Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

69

* Khách du lịch nội địa:

Khách nội địa là thị trƣờng chủ yếu, chiếm xấp xỉ 100% tổng lƣợt khách

đến huyện Kỳ Sơn, chủ yếu là khách nội tỉnh và một phần khách khách từ các

tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng và Dun hải Đơng Bắc (Hà Nội, Hải

Phòng, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình,…). Mục đích chủ yếu của khách du

lich là du lịch sinh thái, khám phá, du lịch phƣợt. Đối tƣợng chủ yếu là giới trẻ

ƣa thích tham quan, khám phá, mạo hiểm.

Bảng 3.2: Hiện trạng khách nội địa

TT



Hạng mục



Năm



Đvt

2012



2013



2014



2015



2016



Lƣợt



15.286



17.005



20.003



20.057



1



Tổng số khách



2



Khách trong nƣớc







15.041



16.825



20.000



19.900



3



Khách tham quan







7.543



6.877



9.038



11.188



Lƣợt khách







1.473



6.968



7.449



8.712



Ngày khách



Ngày



1.272



7.508



3.027



9.621



Lƣợt khách



Lƣợt



6.025



2.980



3.513



1.114



Ngày khách



Ngày



48



3.400



780



1.583



4



5



Khách do cơ sở lƣu

trú phục vụ



Khách do cơ sở lữ

hành phục vụ



(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Sơn)

3.1.1.2. Các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú

Hệ thống cơ sở lƣu trú là một trong những yếu tố hết sức quan trọng ảnh

hƣởng lớn đến sự phát triển du lịch. Trong những năm qua, các cơ sở lƣu trú

du lịch ở huyện Kỳ Sơn có một vài biến động, hiện tại năm 2016 tổng số cơ sở

lƣu trú đƣợc đăng ký cấp phép là 9 cơ sở với tổng số phòng là 75 phòng với



70

tổng số 96 giƣờng .

Về chất lƣợng cơ sở lƣu trú: Các nhà nghỉ chƣa xếp hạng. Cơ sở lƣu trú

chất lƣợng còn thấp, hệ thống tiện nghi phục vụ du lịch chƣa đƣợc đầu tƣ,…

chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch.

Với số lƣợng cơ sở lƣu trú hiện tại của huyện Kỳ Sơn đáp ứng đƣợc

khoảng 22.000 lƣợt khách lƣu trú/năm, đã đáp ứng đƣợc nhu cầu lƣu trú hiện

tại của khách du lịch. Nhƣ vậy, số lƣợng cơ sở lƣu trú đã đáp ứng đƣợc nhu

cầu phục vụ du lịch, tuy nhiên chất lƣợng cần đƣợc đầu tƣ để đáp ứng nhu cầu

ngày càng cao của du lịch.

Bảng 3.3: Hiện trạng các cơ sở lƣu trú

TT



1



2



3



4



Hạng mục



Năm



Đvt

2012



2013



2014



2015



2016



Tổng số cơ sở

kinh doanh về du

lịch



Cơ sở



3



8



8



8



9



Du lịch sinh thái



Khu du

lịch



1



2



1



1



1



Nhà nghỉ



Nhà

nghỉ



2



6



7



7



8



Nhà nghỉ đạt tiêu

chuẩn tối thiểu



Nhà

nghỉ



7



7



8



6



Tổng số buồng



Phòng



10



43



67



59



75



Tổng số giƣờng



Giƣờng



20



50



86



72



96



Tổng số buồng



Phòng



-



18



18



18



18



Tổng số giƣờng



Giƣờng



-



25



25



25



25



%



20



113



41



50



57



Khu du lịch



Tỷ lệ sử dụng

buồng nghỉ



(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Sơn)



71

3.1.1.3. Lao động và việc làm

- Lao động trong du lịch bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.

Lao động trực tiếp là số lao động làm việc trong các công ty lữ hành, khách

sạn, nhà hàng và các cơ sở dịch vụ du lịch khác. Lao động gián tiếp tham gia

vào các hoạt động có liên quan đến hoạt động du lịch. Tỷ lệ giữa lao động

trực tiếp và lao động gián tiếp thƣờng là 1/2,0. Trong khách sạn, hệ thống các

dịch vụ bổ sung càng hồn chỉnh, đa dạng thì số lao động bình qn trên

một buồng càng cao. Đối với khách sạn hiện đại, đầy đủ các dịch vụ thì tỷ lệ

này có thể lên tới 2,2 ngƣời/buồng.

- Theo số liệu thống kê, năm 2016 huyện Kỳ Sơn có 22 lao động hoạt động

trong ngành du lịch (trong đó có 21 lao động trực tiếp). Giai đoạn 2012 - 2016

lao động có xu hƣớng giảm không tham gia vào các hoạt động du lịch trên địa

bàn huyện. Một phần do, việc kinh doanh các khu, điểm du lịch một vài năm

trở lại đây gặp nhiều khó khăn do khơng có vốn đầu tƣ, sửa chữa nâng cấp

xây dựng mới; cơng tác quảng bá ít đƣợc đầu tƣ nên thu hút đƣợc ít khách du

lịch do vậy, nhu cầu về lao động có xu hƣớng giảm dần. Theo đánh giá, tỷ

trọng lao động du lịch chiếm tỷ lệ thấp so với lao động trong ngành du lịch

tỉnh Hòa Bình.

- Trình độ lao động ngành du lịch còn nhiều hạn chế, phần lớn lao động

chƣa đƣợc đào tạo cơ bản về nghiệp vụ, chuyên môn chiếm hơn 50% tổng số

lao động.

So với chỉ tiêu lao động bình quân cho một buồng (1,2 lao động trực tiếp)

và số lao động gián tiếp ngoài xã hội (01 lao động trực tiếp tƣơng ứng với 2

lao động gián tiếp) và với số buồng hiện tại là 75 buồng huyện Kỳ Sơn

cần khoảng 270 lao động du lịch (trong đó lao động trực tiếp khoảng 90

ngƣời, lao động gián tiếp khoảng 180 ngƣời). Nhƣ vậy, có thể đánh giá lao

động trong ngành du lịch của huyện nhà còn thiếu cả về số lƣợng và chất lƣợng.



72

Bảng 3.4: Hiện trạng lao động trong ngành du lịch

Năm

TT



Hạng mục



Đvt

2012



1



Số lao động



ngƣời



2013



2014



2015



2016



12

31

31

25

22

(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Sơn)



3.1.1.4. Kết quả kinh doanh

Theo số liệu thống kê, doanh thu du lịch huyện Kỳ Sơn năm 2016 đạt sấp

xỉ 4 tỷ đồng. Tăng trƣởng bình quân tổng thu từ khách du lịch giai đoạn 20122016 không cao so với giai đoạn 2007-2010.

Tỷ trọng so với tỉnh chỉ chiếm khoảng 0,34% tổng thu từ khách du lịch

toàn tỉnh. Nguồn thu từ các hoạt động du lịch chủ yếu từ các dịch vụ lƣu trú

và ăn uống; thu từ các dịch vụ khác còn thấp.

Bảng 3.5: Tổng doanh thu từ ngành du lịch giai đoạn 2012-2016

T

T

1

2



2012



2013



Năm

2014



Triệu

đồng



-



-



21



-



22







-



837,490



1.001



1.589



3.918













-



151,200

260,400

258,000

129,590



65

236

498

198



72

1.183

249

85



55

1.593

1.605

267







-



-



-



-



260







-



32



15



-



96









6,3

10

64

837,490 1.022

1.589 3.940

(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Sơn)



Hạng mục



Đvt



Doanh thu

khách Quốc tế

Doanh thu khách

trong nƣớc

Lữ hành

Cho thuê phòng

Bán hàng ăn uống

Bán hàng hóa

Vận chuyển khách du

lịch

Phục vụ vui chơi giải trí

và các dịch vụ khác

Doanh thu khác

Tổng



2015



2016



73

Việc các khu, điểm du lịch trên địa bàn huyện đang đƣợc tích cực đầu tƣ,

xây dựng và hồn thiện, cùng với đó sự gia tăng của số lƣợng khách thăm

quan qua tuyến quốc lộ 6 chắc chắn trong những năm tới, thu nhập du lịch của

huyện Kỳ Sơn sẽ gia tăng, góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch bền

vững từ góc độ kinh tế.

Nhận xét chung: Giai đoạn từ năm 2010-2015, huyện Kỳ Sơn chƣa có

những định hƣớng cụ thể về phát triển du lịch trên địa bàn, do vậy các khu,

điểm du lịch, các cơ sở lƣu trú, các loại hình du lịch,... chỉ mang tính nhỏ lẻ

khơng thu hút đƣợc nhiều khách du lịch đến thăm quan, chính vì vậy nguồn

thu từ du lịch thấp, chƣa mang tính bền vững, lâu dài. Tuy nhiên, trong những

năm gần đây với việc các dự án phát triển du lịch trên địa bàn huyện đã đƣợc

đƣa vào khai thác và một số dự án đã đƣợc phê duyệt, cấp phép xây dựng đều

đƣợc đánh giá và kiểm soát về tác động đến môi trƣờng trƣớc khi dự án đƣa

vào xây dựng và khai thác sử dụng; huyện Kỳ Sơn đƣợc tỉnh đƣa vào quy

hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh từ nay đến năm 2030. Cùng với đó là

việc ngƣời dân địa phƣơng đang dần tham gia vào các hoạt động du lịch:

ngƣời dân cung cấp các sản phẩm đặc trƣng của vùng cho các điểm du lịch (

rau sạch, các sản phẩm chăn nuôi hay việc cùng các khu điểm du lịch tổ chức

các hoạt động văn hóa - văn nghệ truyền thống nhƣ cồng chiêng,… Đặc biệt

là việc huyện đã xây dựng Đề án tổng thể phát triển du lịch huyện Kỳ Sơn

giai đoạn 2015-2020, định hƣớng đến năm 2030. Với việc huyện nói chung và

ngành du lịch của huyện nói riêng đƣợc tỉnh cũng nhƣ huyện quan tâm đầu tƣ

có trọng tâm, trọng điểm thì có thể đánh giá huyện Kỳ Sơn đang trong giai

đoạn đầu của việc phát triển du lịch và phát triển du lich theo hƣớng bền vững.

3.1.2. Sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch của huyện Kỳ Sơn còn rất hạn chế, hiệu quả đem lại

chƣa cao. Các nhóm sản phẩm du lịch chủ yếu và các tour, tuyến hiện đang

khai thác, bao gồm:



74

- Nhóm sản phẩm du lịch tham quan, sinh thái, vui chơi giải trí: Chủ yếu

tại các khu du lịch nhƣ: Khu du lịch sinh thái Thác Thăng Thiên, Khu du lịch

Cao Vàng, Khu du lịch sinh thái Hồ Dụ.

- Nhóm sản phẩm du lịch văn hóa: Tại địa điểm chiến thắng Cầu Mè, đối

tƣợng khách chủ yếu là: các cựu chiến binh, học sinh tại địa phƣơng đến làm

lễ tri ân liệt sỹ, giáo dục truyền thống.

- Tuyến Hà Nội - Kỳ Sơn (Hòa Bình) - Sơn La - Điện Biên - Lai

Châu: Là tuyến du lịch liên tỉnh trong vùng Trung du miền núi phía Bắc theo

Quốc lộ 6, Quốc lộ 12.

- Tuyến Hà Nội - Lƣơng Sơn - Kỳ Sơn - Mai Châu: Tuyến du lịch nội

tỉnh theo Quốc lộ 6, là một phần của tuyến du lịch liên tỉnh theo Quốc lộ 6.

3.1.3. Đánh giá của du khách về Du lịch huyện kỳ sơn

3.1.3.1. Tác động của du lịch đến người dân địa phương

- Đặc điểm phiếu điều tra: Phiếu điều tra, thăm dò ý kiến của ngƣời dân

địa phƣơng về tác động của các hoạt động phát triển du lịch đối với ngƣời

dân, bao gồm các nội dung hỏi nhƣ tên, độ tuổi, giới tính, nơi sống, nghề

nghiệp và các câu hỏi nhằm đánh giá sự ảnh hƣởng của du lịch tới truyền

thống, phong tục, tập quán của ngƣời dân địa phƣơng. Trong đó, độ tuổi dƣới

18 tuổi: 10 phiếu; từ 18 đến 40 tuổi: 40 phiếu; từ 41 đến 60 tuổi là 20 phiếu

(tổng số: 40 nam và 30 nữ). Theo tổng hợp phiếu điều tra, trên 28% (20 phiếu

đánh giá rất hấp dẫn) ngƣời dân đƣợc hỏi đánh giá, giá trị tài nguyên thiên

nhiên tại địa phƣơng ở mức rất hấp dẫn.

- Phát triển du lịch một mặt tạo ra những điều kiện thuận lợi cho phát

triển kinh tế và xã hội, song việc phát triển cũng gây những ảnh hƣởng khơng

nhỏ đến tình hình an ninh, chính trị địa phƣơng nhƣ tình trạng giá cả tăng cao,

an ninh địa phƣơng,…



75

Bảng 3.6: Ảnh hƣởng của phát triển du lịch đến an ninh, chính trị,

kinh tế -xã hội của địa phƣơng

Đơn vị tính: người

Số

Rất tốt

lƣợng

điều

Số

Tỷ lệ

tra

lƣợng (%)



Tốt



TT



Nội dung



01



Cơ sở hạ tầng



70



3



02



Việc làm



70



-



03



Thu nhập của

ngƣời dân



70



2



04



Giá cả hàng hóa



70



-



05



An ninh, trật tự



70



3



06



Phong tục, tập

quán



70



-



-



07



Môi trƣờng



70



-



13



18,6



7



08



Cảnh quan, kiên

trúc



70



5



16



22,9



23



4,3



2,8



Số

lƣợng



Tỷ lệ

(%)



Số

lƣợng



50



71,4



5



7,2



12



17,1



21



30



11



15,7



38



54,3



14



20



20



28,6



34



48,6



70



100



52



74,3



70



100



10



50



71,4



32,9



26



37,1



-



4,3



7,1



Không ảnh

hƣởng

Tỷ lệ

Số

Tỷ lệ

(%) lƣợng (% )



Không tốt



10



-



14,3



5



7,1



-



(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)

Tuy nhiên, nhìn vào bảng số liệu đánh giá, cho ta thấy các hoạt động du

lịch hiện tại mới chỉ mang tính đặc trƣng của khu du lịch, các hoạt động phần

lớn chỉ tập trung trong khu du lịch, do vậy những tác động của phát triển du

lịch chƣa ảnh hƣởng nhiều đến tình hình an ninh, chính trị, kinh tế tại địa

phƣơng. Theo số liệu điều tra 100% ngƣời dân đƣợc điều tra cho rằng việc

khách du lịch đến địa bàn khơng làm cho giá cả hàng hóa tăng lên, bên cạnh

đó chỉ góp một phần nhỏ trong việc tiêu thụ các sản phẩm đặc trƣng của địa



76

phƣơng mà ngƣời dân tự trồng và tiêu thụ, mức giá đƣợc duy trì ổn định

khơng có nhiều biến động. Về an ninh, trật tự các tai, tệ nạn xã hội đƣợc đảm

bảo tốt, 74,3% ngƣời dân đƣợc hỏi đánh giá hình an ninh, trật tự không ảnh

hƣởng.

- Bên cạnh việc đƣợc nhà nƣớc đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết chế

văn hóa cho các địa phƣơng, việc các khu du lịch đƣợc đầu tƣ xây dựng cũng

giúp cho cơ sở hạ tầng nhƣ đƣờng giao thông, điện đƣờng thắp sáng ở một số

địa phƣơng đƣợc đầu tƣ xây dựng, góp phần tạo cảnh quan, giúp ngƣời dân đi

lại, giao thƣơng thuận lợi, 50/70 ngƣời dân đƣợc hỏi tƣơng đƣơng với 71,4%

đánh giá tốt về cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, việc khách du lịch đến thăm quan

nghỉ dƣỡng tại các khu, điểm du lịch cũng giúp cho ngƣời dân cải thiện đƣợc

thêm thu nhập, khi giới thiệu đến khách du lịch những sản phẩm đặc trƣng

của vùng mình, đảm bảo chất lƣợng, giá thành rẻ hơn so với thị trƣờng.

3.1.3.2. Đánh giá sự hài lòng của khách du lịch khi đến thăm quan, lưu trú

tại huyện Kỳ Sơn

* Đặc điểm phiếu điều tra: Phiếu điều tra thăm dò ý kiến của khách du

lịch, nhằm đánh giá sự hài lòng cua khách du lịch khi đến thăm quan, lƣu trú

tại huyện Kỳ Sơn, để từ đó nắm đƣợc những thơng tin cần thiết cho việc đƣa

ra các giải pháp phát triển du lịch bền vững và nâng cao hiệu quả kinh doanh

của các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện. Phiếu điều tra bao gồm

các nội dung hỏi nhƣ: tên, độ tuổi, giới tính, nơi sống, nghề nghiệp và các câu

hỏi tổng hợp; khách du lịch đƣợc hỏi chia ra 4 độ tuổi, từ 18 đến 25 tuổi: 120

ngƣời; từ 25 đến 35 tuổi: 30 ngƣời; từ 35 đến 45 tuổi: 30 ngƣời và khách trên

45 tuổi là 20 ngƣời (trong đó, Nam: 130 ngƣời; nữ 70 ngƣời).

* Thống kê nguồn khách theo kênh thông tin:



77

Bảng 3.7: Thống kê nguồn khách theo kênh thơng tin

Đơn vị tính: người

TT



Kênh thơng tin



Số lƣợng khách điều tra

(ngƣời)



Tỷ lệ (%)



01



Chuyến thăm lần trƣớc



20



10



02



Bạn bè, ngƣời thân



10



5



03



Hƣớng dẫn viên du lịch



150



75



04



Sách hƣớng dẫn du lịch



-



-



05



Phƣơng tiện truyền thông



-



-



06



Đại lý du lịch



-



-



07



Nguồn Internet



20



10



Tổng



200



100



(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)

Từ bảng số liệu điều tra 200 khách du lịch tại 5 khu, điểm du lịch tại huyện

Kỳ Sơn cho thấy, khách du lịch đến với huyện Kỳ Sơn có tới 150 ngƣời tƣơng

ứng với 75% tổng số khách đƣợc hỏi biết đến các khu, điểm du lịch tại huyện

Kỳ Sơn thông qua hƣớng dẫn viên du lịch; 20% khách du lịch đƣợc hỏi tƣơng

ứng với 40 ngƣời cho biết họ biết đến du lịch huyện Kỳ Sơn qua những thông

tin từ Internet và từ lần du lịch trƣớc đó.

* Chất lượng dịch vụ du lịch: Chất lƣợng du lịch trong đề tài đƣợc đánh

giá trên quan điểm của khách du lịch. Với 200 phiếu điều tra khách du lịch tại

các khu, điểm du lịch, kết quả đƣợc tổng hợp trong biểu số liệu dƣới đây:



78

Bảng 3.8: Ý kiến đánh giá về chất lƣợng dịch vụ, mơi trƣờng của

khách du lịch

Đơn vị tính: người

TT



Nội dung



Số

lƣợng

điều

tra



01



Chất lƣợng dịch vụ



200



02



03



Hồn tồn

Khơng đồng

khơng đồng

ý

ý

Số

Tỷ lệ

Số

Tỷ lệ

Số

Tỷ lệ

Số

Tỷ lệ

lƣợng (%) lƣợng (%) lƣợng (%) lƣợng (% )

Hồn tồn

đồng ý



Đồng ý



Món ăn đƣợc

chế biến ngon,

phong phú



75



37,5



117



58,5



5



2,5



3



1,5



Giá cả các

món ăn



110



55



60



30



10



5



20



10



Địa điểm du lịch đẹp,

thuận tiện



152



76



30



15



2



1



16



8



Các chính sách

khuyến mãi

thiết thực



25



12,5



20



10



40



20



115



57,5



55



27,5



78



39



16



8



51



25,5



5



2,5



116



58



37



18,5



42



21



8



4



122



61



30



15



40



20



10



5



105



52,5



20



10



65



32,5



25



12,5



62



31



69



34,5



44



22



48



24



107



53,5



9



4,5



36



18



32



16



159



79,5



4



2



5



2,5



Chất lƣợng phục vụ

Nhân viên lịch sự, chu

đáo,

ân cần

Trang phục nhân viện

lịch sự,

sạch sẽ

Cách thanh toán rất

phù hợp,

hiện đại

Việc phục vụ theo yêu

cầu đƣợc đáp ứng

nhanh chóng

Cảm nhận chung

(Chất lượng

phục vụ tốt,

chun nghiệp)

Khơng gian, mơi

trƣờng sống

Cảnh quan thiên nhiên

rất đẹp

Mơi trƣờng khơng khí

trong lành



200



200



(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)



79

Qua số liệu điều tra cho thấy chất lƣợng phục vụ và các dịch vụ đi kèm

tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn huyện phần lớn đều đƣợc khách du lịch

đánh giá cao. Đặc biệt, khách du lịch đồng tình đánh giá cao về cảnh quan

thiên nhiên và mơi trƣờng khơng khí tại các khu, điểm du lịch, có 107 khách

du lịch tƣơng ứng với 53,5% đồng ý với nhận xét về cảnh quan thiên nhiên rất

đẹp; 79,5% khách du lịch đƣợc hỏi đồng ý với mơi trƣờng khơng khí trong

lành (tƣơng ứng với 159 khách); 58,5% khách du lịch đƣợc hỏi đồng ý với

đánh giá về ẩm thực trong các khu, điểm du lịch đƣợc chế biến rất ngon với

nhiều loại đồ ăn phong phú mang nét đặc sắc của vùng. Tuy nhiên, đánh giá

tổng thể các loại hình dịch vụ thì chất lƣợng phục vụ chƣa đƣợc đánh giá cao

chiếm 34,5% số khách du lịch đƣợc hỏi về chất lƣợng phục vụ tốt, chuyên

nghiệp.* Một số ý kiến đánh giá khác: Với đa phần các khu, điểm du lịch trên

địa bàn huyện đƣợc đƣa vào khai thác, mới phục vụ đƣợc mục đích nghỉ

dƣỡng sinh thái ngắn ngày của khách du lịch do vậy các dịch vụ đi kèm vẫn

chƣa có sự đầu tƣ lớn, 61% khách du lịch đƣợc hỏi đánh giá điều kiện lƣu trú

tại các khu, điểm du lịch là bình thƣờng, 65 khách du lịch tƣơng ứng với

32,5% khách đƣợc hỏi đánh giá không tốt. Tuy nhiên, với những câu hỏi về

sự thân thiện của ngƣời dân sở tại và tình hình an ninh trật tự trên địa bàn

đƣợc khách du lịch đánh giá rất cao: 100% du khách đƣợc hỏi đánh giá tốt

tình hình an ninh trật tự tại các khu, điểm, du lịch; đối với ngƣời dân địa

phƣơng khách du lịch tuy mới chỉ đƣợc tiếp xúc rất ít nhƣng sự thân thiện,

mến khách của ngƣời dân cũng đƣợc du khách đánh giá cao vơi hơn 20%

khách du lịch đánh giá rất tốt và trên 60% khách du lịch đánh giá tốt.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×