Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

6

cƣ có thu nhập thấp hơn thu nhập trung bình của các thành viên khác trong xã

hội.

Nghèo tƣơng đối là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới

mức trung bình của địa phƣơng ở một thời kì nhất định [15].

Những quan điểm trên về đói nghèo phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của

ngƣời nghèo là: khơng đƣợc hƣởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu

dành cho con ngƣời, có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng và thiếu cơ

hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.

Ở Việt Nam có rất nhiều quan điểm đƣa ra xung quanh vấn đề khái

niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực nghèo đói. Tuy nhiên, các quan điểm tập trung

nhất vào khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực đói nghèo do Bộ Lao động Thƣơng

binh và Xã hội (Bộ Lao động - TB&XH) ban hành.

- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có điều kiện thoả mãn

một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp

hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện.

+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng của một bộ phận dân cƣ khơng có khả

năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nhu cầu tối thiểu là

những bảo đảm ở mức tối thiểu, những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và

sinh hoạt hàng ngày gồm văn hoá, y tế, giáo dục, giao tiếp.

+ Nghèo tƣơng đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ sống dƣới mức

sống trung bình của cộng đồng tại địa phƣơng đang xét.

- Đói: là tình trạng một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức

tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc

sống. Đó là những hộ dân hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1-2 tháng, thƣờng

vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả.

Đói có 2 dạng là đói kinh niên và đói cấp tính.



7

+ Đói kinh niên: Là bộ phận dân cƣ đói nhiều năm liền cho đến thời

điểm đang xem xét.

+ Đói cấp tính: Là bộ phận dân cƣ rơi vào tình trạng đói đột xuất do

nhiều nguyên nhân nhƣ gặp thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.

- Từ những quan niệm trên có thể thấy nghèo đói có một số đặc trƣng

cơ bản sau:

+ Sự khốn cùng về vật chất, có mức sống thấp hơn cả mức sống trung

bình của cộng đồng dân cƣ;

+ Không đƣợc hƣởng những nhu cầu cơ bản dành cho con ngƣời

+ Nguy cơ dễ bị tổn thƣơng và dễ bị rủi ro

+ Thiếu cơ hội lựa chọn và tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.

- Chuẩn nghèo là thƣớc đo cụ thể hơn quan niệm về nghèo đói, đó là

mức chuẩn chung nào đó mà ngƣời hoặc hộ nào có thu nhập hoặc chi tiêu

dƣới mức chuẩn chung đó thì đƣợc coi là ngƣời nghèo hoặc hộ nghèo. Chuẩn

nghèo là một khái niệm động, nó biến động về không gian và thời gian.

Chuẩn nghèo khác nhau giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế. Hiện

nay có nhiều chuẩn nghèo khác nhau đƣợc dùng trên thế giới [23].

Đối với Việt Nam, chuẩn nghèo của Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo

lƣờng mức độ nghèo đói của các hộ dân tại Việt Nam. Chuẩn nghèo biến động

về thời gian, không gian. Về thời gian, chuẩn nghèo có sự biến đổi theo trình

độ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của con ngƣời theo từng thời kì lịch sử.

Về khơng gian, chuẩn nghèo thay đổi theo 3 vùng sinh thái khác nhau là vùng

đô thị, vùng nông thôn đồng bằng, trung du và vùng miền núi, hải đảo.

Để xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam, có 2 phƣơng pháp:

- Phƣơng pháp xác định chuẩn nghèo của Tổng cục Thống Kê và Ngân

hàng Thế giới



8

- Phƣơng pháp xác định chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội công bố.

* Chuẩn mực xác định nghèo của Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020:

Theo Quyết định Số: 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tƣớng

Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai

đoạn 2016 - 2020 nhƣ sau:

- Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn

2016 - 2020:

1. Các tiêu chí về thu nhập

a) Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn và

900.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị.

b) Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn

và 1.300.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị.

2. Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nƣớc

sạch và vệ sinh; thông tin;

b) Các chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10

chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của ngƣời

lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lƣợng nhà ở; diện tích nhà ở bình qn

đầu ngƣời; nguồn nƣớc sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ

viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thơng tin.

- Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng

cho giai đoạn 2016-2020:

1. Hộ nghèo

a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình qn đầu ngƣời/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;



9

- Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 700.000 đồng đến

1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận

các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình qn đầu ngƣời/tháng trên 900.000 đồng đến

1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận

các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

2. Hộ cận nghèo

a) Khu vực nơng thơn: là hộ có thu nhập bình qn đầu ngƣời/tháng

trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dƣới 03 chỉ số đo lƣờng

mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình qn đầu ngƣời/tháng trên

900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dƣới 03 chỉ số đo lƣờng mức

độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

3. Hộ có mức sống trung bình

a) Khu vực nơng thơn: là hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng

trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.

b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên

1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng [16].

1.1.1.2. Nguyên nhân đói nghèo

- Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định ổn định:

Ngƣời nghèo là những ngƣời có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm

đƣợc việc làm tốt, ổn định. Mức thu nhập của họ hầu nhƣ chỉ đảm bảo nhu cầu

dinh dƣỡng tối thiểu và nhƣ vậy khơng có điều kiện để nâng cao trình độ học

vấn của mình trong tƣơng lai để thốt khỏi cảnh nghèo khó. Bên cạnh đó, trình

độ học vấn thấp ảnh hƣởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh



10

đẻ, nuôi dƣỡng con cái…không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong

tƣơng lai. Suy dinh dƣỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hƣởng đến khả

năng đến trƣờng của con em các gia đình nghèo nhất và sẽ làm cho việc thốt

nghèo thơng qua giáo dục trở nên khó khăn hơn. Trình độ học vấn thấp hạn chế

khả năng kiếm việc làm trong khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp,

những công việc mang lại thu nhập cao hơn và ổn định hơn.

- Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn:

Ngƣời nghèo thƣờng thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn

quẩn của nghèo đói và thiếu lƣơng thực. Ngƣời nghèo có khả năng tiếp tục

nghèo vì họ khơng thể đầu tƣ vào nguồn vốn nhân lực của họ. Ngƣợc lại,

nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thốt khỏi nghèo đói.

Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng khơng có đất đang có xu

hƣớng tăng lên. Thiếu đất đai ảnh hƣởng đến việc bảo đảm an ninh lƣơng thực

của ngƣời nghèo cũng nhƣ khả năng đa dạng hóa sản xuất để hƣớng tới sản

xuất các loại cây trồng với giá trị cao hơn. Đa số ngƣời nghèo lựa chọn phƣơng

án sản xuất tự cung tự cấp, họ vẫn giữ các phƣơng thức sản xuất truyền thống

với giá trị thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phƣơng án sản xuất mang lại lợi

nhuận cao hơn. Do vẫn theo phƣơng pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản

phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật ni còn thấp, thiếu tính cạnh tranh

trên thị trƣờng và vì vậy đã đƣa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó.

Bên cạnh đó, đa số ngƣời nghèo chƣa có nhiều cơ hội tiếp cận với các

dịch vụ sản xuất nhƣ khuyến nông, khuyến ngƣ, bảo vệ động, thực vật; nhiều

yếu tố đầu vào sản xuất nhƣ: điện nƣớc, giống cây trồng, vật ni, phân

bón…đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập tính trên đơn vị giá trị sản phẩm.

Ngƣời nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng. Sự hạn

chế của nguồn vốn là một trong những ngun nhân trì hỗn khả năng đổi

mới, sản xuất, áp dụng khoa học- công nghệ, giống mới… Mặc dù trong



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×