Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung nghiên cứu của luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1.1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

1.1.1. Khái niệm và nguyên nhân của nghèo đói

1.1.1.1. Khái niệm về nghèo

Các quốc gia trên hành tinh chúng ta khác nhau về nhiều mặt : trình độ

phát triển kinh tế, điều kiện địa lý tự nhiên, dân số và trình độ dân trí, bản sắc

văn hố, tín ngƣỡng và tập tục, hệ tƣ tƣởng và chế độ chính trị... Nhƣng dù có

sự khác biệt đến mấy, vẫn có những điểm chung, những vấn đề bức xúc cần

đƣợc quan tâm, một trong những vấn đề rộng lớn có tính tồn cầu là nạn đói

nghèo, trình độ lạc hậu.

Trong đời sống thực tiễn cũng nhƣ trong nghiên cứu khoa học các vấn đề

kinh tế - xã hội, chúng ta thƣờng thấy các khái niệm đói nghèo, nghèo khổ,

giàu - nghèo, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, phân hóa giai cấp. Khái

niệm đói nghèo nếu tách riêng ra để phân tích và nhận dạng thì giữa đói và

nghèo vừa có quan hệ mật thiết vừa có sự khác biệt về cấp độ và mức độ.

Năm 1993, Ủy ban Kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng

(ESCAP) đã đƣa ra định nghĩa về nghèo đói nhƣ sau: "Nghèo đói là tình trạng

một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của

con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội

và phong tục tập quán của các địa phƣơng". Đây đƣợc xem là định nghĩa chung

nhất về nghèo đói. Nó mang tính chất hƣớng dẫn cho phƣơng pháp đánh giá,

nhận xét nét chính yếu của sự nghèo đói với các tiêu chí còn để ngỏ về mặt

định lƣợng. Quan niệm trong định nghĩa này là nhu cầu cơ bản của con ngƣời,

tức là những yếu tố cần thiết để duy trì sự sống của con ngƣời nhƣ ăn, ở và

mặc. Căn cứ để xác định đói hay nghèo là ở chỗ con ngƣời không đƣợc hƣởng

và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản ấy.



6



Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của ngƣời dân hầu

nhƣ chỉ chi đủ cho nhu cầu ăn, thậm chí khơng đủ chi cho nhu cầu ăn, phần tích

lũy hầu nhƣ khơng có. Ngồi ra, các nhu cầu khác nhƣ ở, mặc, y tế, văn hóa,

giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đƣợc đáp ứng một phần rất ít ỏi.

Đói là một khái niệm biểu đạt tình trạng con ngƣời ăn không đủ no, không

đủ năng lƣợng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày, do đó khơng đủ

sức để lao động và tái sản xuất sức lao động.

Khi xác định tiêu chí và mức nghèo đói, các cơng trình nghiên cứu

quốc tế thƣờng chia làm hai cấp độ : phận định giữa các quốc gia và giữa các

nhóm dân cƣ, từ đó xác định các quốc gia giàu, nghèo trên thế giới và phân

chia dân cƣ của mỗi quốc gia hoặc từng địa phƣơng thành nhóm giàu, nghèo.

Hiện nay, hầu hết các tổ chức quốc tế nhƣ Liên Hợp Quốc, Ngân hàng

Thế giới đều đã mở rộng khái niệm đói nghèo, trong đó bao hàm cả những

nhu cầu vật chất tối thiểu và những nhu cầu xã hội khác. Theo đó, đói nghèo

bao gồm những khía cạnh cơ bản sau:

Trƣớc tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất.

Sự hƣởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế.

Nguy cơ dễ bị tổn thƣơng và dễ gặp rủi ro.

Khơng có tiếng nói và quyền lực của ngƣời nghèo .

Nhƣ vậy, trong những khía cạnh đƣợc nêu ở trên thì yếu tố đầu tiên và

cũng là cơ bản nhất chính là sự khốn cùng về vật chất. Ngân hàng Thế giới

xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tƣơng đƣơng của địa phƣơng so

với đô la Thế giới để thoả mãn nhu cầu sống nhƣ là chuẩn nghèo tuyệt đối.

Sau đó, trong Chƣơng trình Liên hiệp quốc năm 1997, để phân định rõ ranh

giới giữa nghèo tuyệt đối, Ngân hàng Thế giới đã đƣa ra chuẩn nghèo tuyệt

đối cho từng địa phƣơng hay từng khu vực đƣợc xác định từ 2 đô la cho Châu



7



Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nƣớc Đông Âu cho đến 14,40

đô la cho những nƣớc công nghiệp.

Theo quyết định số 143/2001/QĐ - TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ngày

27 tháng 9 năm 2001 về việc phê duyệt “Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xố

đói và giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005”, những hộ nghèo có thu nhập bình

qn đầu ngƣời ở khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo từ 80.000

đồng/ngƣời/tháng (960.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu

vực nông thơn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu ngƣời

từ 100.000 đồng/ngƣời/tháng (1.200.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ

nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập từ 150.000

đồng/ngƣời/tháng (1.800.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Theo Quyết định số 170/2005/QĐ - TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ngày

8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn

2006 - 2010 thì ở khu vực nơng thơn, những hộ có thu nhập từ 200.000

đồng/ngƣời/tháng (2.400.000 đồng/ ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu

vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/ngƣời/tháng

(3.120.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tƣớng Chính phủ

về việc tổng điều tra hộ nghèo trên tồn quốc phục vụ cho việc thực hiện các

chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011-2015 thì tiêu chí hộ nghèo đƣợc quy

định: Đối với khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình qn từ

400.000 đồng/ngƣời/tháng (4.800.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ

nghèo; Đối với khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình qn từ

500.000 đồng/ngƣời/tháng (6.000.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Sau đó, theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm

2011 của Thủ tƣớng Chính phủ, về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận

nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015, thì ở khu vực nơng thơn, những hộ



8



có mức thu nhập từ 400.000 đồng/ngƣời/tháng (4.800.000 đồng/ ngƣời/năm)

trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có mức thu nhập bình

quân từ 500.000 đồng/ngƣời/tháng (6.0000.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là

hộ nghèo. Đối với tiêu chí hộ cận nghèo đƣợc xác định nhƣ sau: Khu vực

nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình qn từ 401.000 - 520.000

đồng/ngƣời/tháng là hộ cận nghèo; khu vực thành thị, những hộ có mức thu

nhập bình qn từ 501.000 - 650.000 đồng/ngƣời/tháng là hộ cận nghèo. Đây

là những quy định mới nhất về chuẩn nghèo để tiến hành điều tra, lập danh

sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc.

Trong thực tế, đói nghèo khơng phải là một khái niệm cố định cho mọi

thời kỳ, mọi vùng miền, mọi quốc gia. Nó là một khái niệm động, do vậy căn

cứ vào quy mô và tốc độ tăng trƣởng kinh tế, nguồn lực tài chính và qua nhiều

cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu nƣớc ta đã đƣa ra chỉ tiêu về đói nghèo

phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam trong từng giai đoạn:

- Thu nhập bình quân đầu ngƣời theo tháng hoặc năm, đây là chỉ tiêu cơ

bản nhất để xác định mức đói nghèo. Chỉ tiêu này đƣợc quy thành giá trị hiện

vật quy đổi, thƣờng lấy lƣơng thực quy thóc để đánh giá. Việc sử dụng hình

thức quy đổi hiện vật nhằm loại bỏ những ảnh hƣởng của yếu tố giá cả trong

điều kiện không ổn định, từ đó có thể so sánh mức thu nhập của ngƣời dân

theo thời gian đƣợc dễ dàng thuận tiện.

- Ngoài ra còn một số chỉ tiêu khác nhƣ: Chế độ dinh dƣỡng bữa ăn

(kcal/ngƣời), nhà ở, ăn mặc, tƣ liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện

chữa bệnh, đi lại…

1.1.1.2. Các nguyên nhân dẫn đến nghèo

Nghèo đói là hiện tƣợng xuất hiện từ lâu trong xã hội. Đã hàng trăm

năm nay, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng lý giải hiện tƣợng nghèo đói, nhất

là nguyên nhân và cách khắc phục. Có thể nói, tiếp cận nguyên nhân nghèo



9



đói và phân hố giàu nghèo rất đa dạng. Có những nhà nghiên cứu tiếp cận

theo khía cạnh thuần tuý kinh tế, cũng có những nhà nghiên cứu tiếp cận

nguyên nhân nghèo đói và phân hố giàu nghèo chủ yếu từ khía cạnh nhân

chủng học hoặc dân số học. Đồng thời cũng xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu

tiếp cận cả nguyên nhân về tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội.

Cùng tham gia tìm kiếm các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, các nhà

nghiên cứu trên thế giới đã phân tích khá tồn diện các ngun nhân dẫn đến

nghèo đói. Tuy vậy, cách tiếp cận phân tích các nguyên nhân dẫn đến giàu

nghèo và phân hoá thu nhập rất đa dạng. Nhiều nhà xã hội học hiện đại khái

quát 4 nhóm nhân tố liên quan đến giàu nghèo là tài sản, trí tuệ, uy tín và

quyền lực.

Thơng thƣờng ngun nhân dẫn đến nghèo đói thƣờng đƣợc tiếp cận

thành hai nhóm: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

* Nguyên nhân khách quan:

Nghèo đói là một vấn đề mang tính xã hội, xuất phát từ nhiều nhóm

nguyên nhân khác nhau.

Thứ nhất là nhóm nguyên nhân do điều kiện khắc nghiệt của môi

trƣờng tự nhiên, đây là một trong các nguyên nhân khách quan dẫn đến đói

nghèo. Ngƣời nghèo thƣờng tập trung sinh sống tại các khu vực vùng cao,

miền núi và ven biển. Đây là những khu vực chịu các điều kiện khắc nghiệt về

khí hậu, thiên tai, lũ lụt, hạn hán. Với những điều kiện khí hậu khắc nghiệt đó,

việc phát triển kinh tế chủ yếu là ngành nơng nghiệp gặp rất nhiều khó khăn,

ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống của ngƣời dân.

Thứ hai, điều kiện về tài nguyên đất đai là có hạn, khan hiếm và cằn

cỗi. Đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, thiếu đất

đai hoặc đất đai quá cằn cỗi khiến ngƣời nghèo không thể tiến hành sản xuất

nơng nghiệp một cách có hiệu quả, năng suất cây trồng và vật ni thấp, từ đó

làm gia tăng tình trạng đói nghèo.



10



Thứ ba, đa phần địa hình những khu vực tập trung ngƣời nghèo sinh

sống thƣờng rất phức tạp, hệ thống cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, giao thơng

đi lại khó khăn. Những điều này đã gây khó khăn, trở ngại cho việc ngƣời dân

trong việc tiếp cận thông tin, thị trƣờng và đặc biệt là việc tham gia các

chƣơng trình đào tạo nâng cao trình độ và kỹ thuật sản xuất.

Thứ tư, cơ chế, chính sách và sự quản lý của Nhà nƣớc cũng là nguyên

nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo. Đây là những ngun nhân mang tính

khách quan đối với ngƣời dân nhƣng lại là chủ quan đối với sự nghiệp phát

triển kinh tế - xã hội nói chung và cơng cuộc XĐGN nói riêng.

Các chính sách có ảnh hƣởng trực tiếp đến cơng tác XĐGN là những

chính sách trong các lĩnh vực nhƣ chính sách đầu tƣ các cơ sở hạ tầng cho

vùng núi cao, vùng sâu, chính sách khuyến khích sản xuất và vấn đề tín dụng,

hƣớng dẫn cách làm ăn, chuyển giao công nghệ tạo việc làm, tăng thu nhập,

cung cấp hỗ trợ các dịch vụ y tế, giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí,...

Cơ chế, chính sách của Nhà nƣớc là kim chỉ nam trong mọi hành động

của các chủ thể trong xã hội. Nếu các cơ chế, chính sách do Nhà nƣớc ban

hành và sự lãnh đạo, quản lý đất nƣớc nói chung và kinh tế nói riêng là tốt, có

hiệu quả thì kinh tế khơng ngừng phát triển, thu nhập của ngƣời dân nói

chung và ngƣời nghèo nói riêng ngày càng cao, đời sống của ngƣời dân đƣợc

cải thiện. Ngƣợc lại, nếu cơ chế chính sách thiếu hoặc khơng đồng bộ, cơng

tác quản lý lơ là, khơng có hiệu quả, chiến lƣợc kinh tế đƣa ra không khoa

học, mang tính phong trào, thiếu tính khả thi, gây lãng phí ... thì lúc này ngƣời

chịu thiệt thòi nhiều nhất chính là những ngƣời nghèo. Thu nhập khơng tăng,

chất lƣợng cuộc sống giảm sút, khả năng gánh chịu tổn thƣơng của ngƣời

nghèo tăng thêm. Điều này sẽ làm trầm trọng thêm nữa tình trạng đói nghèo

của quốc gia.

Với những ngun nhân mang tính khách quan này đã gây khơng ít trở



11



ngại cho ngƣời nghèo trong việc thực hiện hoạt động sản xuất - kinh doanh,

hƣớng tới mục tiêu XĐGN của họ.

* Nguyên nhân chủ quan:

Nhóm nguyên nhân tiếp theo dẫn đến tình trạng đói nghèo của các hộ

gia đình hiện nay là những nguyên nhân mang tính chủ quan, xuất phát từ

chính bản thân những ngƣời nghèo. Nhóm ngun nhân này bao gồm nhiều

nội dung khác nhau nhƣ: ngƣời dân thiếu kiến thức làm ăn, thiếu hoặc khơng

có vốn, đơng con, thiếu sức lao động hoặc khơng có việc làm, đau ốm, lƣời

nhác, nại chơng chờ vào nhà nƣớc ......

Có thể nói rằng đây là những ngun nhân mang tính quyết định đến

việc vì sao một bộ phận ngƣời dân phải sống trong cảnh nghèo đói. Trƣớc hết

là việc thiếu nguồn lực sản xuất. Nguồn lực ở đây đƣợc hiểu là tƣ liệu sản

xuất, sức lao động. Để bắt đầu quá trình tạo ra sản phẩm và tạo ra thu nhập thì

con ngƣời cần có tƣ liệu sản xuất. Các hộ nghèo thƣờng có rất ít đất đai và

tình trạng khơng có đất canh tác đang có xu hƣớng tăng lên. Thiếu đất đai ảnh

hƣởng đến việc đảm bảo an ninh lƣơng thực của ngƣời nghèo cũng nhƣ khả

năng đa dạng hóa sản xuất. Đa số ngƣời nghèo do vẫn theo phƣơng pháp sản

xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất cây trồng, vật ni thấp,

thiếu tính cạnh tranh trên thị trƣờng, vì vậy đã đƣa họ vào vòng luẩn quẩn của

sự nghèo khó.

Đa phần những ngƣời nghèo là ngƣời khơng có hoặc thiếu vốn để có thể

thực hiện việc sản xuất của mình. Họ khơng có đủ tiền để mua các nguyên liệu

đầu vào và không có khả năng bắt đầu thực hiện q trình sản xuất của mình.

Khi ngƣời dân khơng có yếu tố này thì q trình sản xuất khơng thể nào bắt đầu

đƣợc và đƣơng nhiên là không thể tạo ra thu nhập cho bản thân và gia đình họ.

Tiếp theo, quá trình sản xuất của một cá nhân, một tổ chức không thể

thành công nếu thiếu hiệu quả sản xuất. Nhƣng quá trình sản xuất và tiêu thụ



12



sản phẩm chỉ đạt hiệu quả cao khi trình độ của ngƣời quản lý phải thực sự tốt,

họ thực sự là ngƣời có đầy đủ kiến thức và năng lực quản lý. Nhƣng đây lại là

điểm yếu của ngƣời dân nghèo, họ khơng có nhiều cơ hội tiếp cận với các

chƣơng trình đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ thuật sản xuất, quản lý cơng việc

của gia đình và bản thân, điều này đã khiến cho hiệu quả sản xuất của đại đa

số hộ gia đình nghèo khơng có hiệu quả hoặc nếu có thì hiệu quả rất thấp.

Trình độ học vấn thấp, thiếu việc làm, thiếu kinh nghiệm làm ăn cũng là

một nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. Ngƣời nghèo thƣờng là những ngƣời có

trình độ học vấn thấp, ít có cớ hội kiếm đƣợc việc làm ổn định, mức thu nhập

thấp, khơng có điều kiện để nâng cao trình độ trong tƣơng lai để thốt khỏi

nghèo khổ. Trình độ học vần thấp ảnh hƣởng đến các quyết định có liên quan

đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dƣỡng con cái ở hiện tại và tƣơng lai. Đông con

vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của đói nghèo, tái nghèo.

Bệnh tật, sức khỏe yếu kém và tệ nạn xã hội cũng là nguyên nhân đẩy

con ngƣời vào tình trạng nghèo đói trầm trọng. Vấn đề bệnh tật và sức khỏe

ảnh hƣởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của ngƣời nghèo, làm cho họ rơi

vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo. Họ phải chịu hai gánh nặng, một là mất đi

thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu chi phí cho việc khám chữa bệnh,…

Trong khi khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế của ngƣời nghèo còn hạn chế

nên làm tăng khả năng mắc bệnh của họ. Việc cải thiện điều kiện sức khỏe

cho ngƣời nghèo là một trong những yếu tố cơ bản để họ tự thoát nghèo bằng

khả năng của mình.

Bất bình đẳng giới ảnh hƣởng tiêu cực đến đời sống phụ nữ và trẻ em.

Bất bình đẳng giới làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên các mặt. Ngoài

những bất cập mà cá nhân phụ nữ và trẻ em phải chịu đựng do bất bình đẳng

thì còn có những tác động bất lợi đối với gia đình.



13



Ngun nhân nữa ảnh hƣởng đến tình trạng đói nghèo của ngƣời dân là

ý thức thoát nghèo và tâm lý



lại của chính bản thân ngƣời nghèo. Xóa đói



giảm nghèo là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia, do vậy khi có tình trạng

đói nghèo xảy ra, Nhà nƣớc thƣờng phải ban hành các chính sách ƣu đãi, hỗ

trợ ngƣời nghèo. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp tình thế để giải quyết khó

khăn cho ngƣời nghèo, để XĐGN một cách bền vững thì chính ngƣời nghèo

phải tự mình vƣơn lên thoát nghèo. Nhƣng một số cá nhân, tập thể lại



lại



vào sự hỗ trợ đó của nhà nƣớc, trở thành những kẻ ăn bám mà khơng tự mình

lao động và hƣớng tới việc thốt nghèo. Tƣ tƣởng



lại khơng những làm cho



bản thân những cá nhân này khơng thể thốt đƣợc cảnh nghèo đói mà còn

khiến cho gánh nặng của xã hội tăng thêm vào tăng nguy cơ xảy ra đói nghèo

cho cộng đồng.

1.1.1.3. Nguyên nhân nghèo đói ở Việt Nam

Tình trạng đói nghèo của Việt Nam xảy ra do sự tác động của nhiều

nguyên nhân khác nhau. Nhƣng những nguyên nhân chính thƣờng đƣợc nhắc

đến gồm các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, các nguyên nhân bất khả kháng nhƣ thiên tai, dịch bệnh, địa

hình phức tạp,... Việt Nam là một trong số các nƣớc hàng năm chịu nhiều tác

động của thiên tai nhƣ bão lũ, hạn hán,... Thêm vào đó là tình hình dịch bệnh

diễn biến khá phức tạp, kết hợp với điều kiện địa lý một số vùng của Việt

Nam tƣơng đối phức tạp, gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển hàng hố,

thơng tin liên lạc. Những nguyên nhân này đã tác động trực tiếp đến sự phát

triển kinh tế tại các địa phƣơng, ngăn cản những ảnh hƣởng tích cực của tốc

độ tăng trƣởng kinh tế hàng năm đến ngƣời nghèo sinh sống tại các khu vực

này, làm cho ngƣời nghèo khơng có cơ hội đƣợc hƣởng những lợi ích do sự

tăng trƣởng kinh tế mang lại.



14



Thứ hai, ngun nhân nghèo đói xuất phát từ chính ngƣời nghèo. Ngƣời

nghèo có đặc điểm tâm lý và thói quen sinh hoạt tƣơng đối khác biệt. Họ khá

rụt rè, tự ti, khơng tin vào bản thân, ít giao tiếp và giới hạn giao tiếp tƣơng đối

hẹp, hoạt động sản xuất thƣờng có quy mơ nhỏ lẻ, manh mún. Chính vì có

những đặc điểm này đã làm cho hiệu quả sản xuất thực tế của ngƣời nghèo rất

thấp, thậm chí khơng đủ để ni sống bản thân và gia đình họ.

Thứ ba, tình trạng thiếu vốn sản xuất của ngƣời nghèo. Có thể nói rằng

một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây ra tình trạng nghèo đói kéo

dài của ngƣời dân là do thiếu vốn sản xuất. Thu nhập của ngƣời nghèo thƣờng

rất thấp, khơng đảm bảo duy trì cuộc sống hàng ngày nên việc có tích luỹ để

phát triển sản xuất là gần nhƣ không khả thi. Trong khi đó, để có thể phát

triển kinh tế hộ gia đình thì đầu tiên là ngƣời nghèo phải có vốn để mua các

yếu tố đầu vào nhƣ cây, con giống, phân bón, thức ăn chăn ni,...

Thứ tư, thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn. Do thói quen sinh hoạt,

tập quán sản xuất mà hoạt động sản xuất của ngƣời nghèo thƣờng tập trung

trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và chủ yếu kế thừa kỹ thuật sản xuất

truyền thống đƣợc truyền qua nhiều thế hệ nên năng suất lao động không cao,

không nắm bắt theo xu hƣớng phát triển của thị trƣờng, khơng tìm đƣợc đầu

ra cho sản phẩm của mình nên thƣờng bị tƣ thƣơng ép giá.

Tệ nạn tham nhũng cũng là nguyên nhân của đói nghèo, nhƣ là rào cản

trong việc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam.

Hiện nay, với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế cùng với Chính phủ và

nhân dân Việt Nam trong cuộc đổi mới cũng nhƣ hỗ trợ tăng trƣởng kinh tế

và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, các thành tựu của Việt Nam hiện đang bị

đe dọa bởi tệ nạn tham nhũng. Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ

vƣợt qua tầm kiểm soát và trở thành một đại dịch gây ra những hậu quả

nghiêm trọng về kinh tế xã hội nhƣ làm cho nghèo đói gia tăng và đẩy lùi

những thành quả phát triển đã đạt đƣợc từ trƣớc đến nay.



15



Sự tác động của các chính sách vĩ mơ và chính sách cải cách (tự do hóa

thƣơng mại, cải cách doanh nghiệp Nhà nƣớc…) cũng là một trong những

nguyên dẫn đến đói nghèo. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao và ổn định trong

thời gian vừa qua là một trong những yếu tố ảnh hƣởng lớn tới việc xóa đói

giảm nghèo. Viêt Nam đã đạt đƣợc những thành tích giảm nghèo đói rất đa

dạng và trên diện rộng. Tuy nhiên, quá trình phát triển và mở cửa nền kinh tế

cũng có nhiều tác động tiêu cực đến ngƣời nghèo.

Cơ cấu đầu tƣ chƣa hợp lý, t lệ đầu tƣ cho nơng nghiệp và nơng thơn

còn thấp, chủ yếu mới đầu tƣ cho thủy lợi, các trục công nghiệp chính, các

lĩnh vự thu hút nhiều vốn mà chƣa chú trọng đầu tƣ các ngành công nghiệp

thu hút nhiều lao động, chƣa chú ý khuyến khích kịp thới phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ, nhiều chính sách trợ cấp (lãi suất tín dụng, trợ cƣớc, trợ

giá…) khơng đúng đối tƣợng làm ảnh hƣởng xấu đến thị trƣờng nông thôn,

thị trƣờng vùng sâu, vùng xa.

Kết cấu hạ tầng đến vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo còn thiếu và yếu

kém. Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn. Vốn đầu tƣ của

nhà nƣớc chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu, đóng góp nguồn lực của ngƣời dân còn

hạn chế, chủ yếu bằng lao động.

Với những nguyên nhân trên dẫn đến việc ngƣời nghèo khơng có đủ

điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế hộ, nâng cao thu nhập để thốt nghèo

và có thể có nguy cơ tái nghèo.

1.1.1.4. Các tiêu chí đánh giá đói nghèo trên thế giới

Để xác định các chỉ tiêu về đói nghèo, trên thế giới đã đƣa ra những

chuẩn mực đánh giá sau:

- Thu nhập quốc dân bình qn tính theo đầu ngƣời:

Chỉ tiêu này do Ngân hàng thế giới (WB) đƣa ra để đánh giá mức độ

giàu nghèo của các quốc gia.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung nghiên cứu của luận văn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×