Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực tế cho thấy rằng nghèo đói là một khái niệm rất rộng, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của tương khu vực, từng quốc gia, phụ thuộc vào thời gian và phương pháp tiếp cận. Theo kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo cả nước theo 8 khu vực của Bộ L...

Thực tế cho thấy rằng nghèo đói là một khái niệm rất rộng, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của tương khu vực, từng quốc gia, phụ thuộc vào thời gian và phương pháp tiếp cận. Theo kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo cả nước theo 8 khu vực của Bộ L...

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



1.1.2. Nguyên nhân đói nghèo

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau xung quanh việc xác định nguyên

nhân của đói nghèo. Trên thực tế khơng có một ngun nhân biệt lập, riêng rẽ

dẫn tới đói nghèo, nhất là đói nghèo trên diện rộng, có tính chất xã hội. Nó

cũng khơng phải là nguyên nhân thuần túy về điều kiện tự nhiên, điều kiện

kinh tế hoặc do thiên tai địch họa. Nguyên nhân của tình trạng đói nghèo có

sự đan xen, thâm nhập vào nhau của cái tất yếu lẫn cái ngẫu nhiên, cái cơ bản

và cái tức thời, của nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, tự nhiên

lẫn xã hội. Nó tập trung vào một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Do điều kiện tự nhiên xã hội khác nhau.

- Sự khác nhau về của cải (chênh lệch lớn nhất trong thu nhập là do sự

khác nhau về sở hữu tài sản).

- Sự khác nhau về khả năng cá nhân

- Sự khác nhau về giáo dục - đào tạo.

Tại Việt Nam, cho đến nay đã tổng kết nhận định có các nguyên nhân

của đói nghèo nhƣ sau:

- Nguyên nhân từ chủ trƣơng chính sách, trƣớc hết là vấn đề thực hiện

quy hoạch vùng còn nhiều hạn chế, manh mún, thiếu đồng bộ; thiếu các cơ

chế chính sách trong thu hồi đất, dạy nghề, giải quyết việc làm trong lĩnh vực

lao động nông thôn. Lao động chƣa qua đào tạo còn cao, tác phong lao động,

kỷ luật lao động kém, năng suất lao động thấp là nguyên nhân dẫn đến đói

nghèo.

- Về cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, dự báo thị trƣờng,trong đó thị

trƣờng sản phẩm nơng nghiệp phục vụ nhu cầu trong nƣớc, đặc biệt là xuất

khẩu còn nhiều hạn chế ảnh hƣởng đến sản xuất kinh doanh. Vẫn còn tình

trạng giá cả tăng thì ngƣời dân đua nhau sản xuất, giá cả hạ thì ngƣời dân phá

bỏ. Các dịch vụ phục vụ sản xuất Nông, Lâm, Ngƣ nghiệp còn nhiều hạn chế,



16



tính cạnh canh của sản phẩm nơng nghiệp nƣớc ta còn thấp so với sản phẩm

cùng loại của nhiều nƣớc.

- Việc triển khai thực hiện các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà

nƣớc ở nhiều địa phƣơng còn gặp nhiều khó khăn. Cải cách thủ tục hành

chính kết quả thấp. Điều hành giá cả các mặt hàng thiết yếu chƣa linh hoạt

ảnh hƣởng đến sản xuất và tiêu dùng của ngƣời dân đặc biệt là bộ phận dân cƣ

có thu nhập thấp dẫn đến nguy cơ nghèo và tái nghèo cao. Việc tiếp cận và sử

dụng nguồn vốn vay ƣu đãi cho hộ nghèo, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn

nhiều khó khăn trong khi đó việc tháo gỡ của Nhà nƣớc chƣa kịp thời [10].

- Cơ cấu trong lĩnh vực Nông, Lâm, Ngƣ nghiệp chƣa thực sự hợp lý.

Khai thác tận dụng lợi thế từ các nghành chƣa thực sự mang lại giá trị so với

tiềm năng.

* Nguyên nhân xuất phát từ đối tượng nghèo

- Do trình độ dân trí thấp, tỉ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nông

thôn, miền núi; trình độ học vấn thấp, khơng có trình độ để tiếp thu khoa học

vào sản xuất, tập quán canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp. Trình độ, kỹ

năng tổ chức trong hộ gia đình hạn chế, không quản lý và phân công đƣợc lao

động trong hộ gia đình. Cá biệt có lao động trong hộ gia đình lƣời lao động,

ăn chơi đua đòi, khơng quan tâm đến học hành cũng nhƣ trách nhiệm lao

động sản xuất.

- Do nhận thức của ngƣời dân thấp nên việc tiếp thu các chủ trƣơng

chính sách của Nhà nƣớc có phần hạn chế. Tự ti, cam chịu, có biểu hiện “chịu

khổ mà khơng chịu khó”. Thà khổ chứ khơng chịu khó làm ăn, tần tảo để

kiếm kế sinh nhai và thoát nghèo.

- Một bộ phận dân cƣ có tƣ tƣởng trơng chờ, ỉ lại vào sự hỗ trợ của Nhà

nƣớc. Đặc biệt là 62 huyện nghèo thuộc chƣơng trình 30a của Chính phủ về

hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2008 - 2015 và định hƣớng



17



đến năm 2020. Tƣ tƣởng một bộ phận ngƣời dân "muốn được vào hộ nghèo",

có thể nhận thấy đây là biểu hiện khơng tốt, bên cạnh đó còn một thực tế nữa

là: một bộ phận hộ nghèo và cận nghèo "vui mừng khi được công nhận là hộ

nghèo và lo khi phải ra khỏi diện hộ nghèo". Thực trạng này đã làm triệt tiêu

động lực sản xuất trong bộ phận ngƣời dân; nên có một số chính sách của Nhà

nƣớc cho bộ phận dân cƣ này bị phản tác dụng.

- Dân số nƣớc ta có mức tăng bình qn mỗi năm hơn 1 triệu ngƣời. Tỉ

lệ nam nữ có xu hƣớng mất cân đối (49,5% nam; 50,5% nữ). Trong khi đó ở

nhiều vùng, địa phƣơng nghèo số gia đình đơng con nhiều, tỉ lệ sinh con thứ 3

trở lên cao, thiếu đƣợc chăm sóc cả y tế và giáo dục đã ảnh hƣởng đến chất

lƣợng dân số.

- Diện tích đất sản xuất nơng nghiệp bình quân đầu ngƣời thấp và giảm

mạnh, hiện chỉ còn 0,11 ha; nếu tính riêng diện tích trồng lúa thì còn thấp hơn

nhiều (chỉ còn 0.048 ha). Điều đó cảnh báo rằng: Thứ nhất: Phải khai hoang

tận dụng khoảng 340 ha đất chƣa đƣợc sử dụng; Hai là: Phải bảo vệ quỹ đất

nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa để đảm bảo an ninh lƣơng thực.

- Dân số đông lại tăng lớn, nguồn lao động vốn đã dồi dào, tạo áp lực

cho giải quyết công ăn việc làm hàng năm. Quy mô nền kinh tế thấp, năng

suất lao động thấp (Bình quân lao động chỉ đạt 1959 USD; trong đó nhóm

nơng, lâm, thủy sản là 821 USD, riêng nơng nghiệp còn thấp hơn nữa). Lợi

thế lao động giá rẻ đang giảm dần, sức mua kém, nguy cơ tăng số hộ nghèo,

hộ cận nghèo ở nông thôn và trong lĩnh vực nông nghiệp.

- Một nguyên nhân nữa là do thiếu vốn sản xuất. Vốn là nhân tố quan

trọng phục vụ sản xuất và tái sản xuất mở rộng trong mọi lĩnh vực của đời

sống xã hội. Vốn của nông dân chủ yếu đầu tƣ cho sản xuất nông nghiệp. Do

thiếu vốn, nên họ gặp khó khăn trong sản xuất và đời sống. Mặt khác, việc

tiếp cận nguồn vốn gặp nhiều khó khăn, khơng có khả năng xây dựng dự án,



18



khơng có tài sản thế chấp vay vốn tín dụng, việc sử dụng đồng vốn tự có hay

vốn vay hiệu quả thấp do thiếu trình độ quản lý, sử dụng.

- Tập quán sản xuất lạc hậu cũng là một nguyên nhân dẫn đến đói

nghèo. Hộ nghèo chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và

miền núi. Do vậy mà còn ảnh hƣởng tập quán sản xuất lạc hậu, phụ thuộc vào

thiên nhiên; việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế; ý thức

lao động và lao động khơng khoa học còn nhiều, thậm chí một bộ phận lƣời

lao động, cam chịu đói nghèo, khơng có ý chí vƣơn lên làm giàu và thốt

nghèo.

* Một số nguyên nhân khác

- Do rủi ro, mắc tệ nạn xã hội. Một số hộ gia đình có hồn cảnh khó

khăn, lại gặp tai nạn rủi ro trong cuộc sống, trong sản xuất kinh doanh. Đã

khó khăn nay lại gặp tai nạn, rủi ro phải chi phí nhiều dẫn đến nghèo đói. Một

bộ phận khác lại mắc vào các tệ nạn xã hội nhƣ nghiện hút, cờ bạc, rƣợu

chè… Vòng luẩn quẩn đó khiến ngƣời nghèo nghèo thêm.

- Do hậu quả của chiến tranh. Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm,

nhƣng hậu quả mà nó để lại vẫn còn hết sức nặng nề: Cơ sở hạ tầng bị tàn

phá, đất đai bị ơ nhiễm do bom mìn, chất độc hóa học; kinh phí để giải quyết

các chính sách cho các đối tƣợng chính sách là rất lớn, nguy cơ nghèo và tái

nghèo trong bộ phận hộ gia đình này là rất cao.

1.1.3. Các khía cạnh của đói nghèo

* Về thu nhập

Đa số những ngƣời nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ. Họ có

mức thu nhập thấp. Điều này do tính chất cơng việc của họ đem lại. Ngƣời

nghèo thƣờng làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công

việc cực nhọc nhƣng thu nhập chẳng đƣợc là bao. Hơn thế nữa, những công

việc này lại thƣờng rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc



19



vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn

nhƣ mƣa, nắng, lũ lụt, hạn hán, động đất...). Các nghề thuộc về nơng nghiệp,

lâm nghiệp, ngƣ nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này. Do thu nhập thấp nên

việc chi tiêu cho cuộc sống của những ngƣời nghèo là rất hạn chế. Hầu hết

các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con ngƣời nhƣ cái ăn, cái mặc, chỗ ở chỉ

đƣợc đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn khơng đủ. Nhiều ngƣời rơi

vào cảnh thiếu ăn liên miên, chƣa nói đến vấn đề đủ dinh dƣỡng, riêng việc

đáp ứng lƣợng Kcalo cần thiết, tối thiểu cho con ngƣời để có thể duy trì hoạt

động sống bình thƣờng họ cũng chƣa đáp ứng đƣợc, hoặc đáp ứng một cách

khó khăn. Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác nhƣ làm giảm sức

khoẻ của ngƣời nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập...

cứ nhƣ thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà ngƣời nghèo rất khó thốt ra

đƣợc [12].

* Y tế - giáo dục

Những ngƣời nghèo có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thƣờng cao

nhƣ ốm đau, các bệnh về đƣờng giao tiếp, tình trạng sức khoẻ khơng đƣợc tốt

do ăn uống không đảm bảo, lao động cực nhọc. Ngƣời nghèo thƣờng sống ở

những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn, họ

khơng đƣợc sử dụng nguồn nƣớc sạch, khơng có cơng trình phụ hợp vệ sinh,

điều này cũng làm giảm đáng kể sức khoẻ của họ. Nó đã dẫn đến tình trạng tỷ

lệ chết của trẻ sơ sinh trong nhóm hộ nghèo, số trẻ bị suy dinh dƣỡng và số bà

mẹ mang thai thiếu máu rất cao. Có điều này là do ngƣời nghèo có thu nhập

thấp, khơng đủ trả khoản tiền viện phí lớn cũng nhƣ các chi phí thuốc men

khác, thêm vào đó có thể do đối xử bất bình đẳng trong xã hội, ngƣời nghèo

khơng đƣợc quan tâm chữa trị bằng ngƣời giàu nên tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ

y tế của ngƣời nghèo là rất thấp. Bên cạnh đó, do nhận thức của ngƣời nghèo,

họ thƣờng khơng quan tâm lắm bệnh tật của mình, khi bị bệnh họ thƣờng cố



20



tự chạy chữa bằng mọi biện pháp rẻ tiền, chỉ đến khi bệnh trở nên trầm trọng

họ mới vào viện vì vậy việc điều trị đem lại hiệu quả khơng cao mà còn tốn

thêm nhiều khoản tiền khơng đáng có [12].

* Nguy cơ dễ bị tổn thương

Ở những ngƣời nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thƣơng là nhân tố luôn đi kèm

với sự khốn cùng về vật chất và con ngƣời. Vậy nguy cơ dễ bị tổn thƣơng là

gì? Nó chính là nguy cơ mà ngƣời nghèo phải đối mặt với nhiều loại rủi ro

nhƣ bị ngƣợc đãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học... Nói cách

khác, những rủi ro mà ngƣời nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của

họ chính là nguyên nhân khiến họ rất dễ bị tổn thƣơng. Những ngƣời nghèo

do tài sản ít, thu nhập thấp, họ chỉ có thể trang trải hạn chế, tối thiểu các nhu

cầu thiết yếu nhất của cuộc sống. Vì vậy, khi rủi ro xảy ra họ rất dễ bị tổn

thƣơng và rất khó vƣợt qua đƣợc các cú sốc có hại, những cú sốc mang tính

tạm thời mà những ngƣời có nhiều tài sản hơn dễ dàng vƣợt qua đƣợc.

Do thu nhập thấp, ngƣời nghèo có rất ít khả năng tiếp cận với các cơ

hội tăng trƣởng kinh tế, vì thế họ thƣờng phải bỏ thêm các chi phí khơng đáng

có hoặc giảm thu nhập. ở các hộ nghèo, khi có rủi ro xảy ra nhƣ mất cắp hay

có ngƣời bị ốm đau thì họ dễ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, làm đảo lộn

cuộc sống của cả gia đình mà một thời gian lâu sau mới có thể phục hồi đƣợc.

Cũng có khi việc khắc phục những rủi ro trong ngắn hạn có thể làm trầm

trọng thêm sự khốn cùng của họ trong dài hạn. Chẳng hạn, ví dụ trên, do thiếu

tài sản nên để chạy chữa cho một ngƣời bị ốm, gia đình đã buộc phải quyết

định cho một đứa con nghỉ học hay họ phải bán trâu, bò, ngựa... những

phƣơng tiện lao động cần thiết của gia đình. Cũng có thể ngƣời bệnh thì

khơng khỏi đƣợc còn gia đình từ cảnh khá giả rơi vào cảnh khốn cùng. Nhƣ

vậy, nếu có thêm một vài sự kiện nghiêm trọng nữa xảy ra thì sự suy sụp đến

cùng kiệt là điều khó tránh khỏi với ngƣời nghèo [12].



21



Nguy cơ dễ bị tổn thƣơng đã tạo nên một tâm lý chung của ngƣời

nghèo là sợ phải đối mặt với rủi ro, vì vậy họ ln né tránh với những vấn đề

mang tính rủi ro cao, kể cả khi điều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu

thành cơng (ví dụ đầu tƣ vào giống lúa mới, áp dụng phƣơng thức sản xuất

mới...) chính điều này đã làm họ sống tách biệt với xã hội bị cô lập dần với

guồng quay của thị trƣờng và do vậy cuộc sống của họ càng trở nên bần cùng

hơn.

* Khơng có tiếng nói và quyền lực

Những ngƣời nghèo thƣờng bị đối xử khơng cơng bằng, bị gạt ra ngồi

lề xã hội do vậy họ thƣờng khơng có tiếng nói quyết định trong các công việc

chung của cộng đồng cũng nhƣ các cơng việc liên quan đến chính bản thân

họ. Trong cuộc sống những ngƣời nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt

đối xử, chịu sự thô bạo, nhục mạ, họ bị tƣớc đi những quyền mà những ngƣời

bình thƣờng khác nghiễm nhiên đƣợc hƣởng. Ngƣời nghèo luôn cảm thấy bị

sống phụ thuộc, luôn nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ti, khơng kiểm sốt

đƣợc cuộc sống của mình. Đó chính là kết quả mà ngun nhân khơng có

tiếng nói và quyền lực đem lại [12].

Khơng có tiếng nói và quyền lực còn thể hiện ở chỗ những ngƣời phụ

nữ bị đối xử bất bình đẳng trong chính gia đình của họ. Ngƣời phụ nữ khơng

có quyền quyết định việc gì và phải phụ thuộc hồn tồn vào ngƣời chồng của

họ.

1.1.4. Hoạt động xóa đói giảm nghèo

1.1.4.1. Xóa đói giảm nghèo

Xóa đói giảm nghèo là chƣơng trình tổng thể các biện pháp chính sách

của Nhà nƣớc và xã hội hay của chính những đối tƣợng thuộc diện nghèo đói,

nhằm tạo điều kiện để họ tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập khơng



22



đáp ứng đƣợc với những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo đƣợc quy

định theo từng địa phƣơng, khu vực, quốc gia.

Xóa đói, giảm nghèo đƣợc thể hiện trên một số nội dung sau đây:

- Tạo điều kiện cho ngƣời nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, tăng

thu nhập bằng các biện pháp:

+ Cấp tín dụng ƣu đãi cho ngƣời nghèo, cho vay với lãi suất thấp,

giúp họ có vốn sản xuất để từ đó thốt nghèo.

+ Giảm, miễn các loại thuế trong sản xuất nông nghiệp.

+ Thực hiện hỗ trợ xây dựng cơ cở hạ tầng về giao thông, thủy lợi,

tạo điều kiện cho ngƣời dân tham gia sản xuất, nâng cao năng suất lao động.

+ Tạo điều kiện cho ngƣời dân học hỏi và áp dụng khoa học kỹ thuật

vào sản xuất.

+ Dựa trên từng cơ sở vùng miền, xác định thế mạnh, có kế hoạch

phát triển các nghành nghề, tạo công ăn việc làm cho ngƣời dân, tăng thu nhập

cho ngƣời nghèo.

- Tạo điều kiện cho ngƣời nghèo tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, vệ

sinh môi trƣờng và nƣớc sạch.

Xóa đói giảm nghèo là chủ trƣơng lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nƣớc

và là sự nghiệp của toàn dân. Phải huy động nguồn lực của Nhà nƣớc, của xã

hội và của ngƣời dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa

phƣơng, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nơng nghiệp để xóa đói giảm nghèo,

phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Cùng với sự đầu tƣ, hỗ trợ của Nhà nƣớc

và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vƣơn lên thoát nghèo của ngƣời

nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định thành cơng của cơng cuộc xóa đói

giảm nghèo [7].

Công cuộc giảm nghèo nhanh, bền vững đối với các huyện nghèo là

nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp



23



ủy Đảng, sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể và đồng bộ của các cấp chính quyền, sự

phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; đồng thời,

phải phát huy vai trò làm chủ của ngƣời dân từ khâu xây dựng kế hoạch, đến

tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá hiệu quả của Chƣơng trình [7].

Cùng với việc tiếp tục thực hiện các chính sách giảm nghèo chung

trong cả nƣớc, Trung ƣơng tập trung huy động các nguồn lực để đầu tƣ, hỗ trợ

giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Căn cứ vào tinh thần

của Nghị quyết này, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng chọn thêm

một số huyện nghèo khác trên địa bàn, nhất là các huyện có đồng bào dân tộc

thiểu số sống tập trung để huy động nguồn lực của địa phƣơng đầu tƣ hỗ trợ

các huyện này giảm nghèo nhanh và phát triển bền vững [7].

1.1.4.2. Hoạt động giảm nghèo

Giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà nƣớc và xã

hội hay là của chính những đối tƣợng thuộc diện nghèo, nhằm tạo điều kiện

để họ có thể tăng thu nhập, thốt khỏi tình trạng thu nhập khơng đáp ứng

đƣợc những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo đƣợc quy định theo từng

địa phƣơng, khu vực và quốc gia.

Nội dung và tiêu chí đánh giá kết quả giảm nghèo:

- Tạo điều kiện cho ngƣời nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, gia

tăng thu nhập

+ Cung cấp tín dụng ƣu đãi cho ngƣời nghèo.

+ Đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho ngƣời nghèo.

+ Thực hiện đầu tƣ cơ sở hạ tầng.

+ Thực hiện các chính sách khuyến nơng, khuyến ngƣ.

+ Phát triển các ngành nghề truyền thống phù hợp với địa phƣơng.

- Giảm nghèo thơng qua các chính sách an sinh xã hội.

+ Hỗ trợ dịch vụ y tế.



24



+ Hỗ trợ dịch vụ giáo dục.

+ Hỗ trợ hộ nghèo về đất sản xuất, nhà ở, điện, nƣớc sinh hoạt.

Các nhân tố ảnh hƣởng đến kết quả giảm nghèo:

Các nhân tố ảnh hƣởng đến giảm nghèo là hết sức đa dạng, vì

nghèo đói là hậu quả của nhiều ngun nhân, vì vậy ta có thể chia ra thành

nhóm các nhân tố sau:

- Cơ chế, chính sách và các biện pháp tổ chức thực hiện giảm nghèo:

+ Đƣờng lối chính sách của Đảng và nhà nƣớc.

+ Công tác tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo.

- Các nguồn lực thực hiện giảm nghèo: Các yếu tốnguồn lực nhƣ đất

đai, nguồn vốn, năng lực đội ngũ cán bộ, sự tham gia của các lực lƣợng giảm

nghèo, sự hỗ trợ từ bên ngoài cũng ảnh hƣởng trực tiếp đến công tác giảm

nghèo.

- Ý thức vƣơn lên của bản thân ngƣời nghèo: Nếu ngƣời nghèo lƣời lao

động, ăn tiêu lãng phí thì cũng khó có thể thốt nghèo. Do đó nếu những hộ

có ý chí thốt nghèo, nhận thức tốt và chăm chỉ học hỏi kinh nghiệm làm ăn,

áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chủ động trong chi tiêu, biết tiết kiệm

và tính tốn thì việc thốt nghèo là khơng khó.

1.2. Chƣơng trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ

1.2.1. Mục tiêu

1.2.1.1. Mục tiêu tổng quát

Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của

ngƣời nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến

năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực. Hỗ trợ phát triển sản

xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hƣớng sản xuất hàng hóa, khai thác tốt

các thế mạnh của địa phƣơng. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù

với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ



25



chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn

định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh

thái đƣợc bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng.

1.2.1.2. Mục tiêu cụ thể

- Mục tiêu cụ thể đến năm 2010: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dƣới 40%

(theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8

tháng 7 năm 2005); cơ bản khơng còn hộ dân ở nhà tạm; cơ bản hoàn thành

việc giao đất, giao rừng; trợ cấp lƣơng thực cho ngƣời dân ở những nơi khơng

có điều kiện tổ chức sản xuất, khu vực giáp biên giới để bảo đảm đời sống.

Tạo sự chuyển biến bƣớc đầu trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế

nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triển nông

nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh một bƣớc xây dựng kết cấu hạ

tầng kinh tế - xã hội nông thôn; tăng cƣờng nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ

khoa học - kỹ thuật, tạo bƣớc đột phá trong đào tạo nhân lực; triển khai một

bƣớc chƣơng trình xây dựng nơng thơn mới; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào

tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 25%.

- Mục tiêu cụ thể đến năm 2015: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức

ngang bằng mức trung bình của tỉnh. Tăng cƣờng năng lực cho ngƣời dân và

cộng đồng để phát huy hiệu quả các cơng trình cơ sở hạ tầng thiết yếu đƣợc

đầu tƣ, từng bƣớc phát huy lợi thế về địa lý, khai thác hiệu quả tài nguyên

thiên nhiên; bƣớc đầu phát triển sản xuất theo hƣớng sản xuất hàng hóa quy

mơ nhỏ và vừa, ngƣời dân tiếp cận đƣợc các dịch vụ sản xuất và thị trƣờng

tiêu thụ sản phẩm một cách thuận lợi; lao động nơng nghiệp còn dƣới 60% lao

động xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt

trên 40%.

- Mục tiêu cụ thể đến năm 2020: Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức

ngang bằng mức trung bình của khu vực. Giải quyết cơ bản vấn đề sản xuất,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực tế cho thấy rằng nghèo đói là một khái niệm rất rộng, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của tương khu vực, từng quốc gia, phụ thuộc vào thời gian và phương pháp tiếp cận. Theo kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo cả nước theo 8 khu vực của Bộ L...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×