Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của ngƣời dân hầu

nhƣ chỉ chi đủ cho nhu cầu ăn, thậm chí khơng đủ chi cho nhu cầu ăn, phần tích

lũy hầu nhƣ khơng có. Ngồi ra, các nhu cầu khác nhƣ ở, mặc, y tế, văn hóa,

giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đƣợc đáp ứng một phần rất ít ỏi.

Đói là một khái niệm biểu đạt tình trạng con ngƣời ăn khơng đủ no, khơng

đủ năng lƣợng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày, do đó khơng đủ

sức để lao động và tái sản xuất sức lao động.

Khi xác định tiêu chí và mức nghèo đói, các cơng trình nghiên cứu

quốc tế thƣờng chia làm hai cấp độ : phận định giữa các quốc gia và giữa các

nhóm dân cƣ, từ đó xác định các quốc gia giàu, nghèo trên thế giới và phân

chia dân cƣ của mỗi quốc gia hoặc từng địa phƣơng thành nhóm giàu, nghèo.

Hiện nay, hầu hết các tổ chức quốc tế nhƣ Liên Hợp Quốc, Ngân hàng

Thế giới đều đã mở rộng khái niệm đói nghèo, trong đó bao hàm cả những

nhu cầu vật chất tối thiểu và những nhu cầu xã hội khác. Theo đó, đói nghèo

bao gồm những khía cạnh cơ bản sau:

Trƣớc tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất.

Sự hƣởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế.

Nguy cơ dễ bị tổn thƣơng và dễ gặp rủi ro.

Không có tiếng nói và quyền lực của ngƣời nghèo .

Nhƣ vậy, trong những khía cạnh đƣợc nêu ở trên thì yếu tố đầu tiên và

cũng là cơ bản nhất chính là sự khốn cùng về vật chất. Ngân hàng Thế giới

xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tƣơng đƣơng của địa phƣơng so

với đô la Thế giới để thoả mãn nhu cầu sống nhƣ là chuẩn nghèo tuyệt đối.

Sau đó, trong Chƣơng trình Liên hiệp quốc năm 1997, để phân định rõ ranh

giới giữa nghèo tuyệt đối, Ngân hàng Thế giới đã đƣa ra chuẩn nghèo tuyệt

đối cho từng địa phƣơng hay từng khu vực đƣợc xác định từ 2 đô la cho Châu



7



Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nƣớc Đông Âu cho đến 14,40

đô la cho những nƣớc công nghiệp.

Theo quyết định số 143/2001/QĐ - TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ngày

27 tháng 9 năm 2001 về việc phê duyệt “Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xố

đói và giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005”, những hộ nghèo có thu nhập bình

qn đầu ngƣời ở khu vực nơng thơn, miền núi, hải đảo từ 80.000

đồng/ngƣời/tháng (960.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu

vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình qn đầu ngƣời

từ 100.000 đồng/ngƣời/tháng (1.200.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ

nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập từ 150.000

đồng/ngƣời/tháng (1.800.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Theo Quyết định số 170/2005/QĐ - TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ngày

8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn

2006 - 2010 thì ở khu vực nơng thơn, những hộ có thu nhập từ 200.000

đồng/ngƣời/tháng (2.400.000 đồng/ ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu

vực thành thị những hộ có thu nhập bình qn từ 260.000 đồng/ngƣời/tháng

(3.120.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21/9/2010 của Thủ tƣớng Chính phủ

về việc tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc phục vụ cho việc thực hiện các

chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011-2015 thì tiêu chí hộ nghèo đƣợc quy

định: Đối với khu vực nơng thơn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ

400.000 đồng/ngƣời/tháng (4.800.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ

nghèo; Đối với khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân từ

500.000 đồng/ngƣời/tháng (6.000.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Sau đó, theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm

2011 của Thủ tƣớng Chính phủ, về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận

nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015, thì ở khu vực nơng thơn, những hộ



8



có mức thu nhập từ 400.000 đồng/ngƣời/tháng (4.800.000 đồng/ ngƣời/năm)

trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có mức thu nhập bình

qn từ 500.000 đồng/ngƣời/tháng (6.0000.000 đồng/ngƣời/năm) trở xuống là

hộ nghèo. Đối với tiêu chí hộ cận nghèo đƣợc xác định nhƣ sau: Khu vực

nơng thơn, những hộ có mức thu nhập bình qn từ 401.000 - 520.000

đồng/ngƣời/tháng là hộ cận nghèo; khu vực thành thị, những hộ có mức thu

nhập bình qn từ 501.000 - 650.000 đồng/ngƣời/tháng là hộ cận nghèo. Đây

là những quy định mới nhất về chuẩn nghèo để tiến hành điều tra, lập danh

sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên tồn quốc.

Trong thực tế, đói nghèo khơng phải là một khái niệm cố định cho mọi

thời kỳ, mọi vùng miền, mọi quốc gia. Nó là một khái niệm động, do vậy căn

cứ vào quy mô và tốc độ tăng trƣởng kinh tế, nguồn lực tài chính và qua nhiều

cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu nƣớc ta đã đƣa ra chỉ tiêu về đói nghèo

phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam trong từng giai đoạn:

- Thu nhập bình quân đầu ngƣời theo tháng hoặc năm, đây là chỉ tiêu cơ

bản nhất để xác định mức đói nghèo. Chỉ tiêu này đƣợc quy thành giá trị hiện

vật quy đổi, thƣờng lấy lƣơng thực quy thóc để đánh giá. Việc sử dụng hình

thức quy đổi hiện vật nhằm loại bỏ những ảnh hƣởng của yếu tố giá cả trong

điều kiện khơng ổn định, từ đó có thể so sánh mức thu nhập của ngƣời dân

theo thời gian đƣợc dễ dàng thuận tiện.

- Ngồi ra còn một số chỉ tiêu khác nhƣ: Chế độ dinh dƣỡng bữa ăn

(kcal/ngƣời), nhà ở, ăn mặc, tƣ liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện

chữa bệnh, đi lại…

1.1.1.2. Các nguyên nhân dẫn đến nghèo

Nghèo đói là hiện tƣợng xuất hiện từ lâu trong xã hội. Đã hàng trăm

năm nay, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng lý giải hiện tƣợng nghèo đói, nhất

là nguyên nhân và cách khắc phục. Có thể nói, tiếp cận ngun nhân nghèo



9



đói và phân hố giàu nghèo rất đa dạng. Có những nhà nghiên cứu tiếp cận

theo khía cạnh thuần tuý kinh tế, cũng có những nhà nghiên cứu tiếp cận

ngun nhân nghèo đói và phân hố giàu nghèo chủ yếu từ khía cạnh nhân

chủng học hoặc dân số học. Đồng thời cũng xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu

tiếp cận cả nguyên nhân về tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội.

Cùng tham gia tìm kiếm các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, các nhà

nghiên cứu trên thế giới đã phân tích khá tồn diện các ngun nhân dẫn đến

nghèo đói. Tuy vậy, cách tiếp cận phân tích các ngun nhân dẫn đến giàu

nghèo và phân hố thu nhập rất đa dạng. Nhiều nhà xã hội học hiện đại khái

quát 4 nhóm nhân tố liên quan đến giàu nghèo là tài sản, trí tuệ, uy tín và

quyền lực.

Thơng thƣờng ngun nhân dẫn đến nghèo đói thƣờng đƣợc tiếp cận

thành hai nhóm: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

* Nguyên nhân khách quan:

Nghèo đói là một vấn đề mang tính xã hội, xuất phát từ nhiều nhóm

nguyên nhân khác nhau.

Thứ nhất là nhóm nguyên nhân do điều kiện khắc nghiệt của môi

trƣờng tự nhiên, đây là một trong các nguyên nhân khách quan dẫn đến đói

nghèo. Ngƣời nghèo thƣờng tập trung sinh sống tại các khu vực vùng cao,

miền núi và ven biển. Đây là những khu vực chịu các điều kiện khắc nghiệt về

khí hậu, thiên tai, lũ lụt, hạn hán. Với những điều kiện khí hậu khắc nghiệt đó,

việc phát triển kinh tế chủ yếu là ngành nơng nghiệp gặp rất nhiều khó khăn,

ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống của ngƣời dân.

Thứ hai, điều kiện về tài nguyên đất đai là có hạn, khan hiếm và cằn

cỗi. Đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, thiếu đất

đai hoặc đất đai quá cằn cỗi khiến ngƣời nghèo không thể tiến hành sản xuất

nơng nghiệp một cách có hiệu quả, năng suất cây trồng và vật nuôi thấp, từ đó

làm gia tăng tình trạng đói nghèo.



10



Thứ ba, đa phần địa hình những khu vực tập trung ngƣời nghèo sinh

sống thƣờng rất phức tạp, hệ thống cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, giao thơng

đi lại khó khăn. Những điều này đã gây khó khăn, trở ngại cho việc ngƣời dân

trong việc tiếp cận thông tin, thị trƣờng và đặc biệt là việc tham gia các

chƣơng trình đào tạo nâng cao trình độ và kỹ thuật sản xuất.

Thứ tư, cơ chế, chính sách và sự quản lý của Nhà nƣớc cũng là ngun

nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo. Đây là những nguyên nhân mang tính

khách quan đối với ngƣời dân nhƣng lại là chủ quan đối với sự nghiệp phát

triển kinh tế - xã hội nói chung và cơng cuộc XĐGN nói riêng.

Các chính sách có ảnh hƣởng trực tiếp đến cơng tác XĐGN là những

chính sách trong các lĩnh vực nhƣ chính sách đầu tƣ các cơ sở hạ tầng cho

vùng núi cao, vùng sâu, chính sách khuyến khích sản xuất và vấn đề tín dụng,

hƣớng dẫn cách làm ăn, chuyển giao công nghệ tạo việc làm, tăng thu nhập,

cung cấp hỗ trợ các dịch vụ y tế, giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí,...

Cơ chế, chính sách của Nhà nƣớc là kim chỉ nam trong mọi hành động

của các chủ thể trong xã hội. Nếu các cơ chế, chính sách do Nhà nƣớc ban

hành và sự lãnh đạo, quản lý đất nƣớc nói chung và kinh tế nói riêng là tốt, có

hiệu quả thì kinh tế khơng ngừng phát triển, thu nhập của ngƣời dân nói

chung và ngƣời nghèo nói riêng ngày càng cao, đời sống của ngƣời dân đƣợc

cải thiện. Ngƣợc lại, nếu cơ chế chính sách thiếu hoặc khơng đồng bộ, cơng

tác quản lý lơ là, khơng có hiệu quả, chiến lƣợc kinh tế đƣa ra khơng khoa

học, mang tính phong trào, thiếu tính khả thi, gây lãng phí ... thì lúc này ngƣời

chịu thiệt thòi nhiều nhất chính là những ngƣời nghèo. Thu nhập không tăng,

chất lƣợng cuộc sống giảm sút, khả năng gánh chịu tổn thƣơng của ngƣời

nghèo tăng thêm. Điều này sẽ làm trầm trọng thêm nữa tình trạng đói nghèo

của quốc gia.

Với những nguyên nhân mang tính khách quan này đã gây khơng ít trở



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢM NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×