tồn khu;

Mở rộng chƣơng trình qn dân y kết hợp; xây dựng mơ hình giảm

nghèo gắn với an ninh quốc phòng để hỗ trợ sản xuất, tạo thu nhập cho ngƣời

nghèo trên địa bàn biên giới; tăng cƣờng bộ đội biên phòng về đảm nhiệm vị

trí cán bộ chủ chốt ở các xã biên giới.

c) Các chƣơng trình mục tiêu quốc gia, các chƣơng trình, dự án sử dụng

vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA và các chƣơng trình khác phải tập trung

các hoạt động và nguồn lực ƣu tiên đầu tƣ trƣớc cho các huyện nghèo, xã

nghèo để đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo ở các địa bàn này [16].

1.2. Cơ sở thực tiễn về giảm nghèo bền vững

1.2.1. Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của các nước trên thế giới

* Thái Lan:

Từ những năm 80 đến nay, Thái Lan áp dụng mơ hình phát triển chính

sách quốc gia gắn liền với chính sách phát triển nơng thơn thơng qua việc

hình thành và phát triển xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển doanh nghiệp

vừa và nhỏ, mở rộng trung tâm dạy nghề ở nông thôn để giảm bớt nghèo khổ

với sự hoạt động của Ban phát triển nông thôn (IBIRD), Tổ chức hiệp hội dân

số và phát triển cộng đồng (CDA).

Theo báo cáo trình chính phủ tháng 6/2003 của Uỷ ban quốc gia phát

triển kinh tế – xã hội (NESDP) năm 2001 Thái Lan vẫn còn 8,2 triệu ngƣời



23

nghèo, 80% số này sống ở nông thôn. Tháng 11/2003 Chính phủ Thái Lan

cơng bố kế hoạch sáu năm xố đói nghèo, theo đó Thái Lan hƣớng quan tâm

vào nông nghiệp, nông thôn và thị trƣờng nội địa. Thực hiện chƣơng trình

“Mỗi làng một sản phẩm” Chính phủ đang tìm kênh phân phối, lƣu thơng

hàng hố giúp nơng dân tiêu thụ sản phẩm. Theo kế hoạch này, bƣớc đầu 8

trong 76 tỉnh đƣợc chọn để thí điểm, ngƣời dân tại đó đƣợc u cầu đăng ký

và trình bày hồn cảnh để các cơ quan chức năng xem xét, hỗ trợ. Tạm thời,

việc giải quyết dự kiến phân theo bảy nhóm: nơng dân khơng có đất, ngƣời

khơng có nhà ở, ngƣời làm ăn bất chính, nạn nhân từ những vụ bị lừa đi lao

động nƣớc nogài, sinh viên hoàn cảnh gia đình khó khăn, ngƣời bị vỡ nợ và

ngƣời thu nhập thấp thiếu nhà ở [7].

* Tuy-ni-di:

Trong 25 năm cuối của thế kỷ XX Tuy-ni-di đã tăng GDP lên gấp đơi,

khơng những thế còn giảm đƣợc mức tăng dân số xuống dƣới 2%/năm, giảm

đáng kể tỷ lệ thất nghiệp. Ngƣời đói nghèo ở Tuy-ni-di đƣợc hƣởng trợ cấp

lƣơng thực từ chính phủ, theo quan điểm của chính phủ Tuy-ni-di việc duy trì

chính sách trợ cấp lƣơng thực cho ngƣời nghèo đói là mục tiêu lâu dài chƣa thể

xố bỏ ngay đƣợc, điều đó xuất phát từ nhu cầu thiết thực nhằm ổn định chính

trị – xã hội và phát triển kinh tế.

Các chính sách cải cách kinh tế của chính phủ đều gắn liền với các

chƣơng trình kinh tế – xã hội và chính sách xã hội đã thực sự có những tác

động tích cực trở lại. Chẳng hạn, do phát triển y tế và giáo dục mà nguồn nhân

lực đƣợc cải thiện, do chú trọng đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội nên

kinh tế có điều kiện phát triển khắp các vùng nơng thơn đến thành thị, thực thi

có hiệu quả những chinhs ách nhằm hƣớng tới nâng cao mức sống cho ngƣời

nghèo. Chính vì vậy mà bộ máy lãnh đạo chính trị nhận đƣợc sự ủng hộ của

nhân dân, họ tích cực tham gia vào các chƣơng trình hành động của chính phủ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Bệnh tật và sức khỏe yếu kém:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×