Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Trƣớc đây ngƣời ta thƣờng đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp.

Coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con ngƣời.

Nhƣng thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ đo

đƣợc một phần của cuộc sống. Thu nhập thấp khơng phản ánh hết đƣợc các

khía cạnh của đói nghèo, nó khơng cho chúng ta biết đƣợc mức khốn khổ và cơ

cực của những ngƣời nghèo. Do đó, quan niệm này còn rất nhiều hạn chế [4].

Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo

đã đƣợc hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể đƣợc hiểu theo các cách tiếp cận

khác nhau:

- Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dƣơng

do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đƣa ra khái

niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo

tƣơng đối [4].

+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng

và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời mà những nhu cầu này đã

đƣợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán

của địa phƣơng.

+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ sống dƣới mức

trung bình của cộng đồng.

+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng

cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ

yếu là trong lĩnh vực kinh tế.

+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh

tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực,

một vùng.

Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ khơng có những điều kiện

về cuộc sống nhƣ ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền đƣợc tham



7



gia vào các quyết định của cộng đồng. Qua các cách tiếp cận giúp chúng ta

nâng cao sự hiểu về các nguyên nhân gây ra nghèo đói nhằm có những

phƣơng hƣớng cách thức hành động đúng đắn để tấn công đẩy lùi nghèo đói,

làm cho chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân ngày càng tốt đẹp hơn.

1.1.1.2. Các cấp độ nghèo đói

Tại hội nghị về chống nghèo đói do uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu

Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9

năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: "Nghèo

khổ là tình trạng một bộ phận dân cư khơng có khả năng thoả mãn những nhu

cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát

triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy

được xã hội thừa nhận" [4].

Đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói. Định nghĩa này tuy khơng

định hƣớng một cách chính xác mức độ nghèo đói, nhƣng nó chỉ ra đƣợc cái

phổ biến của sự đói, đó là những nhu cầu về ăn, ở, đi lại tối thiếu đƣợc xã hội

thừa nhận. Theo định nghĩa này thì mức độ đói nghèo ở các nƣớc, khu vực

khác nhau là khác nhau.

Theo số liệu báo cáo của Ngân hàng thế giới, hiện nay trên thế giới có

khoảng trên 1 tỉ ngƣời sống ở mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ nữ và

trẻ em. Ở mỗi thời kì phát triển của nền kinh tế - xã hội đều phải đƣa ra một

chuẩn mực riêng đề xác định mức đói nghèo cho phù hợp với sự phát triển và

mức thu nhập bình quân theo đầu ngƣời trong từng giai đoạn khác nhau.

Theo khái niệm này khơng có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia,

chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia

và nó thay đổi theo thời gian và khơng gian.

"Chuẩn nghèo là thƣớc đo để phân biệt ai nghèo, ai khơng nghèo từ đó

có chính sách biện pháp trợ giúp phù hợp và đúng đối tƣợng".



8



Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại

Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đƣa ra một định nghĩa cụ thể hơn về

nghèo nhƣ sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô

la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản

phẩm thiết yếu để tồn tại" [4].

Ngồi ra, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển

hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)ông Abapia Sen, ngƣời đƣợc giải thƣởng Nooben về kinh tế năm 1998, cho

rằng “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển

của cộng đồng” [4].

Xét cho cùng sự tồn tại của con ngƣời nói chung và ngƣời giàu, ngƣời

nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa

chọn của mỗi ngƣời trongcuộc sống, thông thƣờng ngƣời giàu có cơ hội lựa

chọn nhiều hơn, ngƣời nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn.

Ngân hàng thế giới thì khuyến nghị tính chuẩn nghèo theo 4 nhóm

nƣớc là chậm phát triển, đang phát triển, phát triển và các nƣớc công nghiệp

phát triển:

- Đối với các nƣớc chậm phát triển: các cá nhân bị coi là nghèo khi mà

có thu nhập dƣới 0,5 USD/ngày.

- Đối với nƣớc đang phát triển là 1 USD - 2USD/ngày.

- Các nƣớc Châu Âu là 4 USD/ngày.

- Các nƣớc công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.

Thực tế cho thấy rằng có rất nhiều quan điểm khác nhau để xác định

ngƣỡng đói nghèo trên thế giới nhƣ: dựa vào tỉ lệ USD/ngƣời, tiêu chuẩn

calo/ngƣời, dựa theo các chỉ số HDI… Bởi vì ở mỗi nƣớc có những đặc trƣng

riêng, phong tục tập quán riêng, trình độ phát triển khác nhau, mức thu nhập bình



9



qn đầu ngƣời khơng giống nhau. Do vậy chuẩn đói nghèo đƣợc quy định khác

nhau [4].

Theo Ngân hàng thế giới 1993, chuẩn mực để xác định ranh giới giữa

ngƣời giàu và ngƣời nghèo ở các nƣớc đang phát triển và các nƣớc khu vực

ASEAN đƣợc xác định bằng ngƣỡng thu nhập bình quân đầu ngƣời một năm

là 370 - 450 USD, tức khoảng 30 - 35 USD/tháng. Nhƣng các nƣớc khác nhau

có các quan niệm khác nhau để xã định ngƣỡng đói nghèo [3].

Bảng 1.1. Giới hạn đói nghèo ở một số nƣớc trên thế giới

Giới hạn đói nghèo

STT

Tên nƣớc

(USD/ngƣời/tháng)

1



Philippines



85



2



Malaixia



33



3



Srilanka



22



4



Băngladesh



16



5



Nepan



14



6



Pakistan



11

Nguồn: Ngân hàng ADB [3]



Theo ngân hàng thế giới (WB), từ những năm 80 cho đến nay chuẩn

mực để xác định gianh giới giữa ngƣời giàu với ngƣời nghèo ở các nƣớc đang

phát triển và các nƣớc ở khu vực ASEAN đƣợc xác định bằng mức chi phí

lƣơng thực, thực phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt

lƣợng từ 2100 - 2300 calo/ngày/ngƣời hoặc mức thu nhập bình qn tính ra

tiền là 370USD/ngƣời/năm.

Ấn Độ: Lấy tiêu chuẩn là 2250 calo/ngƣời/ngày.

Băng- la- Đesh lấy tiêu chuẩn là 2100 calo/ngƣời/ngày.



10



Indonexia: Vào đầu những năm 80 lấy mức tiêu dùng nhiệt lƣợng

là2100calo/ngƣời/ngày làm mức chuẩn để xác định gianh giới giữa giàu với

nghèo.

Trung Quốc: năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2150 calo/ngƣời/ngày.

Các nƣớc cơng nghiệp phát triển châu âu: 2570 calo/ngƣời/ngày.

Tính theo mức calo tối thiểu trên đầu ngƣời, mức chi phí lƣơng thực,

thực phẩm, nhu cầu cần thiết khác để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng

nhiệt lƣợng từ 2200 - 2350 calo/ngƣời hoặc mức thu nhập bình qn tính ra

tiền là 370USD ngƣời/năm [4].

1.1.1.2. Quan niệm và chuẩn mực về đói nghèo ở Việt Nam

Ở Việt Nam căn cứ vào tình hình phát triển của kinh tế xã hội và mức

thu nhập của nhân dân đã tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng

biệt.

- Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có điều kiện thoả mãn

một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp

hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện [4].

Hiểu một cách khác: Nghèo là một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới

ngƣỡng quy định của sự nghèo. Nhƣng ngƣỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc

điểm cụ thể của từng địa phƣơng, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát

triển kinh tế, xã hội của từng địa phƣơng.

- Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức

tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc

sống. Đó là các hộ dân cƣ hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng,

thƣờng vay mƣợn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong

nhà không đáng kể, nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập dƣới 13kg

gạo/ngƣời/tháng (tƣơng đƣơng 45.000VND) [4].



11



Ở Việt Nam chúng ta, hộ gia đình đƣợc xem là thành phần kinh tế tồn

tại trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế hộ có ý

nghĩa quan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của hộ và góp phần vào sự

phát triển kinh tế của cả cộng đồng và đất nƣớc. Đánh giá, xem xét theo mơ

hình kinh tế hộ gia đình đƣợc Việt Nam quan tâm đúng mức trong việc thúc

đẩy sự phát triển của nó và đánh giá một cách tồn diện.

- Khái niệm hộ đói: Hộ đói là một bộ phận hộ gia đình có mức sống

của từng thành viên dƣới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu về vật chất

để duy trì cuộc sống; hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cƣ thiếu ăn,

đứt bữa, thƣờng xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ [8].

- Khái niệm hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng một số hội gia đình chỉ

thõa mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn

mức sống của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện [8].

- Chuẩn nghèo áp dụng giai đoạn 2011 - 2015 Theo Quyết định số:

09/2011/QĐ - TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tƣớng Chính Phủ [5]:

1. Hộ nghèo ở nơng thơn là hộ có mức thu nhập bình qn từ 400.000

đồng/ngƣời/tháng (từ 4.800.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống.

2. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình qn từ 500.000

đồng/ngƣời/tháng (từ 6.000.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống.

3. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình qn từ

401.000 đồng đến 520.000 đồng/ngƣời/tháng.

4. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình qn từ

501.000 đồng đến 650.000 đồng/ngƣời/tháng.

- Khái niệm hộ cận nghèo:

Là hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời tối đa bằng 130%

mức thu nhập bình quân đầu ngƣời của hộ gia đình so với hộ nghèo (Khu vực

nơng thơn từ 401 ngàn đồng đến 520 ngàn đồng/ngƣời/tháng; khu vực thành



12



thị từ 501 ngàn đồng đến 650 ngàn đồng/ngƣời/tháng), là những hộ hộ đã

thoát nghèo năm trƣớc, hộ tách ra từ hộ thốt nghèo năm trƣớc, những hộ có

dấu hiệu ảnh hƣởng đến giảm sút thu nhập trong năm do các nguyên nhân nhƣ

thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh và những hộ có lao động chính mất sức lao

động hoặc bị chết, có ngƣời trong hộ ốm đau bệnh nặng kéo dài, gặp rủi ro.

Bên cạnh xem xét, đánh giá hộ cận nghèo để có những chính sách phù hợp

cho đối tƣợng này. Cơ sở để đánh giá là những hộ đã thốt nghèo, hộ có nguy

cơ tái nghèo [3].

Ngày nay chuẩn tiếp cận và đo lƣờng nghèo đa chiều là cách tiếp cận

mới và nó sẽ hạn chế việc bỏ sót những đối tƣợng tuy không nghèo về thu

nhập nhƣng lại nghèo về các chiều khác.

Theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tƣớng chính phủ về Chuẩn

nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, thì các tiêu chí tiếp

cận đo lƣờng nghèo đa chiều gồm tiêu chí về thu nhập, và mức độ thiếu hụt

tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Cụ thể nhƣ sau:

* Các tiêu chí về thu nhập:

- Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn và

900.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị.

- Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực nông thôn

và 1.300.000 đồng/ngƣời/tháng ở khu vực thành thị.

* Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế, giáo dục, nhà ở, nƣớc sạch

và vệ sinh, thông tin.

Các chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ

số): tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của ngƣời lớn,

tình trạng đi học của trẻ em, chất lƣợng nhà ở, diện tích nhà ở bình qn đầu

ngƣời, nguồn nƣớc sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn

thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.



13



Bảng 1.2. Bảng chỉ số ngƣỡng thiếu hụt - Theo Đề án Nghèo đa chiều của

Bộ Lao động - Thƣơng Binh - Xã Hội.

CHIỀU

CHỈ SỐ ĐO

NGƢỠNG THIẾU HỤT

NGHÈO

LƢỜNG

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ

1.1. Trình độ giáo 15 tuổi sinh từ năm 1986 trở lại không

dục của ngƣời lớn tốt nghiệp Trung học cơ sở và hiện

1. Giáo

khơng đi học

dục

Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ

1.2. Tình trạng đi

tuổi đi học (5-dƣới 15 tuổi) hiện không

học của trẻ em

đi học

Hộ gia đình có ngƣời bị ốm đau nhƣng

khơng đi khám chữa bệnh (ốm đau

đƣợc xác định là bị bệnh/chấn thƣơng

2.1. Tiếp cận các

nặng đến mức phải nằm một chỗ và

dịch vụ y tế

phải có ngƣời chăm sóc tại giƣờng

2. Y tế

hoặc nghỉ việc/học không tham gia

đƣợc các hoạt động bình thƣờng)

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6

2.2. Bảo hiểm y tế tuổi trở lên hiện tại khơng có bảo hiểm

y tế

Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu

kiên cố hoặc nhà đơn sơ

3.1. Chất lƣợng nhà

(Nhà ở chia thành 4 cấp độ: nhà kiên



cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà

3. Nhà ở

đơn sơ)

3.2. Diện tích nhà ở Diện tích nhà ở bình quân đầu ngƣời

bình quân đầu ngƣời của hộ gia đình nhỏ hơn 8m2

4.1 Nguồn nƣớc

Hộ gia đình khơng đƣợc tiếp cận nguồn

sinh hoạt

nƣớc hợp vệ sinh

4. Điều

kiện sống

Hộ gia đình khơng sử dụng hố xí/nhà

4.2. Hố xí/nhà tiêu

tiêu hợp vệ sinh



14



5. Tiếp

cận thơng

tin



5.1 Sử dụng dịch vụ Hộ gia đình khơng có thành viên nào

viễn thơng

sử dụng th bao điện thoại và internet

Hộ gia đình khơng có tài sản nào trong

5.2 Tài sản phục vụ số các tài sản: Ti vi, radio, máy tính; và

tiếp cận thơng tin khơng nghe đƣợc hệ thống loa đài

truyền thanh xã/thôn

Nguồn: Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội [5]



Thực tế cho thấy rằng nghèo đói là một khái niệm rất rộng, phụ thuộc

vào điều kiện kinh tế của tƣơng khu vực, từng quốc gia, phụ thuộc vào thời

gian và phƣơng pháp tiếp cận. Theo kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo

cả nƣớc theo 8 khu vực của Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã hội thể hiện

dƣới bảng 1.3.

Bảng 1.3. Kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo cả nƣớc theo vùng

Hộ Nghèo

Hộ Cận nghèo

STT



Khu vực



Tổng số hộ



Số hộ



Tỷ lệ

(%)



Số hộ



Tỷ lệ

(%)



1



Cả nƣớc



22.375.863 2.149.110 9,60 1.469.727



6,57



2



Miền núi Đông Bắc



2.470.555 429.579 17,39 220.307



8,92



3



Miền núi Tây Bắc



4

5

6



72.985



11,48



181.591 28,55



241.086



4,58



2.659.540 399.291 15,01 346.803



13,04



Duyên hải miền Trung 2.012.488 245.605 12,20 187.514



9,32



Đồng bằng sông Hồng 5.266.527 257.634

Bắc Trung Bộ



7



Tây Nguyên



8



Đông Nam Bộ



9



635.962



Đồng bằng sông Cửu

Long



4,89



1.229.803 184.429 15,00



76.144



6,19



3.732.312



47.519



1,27



40.432



1,08



4.368.676 403.462



9,24



284.456



6,51



Nguồn: Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội năm [5]



15



1.1.2. Nguyên nhân đói nghèo

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau xung quanh việc xác định nguyên

nhân của đói nghèo. Trên thực tế khơng có một ngun nhân biệt lập, riêng rẽ

dẫn tới đói nghèo, nhất là đói nghèo trên diện rộng, có tính chất xã hội. Nó

cũng khơng phải là nguyên nhân thuần túy về điều kiện tự nhiên, điều kiện

kinh tế hoặc do thiên tai địch họa. Ngun nhân của tình trạng đói nghèo có

sự đan xen, thâm nhập vào nhau của cái tất yếu lẫn cái ngẫu nhiên, cái cơ bản

và cái tức thời, của nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, tự nhiên

lẫn xã hội. Nó tập trung vào một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Do điều kiện tự nhiên xã hội khác nhau.

- Sự khác nhau về của cải (chênh lệch lớn nhất trong thu nhập là do sự

khác nhau về sở hữu tài sản).

- Sự khác nhau về khả năng cá nhân

- Sự khác nhau về giáo dục - đào tạo.

Tại Việt Nam, cho đến nay đã tổng kết nhận định có các nguyên nhân

của đói nghèo nhƣ sau:

- Nguyên nhân từ chủ trƣơng chính sách, trƣớc hết là vấn đề thực hiện

quy hoạch vùng còn nhiều hạn chế, manh mún, thiếu đồng bộ; thiếu các cơ

chế chính sách trong thu hồi đất, dạy nghề, giải quyết việc làm trong lĩnh vực

lao động nông thôn. Lao động chƣa qua đào tạo còn cao, tác phong lao động,

kỷ luật lao động kém, năng suất lao động thấp là nguyên nhân dẫn đến đói

nghèo.

- Về cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, dự báo thị trƣờng,trong đó thị

trƣờng sản phẩm nông nghiệp phục vụ nhu cầu trong nƣớc, đặc biệt là xuất

khẩu còn nhiều hạn chế ảnh hƣởng đến sản xuất kinh doanh. Vẫn còn tình

trạng giá cả tăng thì ngƣời dân đua nhau sản xuất, giá cả hạ thì ngƣời dân phá

bỏ. Các dịch vụ phục vụ sản xuất Nơng, Lâm, Ngƣ nghiệp còn nhiều hạn chế,



16



tính cạnh canh của sản phẩm nơng nghiệp nƣớc ta còn thấp so với sản phẩm

cùng loại của nhiều nƣớc.

- Việc triển khai thực hiện các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà

nƣớc ở nhiều địa phƣơng còn gặp nhiều khó khăn. Cải cách thủ tục hành

chính kết quả thấp. Điều hành giá cả các mặt hàng thiết yếu chƣa linh hoạt

ảnh hƣởng đến sản xuất và tiêu dùng của ngƣời dân đặc biệt là bộ phận dân cƣ

có thu nhập thấp dẫn đến nguy cơ nghèo và tái nghèo cao. Việc tiếp cận và sử

dụng nguồn vốn vay ƣu đãi cho hộ nghèo, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn

nhiều khó khăn trong khi đó việc tháo gỡ của Nhà nƣớc chƣa kịp thời [10].

- Cơ cấu trong lĩnh vực Nông, Lâm, Ngƣ nghiệp chƣa thực sự hợp lý.

Khai thác tận dụng lợi thế từ các nghành chƣa thực sự mang lại giá trị so với

tiềm năng.

* Nguyên nhân xuất phát từ đối tượng nghèo

- Do trình độ dân trí thấp, tỉ lệ hộ nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nơng

thơn, miền núi; trình độ học vấn thấp, khơng có trình độ để tiếp thu khoa học

vào sản xuất, tập quán canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp. Trình độ, kỹ

năng tổ chức trong hộ gia đình hạn chế, không quản lý và phân công đƣợc lao

động trong hộ gia đình. Cá biệt có lao động trong hộ gia đình lƣời lao động,

ăn chơi đua đòi, khơng quan tâm đến học hành cũng nhƣ trách nhiệm lao

động sản xuất.

- Do nhận thức của ngƣời dân thấp nên việc tiếp thu các chủ trƣơng

chính sách của Nhà nƣớc có phần hạn chế. Tự ti, cam chịu, có biểu hiện “chịu

khổ mà khơng chịu khó”. Thà khổ chứ khơng chịu khó làm ăn, tần tảo để

kiếm kế sinh nhai và thốt nghèo.

- Một bộ phận dân cƣ có tƣ tƣởng trông chờ, ỉ lại vào sự hỗ trợ của Nhà

nƣớc. Đặc biệt là 62 huyện nghèo thuộc chƣơng trình 30a của Chính phủ về

hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2008 - 2015 và định hƣớng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×