Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thông thường nguyên nhân dẫn đến nghèo đói thường được tiếp cận thành hai nhóm: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

Thông thường nguyên nhân dẫn đến nghèo đói thường được tiếp cận thành hai nhóm: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



Thứ ba, đa phần địa hình những khu vực tập trung ngƣời nghèo sinh

sống thƣờng rất phức tạp, hệ thống cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, giao thơng

đi lại khó khăn. Những điều này đã gây khó khăn, trở ngại cho việc ngƣời dân

trong việc tiếp cận thông tin, thị trƣờng và đặc biệt là việc tham gia các

chƣơng trình đào tạo nâng cao trình độ và kỹ thuật sản xuất.

Thứ tư, cơ chế, chính sách và sự quản lý của Nhà nƣớc cũng là nguyên

nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo. Đây là những ngun nhân mang tính

khách quan đối với ngƣời dân nhƣng lại là chủ quan đối với sự nghiệp phát

triển kinh tế - xã hội nói chung và cơng cuộc XĐGN nói riêng.

Các chính sách có ảnh hƣởng trực tiếp đến cơng tác XĐGN là những

chính sách trong các lĩnh vực nhƣ chính sách đầu tƣ các cơ sở hạ tầng cho

vùng núi cao, vùng sâu, chính sách khuyến khích sản xuất và vấn đề tín dụng,

hƣớng dẫn cách làm ăn, chuyển giao cơng nghệ tạo việc làm, tăng thu nhập,

cung cấp hỗ trợ các dịch vụ y tế, giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí,...

Cơ chế, chính sách của Nhà nƣớc là kim chỉ nam trong mọi hành động

của các chủ thể trong xã hội. Nếu các cơ chế, chính sách do Nhà nƣớc ban

hành và sự lãnh đạo, quản lý đất nƣớc nói chung và kinh tế nói riêng là tốt, có

hiệu quả thì kinh tế khơng ngừng phát triển, thu nhập của ngƣời dân nói

chung và ngƣời nghèo nói riêng ngày càng cao, đời sống của ngƣời dân đƣợc

cải thiện. Ngƣợc lại, nếu cơ chế chính sách thiếu hoặc khơng đồng bộ, cơng

tác quản lý lơ là, khơng có hiệu quả, chiến lƣợc kinh tế đƣa ra khơng khoa

học, mang tính phong trào, thiếu tính khả thi, gây lãng phí ... thì lúc này ngƣời

chịu thiệt thòi nhiều nhất chính là những ngƣời nghèo. Thu nhập không tăng,

chất lƣợng cuộc sống giảm sút, khả năng gánh chịu tổn thƣơng của ngƣời

nghèo tăng thêm. Điều này sẽ làm trầm trọng thêm nữa tình trạng đói nghèo

của quốc gia.

Với những ngun nhân mang tính khách quan này đã gây khơng ít trở



11



ngại cho ngƣời nghèo trong việc thực hiện hoạt động sản xuất - kinh doanh,

hƣớng tới mục tiêu XĐGN của họ.

* Nguyên nhân chủ quan:

Nhóm ngun nhân tiếp theo dẫn đến tình trạng đói nghèo của các hộ

gia đình hiện nay là những nguyên nhân mang tính chủ quan, xuất phát từ

chính bản thân những ngƣời nghèo. Nhóm nguyên nhân này bao gồm nhiều

nội dung khác nhau nhƣ: ngƣời dân thiếu kiến thức làm ăn, thiếu hoặc khơng

có vốn, đơng con, thiếu sức lao động hoặc khơng có việc làm, đau ốm, lƣời

nhác, nại chơng chờ vào nhà nƣớc ......

Có thể nói rằng đây là những nguyên nhân mang tính quyết định đến

việc vì sao một bộ phận ngƣời dân phải sống trong cảnh nghèo đói. Trƣớc hết

là việc thiếu nguồn lực sản xuất. Nguồn lực ở đây đƣợc hiểu là tƣ liệu sản

xuất, sức lao động. Để bắt đầu quá trình tạo ra sản phẩm và tạo ra thu nhập thì

con ngƣời cần có tƣ liệu sản xuất. Các hộ nghèo thƣờng có rất ít đất đai và

tình trạng khơng có đất canh tác đang có xu hƣớng tăng lên. Thiếu đất đai ảnh

hƣởng đến việc đảm bảo an ninh lƣơng thực của ngƣời nghèo cũng nhƣ khả

năng đa dạng hóa sản xuất. Đa số ngƣời nghèo do vẫn theo phƣơng pháp sản

xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất cây trồng, vật ni thấp,

thiếu tính cạnh tranh trên thị trƣờng, vì vậy đã đƣa họ vào vòng luẩn quẩn của

sự nghèo khó.

Đa phần những ngƣời nghèo là ngƣời khơng có hoặc thiếu vốn để có thể

thực hiện việc sản xuất của mình. Họ khơng có đủ tiền để mua các ngun liệu

đầu vào và khơng có khả năng bắt đầu thực hiện quá trình sản xuất của mình.

Khi ngƣời dân khơng có yếu tố này thì q trình sản xuất khơng thể nào bắt đầu

đƣợc và đƣơng nhiên là không thể tạo ra thu nhập cho bản thân và gia đình họ.

Tiếp theo, quá trình sản xuất của một cá nhân, một tổ chức không thể

thành công nếu thiếu hiệu quả sản xuất. Nhƣng quá trình sản xuất và tiêu thụ



12



sản phẩm chỉ đạt hiệu quả cao khi trình độ của ngƣời quản lý phải thực sự tốt,

họ thực sự là ngƣời có đầy đủ kiến thức và năng lực quản lý. Nhƣng đây lại là

điểm yếu của ngƣời dân nghèo, họ khơng có nhiều cơ hội tiếp cận với các

chƣơng trình đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ thuật sản xuất, quản lý công việc

của gia đình và bản thân, điều này đã khiến cho hiệu quả sản xuất của đại đa

số hộ gia đình nghèo khơng có hiệu quả hoặc nếu có thì hiệu quả rất thấp.

Trình độ học vấn thấp, thiếu việc làm, thiếu kinh nghiệm làm ăn cũng là

một nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. Ngƣời nghèo thƣờng là những ngƣời có

trình độ học vấn thấp, ít có cớ hội kiếm đƣợc việc làm ổn định, mức thu nhập

thấp, khơng có điều kiện để nâng cao trình độ trong tƣơng lai để thốt khỏi

nghèo khổ. Trình độ học vần thấp ảnh hƣởng đến các quyết định có liên quan

đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dƣỡng con cái ở hiện tại và tƣơng lai. Đông con

vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của đói nghèo, tái nghèo.

Bệnh tật, sức khỏe yếu kém và tệ nạn xã hội cũng là nguyên nhân đẩy

con ngƣời vào tình trạng nghèo đói trầm trọng. Vấn đề bệnh tật và sức khỏe

ảnh hƣởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của ngƣời nghèo, làm cho họ rơi

vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo. Họ phải chịu hai gánh nặng, một là mất đi

thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu chi phí cho việc khám chữa bệnh,…

Trong khi khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế của ngƣời nghèo còn hạn chế

nên làm tăng khả năng mắc bệnh của họ. Việc cải thiện điều kiện sức khỏe

cho ngƣời nghèo là một trong những yếu tố cơ bản để họ tự thoát nghèo bằng

khả năng của mình.

Bất bình đẳng giới ảnh hƣởng tiêu cực đến đời sống phụ nữ và trẻ em.

Bất bình đẳng giới làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên các mặt. Ngoài

những bất cập mà cá nhân phụ nữ và trẻ em phải chịu đựng do bất bình đẳng

thì còn có những tác động bất lợi đối với gia đình.



13



Ngun nhân nữa ảnh hƣởng đến tình trạng đói nghèo của ngƣời dân là

ý thức thoát nghèo và tâm lý



lại của chính bản thân ngƣời nghèo. Xóa đói



giảm nghèo là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia, do vậy khi có tình trạng

đói nghèo xảy ra, Nhà nƣớc thƣờng phải ban hành các chính sách ƣu đãi, hỗ

trợ ngƣời nghèo. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp tình thế để giải quyết khó

khăn cho ngƣời nghèo, để XĐGN một cách bền vững thì chính ngƣời nghèo

phải tự mình vƣơn lên thoát nghèo. Nhƣng một số cá nhân, tập thể lại



lại



vào sự hỗ trợ đó của nhà nƣớc, trở thành những kẻ ăn bám mà khơng tự mình

lao động và hƣớng tới việc thốt nghèo. Tƣ tƣởng



lại khơng những làm cho



bản thân những cá nhân này khơng thể thốt đƣợc cảnh nghèo đói mà còn

khiến cho gánh nặng của xã hội tăng thêm vào tăng nguy cơ xảy ra đói nghèo

cho cộng đồng.

1.1.1.3. Ngun nhân nghèo đói ở Việt Nam

Tình trạng đói nghèo của Việt Nam xảy ra do sự tác động của nhiều

nguyên nhân khác nhau. Nhƣng những nguyên nhân chính thƣờng đƣợc nhắc

đến gồm các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, các nguyên nhân bất khả kháng nhƣ thiên tai, dịch bệnh, địa

hình phức tạp,... Việt Nam là một trong số các nƣớc hàng năm chịu nhiều tác

động của thiên tai nhƣ bão lũ, hạn hán,... Thêm vào đó là tình hình dịch bệnh

diễn biến khá phức tạp, kết hợp với điều kiện địa lý một số vùng của Việt

Nam tƣơng đối phức tạp, gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển hàng hố,

thơng tin liên lạc. Những ngun nhân này đã tác động trực tiếp đến sự phát

triển kinh tế tại các địa phƣơng, ngăn cản những ảnh hƣởng tích cực của tốc

độ tăng trƣởng kinh tế hàng năm đến ngƣời nghèo sinh sống tại các khu vực

này, làm cho ngƣời nghèo khơng có cơ hội đƣợc hƣởng những lợi ích do sự

tăng trƣởng kinh tế mang lại.



14



Thứ hai, ngun nhân nghèo đói xuất phát từ chính ngƣời nghèo. Ngƣời

nghèo có đặc điểm tâm lý và thói quen sinh hoạt tƣơng đối khác biệt. Họ khá

rụt rè, tự ti, khơng tin vào bản thân, ít giao tiếp và giới hạn giao tiếp tƣơng đối

hẹp, hoạt động sản xuất thƣờng có quy mơ nhỏ lẻ, manh mún. Chính vì có

những đặc điểm này đã làm cho hiệu quả sản xuất thực tế của ngƣời nghèo rất

thấp, thậm chí khơng đủ để ni sống bản thân và gia đình họ.

Thứ ba, tình trạng thiếu vốn sản xuất của ngƣời nghèo. Có thể nói rằng

một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây ra tình trạng nghèo đói kéo

dài của ngƣời dân là do thiếu vốn sản xuất. Thu nhập của ngƣời nghèo thƣờng

rất thấp, khơng đảm bảo duy trì cuộc sống hàng ngày nên việc có tích luỹ để

phát triển sản xuất là gần nhƣ khơng khả thi. Trong khi đó, để có thể phát

triển kinh tế hộ gia đình thì đầu tiên là ngƣời nghèo phải có vốn để mua các

yếu tố đầu vào nhƣ cây, con giống, phân bón, thức ăn chăn nuôi,...

Thứ tư, thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn. Do thói quen sinh hoạt,

tập quán sản xuất mà hoạt động sản xuất của ngƣời nghèo thƣờng tập trung

trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và chủ yếu kế thừa kỹ thuật sản xuất

truyền thống đƣợc truyền qua nhiều thế hệ nên năng suất lao động không cao,

không nắm bắt theo xu hƣớng phát triển của thị trƣờng, khơng tìm đƣợc đầu

ra cho sản phẩm của mình nên thƣờng bị tƣ thƣơng ép giá.

Tệ nạn tham nhũng cũng là nguyên nhân của đói nghèo, nhƣ là rào cản

trong việc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam.

Hiện nay, với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế cùng với Chính phủ và

nhân dân Việt Nam trong cuộc đổi mới cũng nhƣ hỗ trợ tăng trƣởng kinh tế

và xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, các thành tựu của Việt Nam hiện đang bị

đe dọa bởi tệ nạn tham nhũng. Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ

vƣợt qua tầm kiểm soát và trở thành một đại dịch gây ra những hậu quả

nghiêm trọng về kinh tế xã hội nhƣ làm cho nghèo đói gia tăng và đẩy lùi

những thành quả phát triển đã đạt đƣợc từ trƣớc đến nay.



15



Sự tác động của các chính sách vĩ mơ và chính sách cải cách (tự do hóa

thƣơng mại, cải cách doanh nghiệp Nhà nƣớc…) cũng là một trong những

nguyên dẫn đến đói nghèo. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao và ổn định trong

thời gian vừa qua là một trong những yếu tố ảnh hƣởng lớn tới việc xóa đói

giảm nghèo. Viêt Nam đã đạt đƣợc những thành tích giảm nghèo đói rất đa

dạng và trên diện rộng. Tuy nhiên, quá trình phát triển và mở cửa nền kinh tế

cũng có nhiều tác động tiêu cực đến ngƣời nghèo.

Cơ cấu đầu tƣ chƣa hợp lý, t lệ đầu tƣ cho nơng nghiệp và nơng thơn

còn thấp, chủ yếu mới đầu tƣ cho thủy lợi, các trục cơng nghiệp chính, các

lĩnh vự thu hút nhiều vốn mà chƣa chú trọng đầu tƣ các ngành công nghiệp

thu hút nhiều lao động, chƣa chú ý khuyến khích kịp thới phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ, nhiều chính sách trợ cấp (lãi suất tín dụng, trợ cƣớc, trợ

giá…) khơng đúng đối tƣợng làm ảnh hƣởng xấu đến thị trƣờng nông thôn,

thị trƣờng vùng sâu, vùng xa.

Kết cấu hạ tầng đến vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo còn thiếu và yếu

kém. Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn. Vốn đầu tƣ của

nhà nƣớc chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu, đóng góp nguồn lực của ngƣời dân còn

hạn chế, chủ yếu bằng lao động.

Với những nguyên nhân trên dẫn đến việc ngƣời nghèo khơng có đủ

điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế hộ, nâng cao thu nhập để thốt nghèo

và có thể có nguy cơ tái nghèo.

1.1.1.4. Các tiêu chí đánh giá đói nghèo trên thế giới

Để xác định các chỉ tiêu về đói nghèo, trên thế giới đã đƣa ra những

chuẩn mực đánh giá sau:

- Thu nhập quốc dân bình qn tính theo đầu ngƣời:

Chỉ tiêu này do Ngân hàng thế giới (WB) đƣa ra để đánh giá mức độ

giàu nghèo của các quốc gia.



16



Ví dụ: Căn cứ theo GDP/đầu ngƣời/ năm vào thời điểm năm 1990 để

phân tích cho thấy: Trên 25.000 USD: nƣớc cực giàu; Trên 20.000 – 25.000:

nƣớc giàu; Trên 10.000 – 20.000: nƣớc khá giàu; Trên 2.500 – 10.000: nƣớc

trung lƣu; Trên 500 – 2.500: nƣớc nghèo; Dƣới 500: nƣớc cực nghèo.

Ở Việt Nam là gần 400 USD/ngƣời/năm (năm 1990) đƣợc xếp thứ

110/171 trên thế giới. nằm trong nhóm các nƣớc cực nghèo.

Năm 2007, thu nhập bình quân đầu ngƣời của Việt Nam khoảng 835

USD/năm, xếp 122/177 quốc gia về thu nhập bình quân đầu ngƣời.

- Chỉ tiểu phát triển con ngƣời (HDI):

Chỉ tiêu này do Chƣơng trình phát triển liên hợp quốc đƣa ra gồm 3 chỉ

tiêu chính:

+ Tuổi thọ trung bình dân cƣ

+ Trình độ học vấn, bao gồm tỉ lệ biết đọc, biết viết của dân cƣ, số năm

đi học trung bình của ngƣời dân.

+ Thu nhập bình quân đầu ngƣời.

HDI của Việt Nam đƣợc đo trong năm 2004 là 0,709 và đứng ở vị trí 109

trong tổng số 177 nƣớc đƣợc xếp hạng. Mới đây, Theo “Báo cáo phát triển con

ngƣời năm 2007/2008” của Liên Hợp Quốc cho thấy, Việt Nam hiện chỉ có chỉ

số phát triển con ngƣời HDI ở hạng trung bình, với chỉ số là 0,733. So với năm

trƣớc, Việt Nam đã tăng 4 bậc từ vị trí 109 lên 105 trong số 177 nƣớc.

- Chỉ tiêu chất lƣợng cuộc sống (PQLI):

Đề cập vào ba điểm có tính phổ biến về nhu cầu cơ bản của con ngƣời:

+ Tuổi thọ dự báo khi một tuổi

+ T lệ tử vong của trẻ sơ sinh

+ T lệ xoá mù chữ

Sự kết hợp chỉ tiêu GNP, HDI, PQLI cho phép nhìn nhận nƣớc giàu,

nghèo chính xác và khách quan hơn. Nó cho phép đánh giá khách quan và

tồn diện sự phát triển con ngƣời trên các mặt kinh tế, văn hố, xã hội.



17



1.1.1.5. Các tiêu chí đánh giá đói nghèo ở Việt Nam

- Chỉ số đánh giá đói nghèo:

Dựa trên những định nghĩa về đói nghèo ở Việt Nam, thƣớc đo sử dụng

phổ biến hiện nay để đánh giá nghèo khổ về thu nhập là đếm số ngƣời sống

dƣới chuẩn nghèo.

Tỉ lệ nghèo đƣợc tính bằng tỉ lệ phần trăm của dân số. Việc sử dụng chỉ

số này là cần thiết để đánh giá tình trạng nghèo và những thành công trong

mục tiêu “giảm nghèo” của quốc gia và thế giới.

Khoảng cách nghèo là phần chênh lệch giữa mức chi tiêu của ngƣời

nghèo với ngƣỡng nghèo, tính bằng tỉ lệ phần trăm so với ngƣỡng nghèo. Khi

so sánh nhóm dân cƣ trong một nƣớc, khoảng cách nghèo cho biết tính chất

và mức độ nghèo khổ khác nhau giữa các nhóm.

* Chỉ tiêu đánh giá:

Các chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá nghèo đói ở Việt Nam đƣợc tính

trên nhiều phƣơng diện khác nhau căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã

hội của nƣớc ta và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cƣ hiện

nay. Có thể đƣa ra một số chỉ tiêu chính để đánh giá đói nghèo nhƣ sau:

- Chỉ tiêu về thu nhập:

Thu nhập bình quân một ngƣời một tháng (hoặc năm) đƣợc đo bằng chỉ

tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thƣờng dùng lƣơng thực (gạo) để đánh giá.

Thu nhập ở đây đƣợc hiểu là thu nhập thuần tuý và cần xác định rõ chỉ tiêu

thu nhập bình qn nhân khẩu tháng để xác định mức đói nghèo.

- Chỉ tiêu về nhà ở và tiện nghi sinh hoạt:

Căn cứ trên hiện trạng về nhà cửa và các đồ dùng sinh hoạt. Chỉ tiêu này

mang tính chất tƣơng đối vì phụ thuộc vào thời điểm đánh giá chỉ tiêu.

- Chỉ tiêu tư liệu sản xuất:

Những ngƣời nghèo đói có ít thậm chí rất ít tƣ liệu sản xuất bên cạnh đó



18



tƣ liệu sản xuất của họ lại thơ sơ. Một bộ phận lớn ngƣời nghèo còn thiếu

ruộng đất canh tác, sản xuất.

- Chỉ tiêu về vốn:

Tính trên số tiền đƣợc sử dụng vào sản xuất kinh doanh. Ngƣời nghèo

hiện nay đa phần là đi vay nợ hoặc vay tín dụng của ngân hàng và các tổ chức

tài chính vi mơ.

Hiện nay, các chỉ tiêu đánh giá nghèo đói còn xét trên nhiều yếu tố khác

nhƣ giáo dục, y tế, nguy cơ dễ bị tổn thƣơng, khơng có tiếng nói và khơng có

quyền lực.

* Chuẩn nghèo:

Để xác định đƣợc ngƣỡng nghèo đói thì điểm mấu chốt của vấn đề phải

xác định đƣợc chuẩn mực đói nghèo. Do chuẩn đói nghèo là khái niệm động,

nó biến động theo thời gian và không gian nên không thể đƣa ra đƣợc những

chuẩn mực chung cho đói nghèo để áp dụng trong cơng tác xóa đói giảm

nghèo, mà cần phải có các chỉ tiêu, tiêu chí riêng cho từng vùng, miền ở từng

thời kỳ lịch sử.

Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới đƣa ra kiến nghị, thang đo

nghèo đói nhƣ sau:

Đối với những nƣớc nghèo thì các cá nhân bị coi là nghèo khi có thu

nhập dƣới 0,5 USD/ngày, các nƣớc đang phát triển là 1 USD/ngày, các nƣớc

thuộc Châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày, các nƣớc thuộc Đông Âu

là 4 USD/ngày, các nƣớc công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.

Tuy nhiên, các quốc gia đều đƣa ra chuẩn đói nghèo riêng của mình,

thơng thƣờng là thấp hơn mức đói nghèo mà Ngân hàng thế giới đƣa ra. Ví dụ

nhƣ là nƣớc Mỹ đƣa ra chuẩn nhèo là thu nhập dƣới 11,1 USD/ngƣời/ngày,

Trung Quốc đƣa ra chuẩn nghèo là thu nhập dƣới 0,53 USD/ngƣời/ngày.

Hiện nay, Việt Nam dựa vào hai căn cứ để xác định chuẩn nghèo. Một



19



là, căn cứ vào chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao động - Thƣơng binh và

Xã hội đƣa ra để áp dụng trong cơng tác xố đói giảm nghèo theo tiêu chí thu

nhập bình qn đầu ngƣời. Hai là, chuẩn nghèo của Nhà nƣớc do Tổng cục

Thống kê và Ngân hàng Thế giới đƣa ra để đánh giá đói nghèo trên giác độ vĩ

mô, dựa theo mức chi tiêu thông qua các cuộc điều tra mức sống dân cƣ.

Chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội

công bố đã điều chỉnh qua 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1993-1995: Với yêu cầu cấp bách về chỉ đạo công tác XĐGN,

Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội đã đƣa ra chuẩn đói nghèo của nƣớc ta

nhƣ sau:

- Hộ đói ở khu vực nơng thơn có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời quy

ra gạo là dƣới 8 kg/ngƣời/tháng.

- Hộ đói ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời quy

ra gạo là dƣới 13 kg/ngƣời/tháng.

- Hộ nghèo ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình qn đầu ngƣời

quy ra gạo là dƣới 15 kg/ngƣời/tháng.

- Hộ nghèo ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình qn đầu ngƣời

quy ra gạo là dƣới 20 kg/ngƣời/tháng.

Giai đoạn 1995-1997:

- Hộ đói là hộ có thu nhập bình qn đầu ngƣời quy ra gạo là dƣới

13kg/ngƣời/tháng cho mọi vùng.

- Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình qn đầu ngƣời quy ra gạo là dƣới

20kg/ngƣời/tháng đối với khu vực thành thị, dƣới 20kg đối với khu vực nông

thôn đồng bằng và dƣới 15 kg đối với khu vực nông thôn miền núi, hải đảo.

Giai đoạn 1997-2000: Theo Thông báo số 1751/LĐ-TBXH ngày

20/5/1997 của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định nhƣ sau:

- Hộ đói cho mọi khu vực có mức thu nhập dƣới 13kg gạo, tƣơng ứng

với 45.000đồng/ngƣời/tháng.



20



- Hộ nghèo khu vực nơng thơn miền núi, hải đảo có mức thu nhập dƣới

15kg gạo, tƣơng ứng với 55.000 đồng/ngƣời/tháng.

- Hộ nghèo khu vực nông thôn đồng bằng, trung du có mức thu nhập

dƣới 20kg gạo, tƣơng ứng với 70.000 đồng/ngƣời/tháng.

- Hộ nghèo khu vực thành thị có mức thu nhập dƣới 25kg gạo, tƣơng

ứng với 90.000đồng/ngƣời/tháng.

Theo tiêu chí này, đến hết năm 1997 cả nƣớc còn khoảng 2,65 triệu hộ

nghèo đói, chiếm t lệ 17,7%, trong đó có 300.000 hộ thƣờng xuyên đói,

1.498 xã có t lệ nghèo đói từ 40% trở lên. Đến cuối năm 2000, tình trạng đói

cơ bản đƣợc giải quyết.

Giai đoạn 2001-2005: Theo Quyết định số 1143/QĐ-LĐTBXH ngày

01/11/2000 của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thì chuẩn hộ nghèo

đƣợc điều chỉnh theo chuẩn mức thu nhập bình quân một đầu ngƣời trong hộ

cho từng vùng nhƣ sau:

- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: Có thu nhập bình qn từ 80.000

đồng trở xuống/ngƣời/tháng.

- Vùng nơng thơn đồng bằng: Có thu nhập bình quân từ 100.000 đồng

trở xuống/ngƣời/tháng.

- Vùng thành thị: Có thu nhập bình quân từ 150.000 đồng trở

xuống/ngƣời/tháng.

Giai đoạn 2006-2010: Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày

8/7/2005 của Thủ tƣớng Chính phủ, chuẩn nghèo giai đoạn này đƣợc tăng lên

cho phù hợp với mức sống của nhân dân, số hộ nghèo theo tiêu chí cũ đã giảm

đáng kể, đồng thời đƣa ra chuẩn đói nghèo mới để gần với chuẩn đói nghèo

của khu vực và quốc tế.

- Vùng nông thôn: Thu nhập bình quân từ 200.000 đồng trở

xuống/ngƣời/tháng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thông thường nguyên nhân dẫn đến nghèo đói thường được tiếp cận thành hai nhóm: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×