Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tính đến hết năm 2015, trên địa bàn huyện Tân Sơn có tổng 47 doanh nghiệp với cơ cấu: 10 công ty cổ phần, 23 công ty TNHH, 5 doanh nghiệp tư nhân và 9 hợp tác xã và đã giải quyết việc làm được 2.260 lao động.

Tính đến hết năm 2015, trên địa bàn huyện Tân Sơn có tổng 47 doanh nghiệp với cơ cấu: 10 công ty cổ phần, 23 công ty TNHH, 5 doanh nghiệp tư nhân và 9 hợp tác xã và đã giải quyết việc làm được 2.260 lao động.

Tải bản đầy đủ - 0trang

90



cơ quan nhà nƣớc tăng cƣờng cung cấp thông tin về triển khai các chính sách

GQVL đến từng hộ gia đình và ngƣời lao động trên địa bàn là rất quan trọng do

ngƣời dân vẫn chủ yếu tin tƣởng vào luồng thơng tin này. Chính vì vậy việc hình

thành một hệ thống thơng tin chính thức về triển khai chính sách GQVL là rất cần

thiết đối với các hộ gai đình và ngƣời lao động trong tồn huyện.

g, Ngun nhân khác

Trong tổng số 130 ngƣời( phiếu) đƣợc hỏi thì có 3 ngƣời trong số đó trả lời

thiếu việc làm do những nguyên nhân khác, chiếm 2,30%, dù chiếm tỷ lệ rất ít

nhƣng phản ánh thực tế về tình hình lao động việc làm ở khu vực nông thôn. Khi

hỏi trực tiếp họ phần lớn họ trả lời chủ yếu tập trung vào một số nguyên nhân nhƣ:

sự tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết đặc biệt là thiên tai hạn hán, lũ lụt dịch

bệnh; tác động do canh tác của con ngƣời dẫn đến bạc màu, rữa trôi đất làm cho một

số diện tích đất khơng thể canh tác đƣợc; q trình đơ thị hóa, sự phát triển quá

nhanh của dân số dẫn đến quỹ đất dùng trong canh tác phải chuyển đổi mục đích sử

dụng, và việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ngồi ra q trình tích tụ đất vì một số lí

do nào đấy dẫn đến một bộ phận lớn lao động ở khu vực nơng thơn thiếu việc làm.

3.2.6. Đánh giá chung v tình hình lao động và việc làm của huyện Tân Sơn

- Những thuận lợi trong giải quyết việc làm của huyện Tân Sơn.

Số lƣợng lao động của huyện Tân Sơn tƣơng đối dồi dào đều dƣ thừa qua các

năm và con số dƣ thừa đó sẽ ngày càng tăng lên do sự tác động của phát triển dân

số, sự sụt giảm quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp, sự chuyển dịch cơ cấu cây

trồng vật nuôi, việc ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào canh tác,

cũng nhƣ ứng dụng những giống cây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất, thâm canh.

Chất lƣợng lao động ở khu vực nơng thơn hiện nay của huyện nhìn chung

đang ở giai đoạn phát triển, là điều kiện để thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã

hội, với Số lƣợng lao động đông, trẻ, khỏe, đƣợc đặt trong môi trƣờng giáo dục, đào

tạo tiên tiến, đƣợc tiếp xúc trực tiếp với nền khoa học - công nghệ hiện đại, đƣợc

sống trong môi trƣờng kinh tế hợp tác đa phƣơng, đa ngành, cùng với tinh thần ham

học hỏi, cần cù chịu khó, u lao động, khả năng thích ứng, linh hoạt cao…



91



Việc làm của ngƣời lao động nói chung và của ngƣời lao động ở khu vực nơng

thơn nói riêng có nhiều chuyển biến theo chiều hƣớng tích cực, việc làm ở khu vực

nông thôn giờ đây không chỉ dừng lại ở những việc làm thuần nông mà phát triển

với nhiều lĩnh vực mới, ngành nghề mới, đa dạng và phong phú hơn, góp phần giải

quyết đƣợc ngày càng nhiều việc làm cho ngƣời lao động, đồng thời tạo ra nhiều

sản phẩm mang tính hàng hóa và đem lại nguồn thu nhập ổn định cho ngƣời lao

động ở khu vực nơng thơn.

- Những khó kh n trong giải quyết việc làm của huyện Tân Sơn.

Trình độ chun mơn kỹ thuật còn nhiều hạn chế, thể hiện ở số ngƣời đƣợc

đào tạo về mặt CMKT còn ít. Đây là yếu tố tạo nên rào cản đối với ngƣời lao động

ở khu vực nông thôn trong việc tiếp cận những thành tựu tiến bộ của khoa học cho

sản xuất kinh doanh. Chính vì thế, năng suất lao động tăng nhƣng rất chậm trong

khi lƣợng giá trị sức lao động bỏ ra để tạo ra một đơn vị sản phẩm lại rất nhiều. Sự

hạn chế về CMKT còn thể hiện trong việc thực hiện các khâu của một quy trình sản

xuất, phần lớn lao động nơng thơn làm việc theo thói quen, kinh nghiệm là chính,

điều đó khó có thể đáp ứng đƣợc các yêu cầu ngày càng khắt khe của ngƣời tiêu

dùng về mặt chất lƣợng sản phẩm, trong giai đoạn hiện nay khi mà các sản phẩm

của ngƣời nông dân ngày càng trở thành sản phẩm mang tính hàng hóa khơng chỉ

đối với thị trƣờng trong nƣớc mà còn vƣơn ra thị trƣờng thế giới.

Diện tích đất canh tác cho ngƣời lao động ít và ngày càng bị thu hẹp, manh

mún và phân tán trong khi số lao động không những khơng thay đổi mà còn tăng

lên, trong khi thời gian cần thiết để tiến hành lao động sản xuất thì quá ít dẫn đến

thời gian nhàn rỗi trong năm kéo dài, quãng thời gian nhàn rỗi đó, hầu nhƣ ngƣời

lao động khơng có việc làm. Bên cạnh đó, q trình cơng nghiệp hóa, đơ thị hóa

diễn ra khá chậm và không đều, các cơ sở sản xuất công nghiệp phát triển và tăng

nhanh về số lƣợng nhƣng quy mô tƣơng đối nhỏ vì thế giải quyết đƣợc rất ít việc

làm cho lao động ở khu vực nơng thơn. Ngồi ra, hạn chế về nguồn vốn cũng là một

trong những rào cản lớn đối với lao động nông thôn trong việc đầu tƣ mở rộng sản

xuất và tạo việc làm tại chỗ trong giai đoạn hiện nay.



92



3.3. Các giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn

huyện Tân Sơn tỉnh phú thọ trong thời gian tới

3.3.1. Quan điểm và định hướng chung

- Quan điểm định hướng trong GQVL của Đảng và Nhà nước

+ GQVL là một trong những ƣu tiên hàng đầu của Đảng, Nhà nƣớc và Chính phủ.

+ GDVL là một trong những giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn

Việt Nam và là nhiệm vụ quan trọng của các cấp chính quyền.

+ GDVL là chính sách quan trọng và cần có sự phối hợp giữa ngƣời dân và

chính quyền với đầu tƣ thích đáng, chính sách ƣu tiên của Nhà nƣớc.

- Quan điểm định hướng GQVL của tỉnh Phú Thọ

Mục tiêu: Phấn đấu đƣa Phú Thọ thốt khỏi tình trạng kém phát triển vào

năm 2017, duy trì tốc độ tăng trƣởng kinh tế hàng năm của Tỉnh trên 13,0% thời kỳ

2017 - 2020. Định hƣớng GQVL cho lao động trên toàn tỉnh nói chung, khu vực

nơng thơn nói riêng là giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng

lao động trong ngành công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ.

Định hướng chung trong GQVL: Nâng cao chất lƣợng và hiệu quả sử dụng

nguồn lao động; tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động theo hƣớng giảm lao động

nông-lâm-ngƣ nghiệp năm 2017 xuống 55%, năm 2020 là 50%, tăng lao động công

nghiệp-xây dựng năm 2017 lên 23% và năm 2020 lên 26%, tăng lao động dịch vụ

năm 2017 lên 19%, năm 2020 lên 22%; phấn đấu GQVL và ổn định việc làm bình

quân thời kỳ 2017 - 2020 là: 3- 4 vạn lao động; giảm tỷ lệ thất nghiệp đến năm 2017

còn 2 – 2.2%, năm 2020 còn 1,6 % so với lao động trong độ tuổi có khả năng lao

động. Phát triển Giáo dục - Đào tạo, dạy nghề và phát triển nguồn nhân lực, mở rộng

quy mô đào tạo nghề, giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp, đến năm 2017 có

47% lao động qua đào tạo, trong đó 30 - 35% đƣợc đào tạo nghề, năm 2020 trên 55%

- Quan điểm định hướng GQVL của huyện Tân Sơn

Đào tạo nghề cho ngƣời lao động hàng năm (chủ yếu là lao động nông thôn) đạt

tỷ lệ từ 3%/năm trở lên phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%,

trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp chứng chỉ là 21%.



93



Tỷ lệ lao động đƣợc đào tạo trong từng lĩnh vực đến năm 2020:

+ Lĩnh vực nông lâm nghiệp đạt 60%;

+ Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng đạt 70%;

+ Lĩnh vực dịch vụ đạt 40%.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, phấn đấu đào tạo, bồi dƣỡng tập huấn cho 11.645

ngƣời, trung bình mỗi năm 2.330 ngƣời (đào tạo ngh 1.330 người, bồi dưỡng tập

huấn 1.000 người), trong đó:

+ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo quyết định 1956/QĐ-TTg cho

2.645 lao động, liên kết đào tạo nghề khoảng 4.000 lao động (đến năm 2020 tỷ lệ

nghề nông nghiệp đạt 40%, nghề phi nông nghiệp đạt 60%).

+ Bồi dƣỡng tập huấn cho cán bộ, công chức cấp xã và cộng đồng dân cƣ theo

chƣơng trình 30a: 5.000 lƣợt ngƣời.

+ Xuất khẩu lao động 1.000 ngƣời (trung bình mỗi năm 200 ngƣời tham gia đi

xuất khẩu lao động tại các nƣớc Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung đông.

3.3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho người lao động ở khu

vực nông thôn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

3.3.2.1. T ng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, các cơ quan quản lý Nhà nước

đối với vấn đ GQVL

Đối với các cấp ủy Đảng trong huyện:

- Cần phải xây dựng đƣờng lối chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, bao

gồm chiến lƣợc về GQVL cho lao động một cách khả thi, đúng đắn, khoa học, phù

hợp với đặc trƣng từng vùng trên địa bàn huyện. Đƣờng lối chiến lƣợc này cần có

sự tham gia của quần chúng nhân dân. Chỉ đạo triển khai các chƣơng trình tạo việc

làm có hiệu quả và coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, cấp bách và lâu dài để

phát triển kinh tế, xã hội của huyện.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vấn đề GQVL trong nông thôn, giáo

dục thuyết phục cán bộ, công chức, viên chức, ngƣời dân về vai trò, ý nghĩa và tầm

quan trọng về GQVL trong giai đoạn mới.

- Cần phải đƣa vấn đề GQVL cho ngƣời lao động trở thành nhiệm vụ chính



94



trị của Đảng bộ huyện cũng nhƣ các Đảng bộ, Chi bộ trực thuộc, xem đó là một

trong những tiêu chí để đánh giá xếp loại Đảng bộ, Chi bộ cũng nhƣ mỗi Đảng viên.

Đối với chính quy n huyện:

- UBND huyện phải xây dựng đƣợc chiến lƣợc GQVL gắn chặt với các giải

pháp khả thi thực hiện chiến lƣợc này.

- GQVL phải đi đôi với việc chú trọng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực,

đặc biệt là nguồn nhân lực chất lƣợng cao.

- Có chính sách ƣu tiên thu hút vốn đầu tƣ hƣớng vào những ngành nghề có

khả năng thu hút đƣợc nhiều lao động, đặc biệt là số lao động phổ thơng, những

ngành nghề có nguồn nguyên liệu tại chỗ.

- Tăng cƣờng công tác quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật và các chính sách

đối với các hoạt động liên quan đến lao động, việc làm, tạo hành lang pháp lí thơng

thống và cơ chế hành chính gọn nhẹ nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát

triển. Đồng thời xử lí nghiêm minh những hành vi trái pháp luật trong sản xuất, kinh

doanh.

3.3.2.2. Giải pháp đối với các doanh nghiệp

Ƣu tiên phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn huyện và cần tập

trung vào các giải pháp sau:

- Ƣu tiên, khuyên khích và tạo điều kiện trong việc đăng ký thành lập các

doanh nghiệp, ƣu tiên các lĩnh vực giải quyết đƣợc nhiều lao động, các doanh

nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.

- Tạo điều kiện về vốn, cơ sở pháp lí cũng nhƣ mặt bằng trong sản xuất, kinh

doanh, tạo điều kiện trong việc cung cấp các kênh thơng tin cho các doanh nghiệp.

- Có chính sách dạy nghề, đào tạo nghề cho bộ phận lao động trên địa bàn

huyện nhằm phục vụ tốt cho các doanh nghiệp.

- Ƣu tiên phát triển các doanh nghiệp ở các ngành, nghề mới, chú trọng phát

triển các doanh nghiệp ở các nghề thủ công truyền thống, các Doanh nghiệp chế

biến các sản phẩm nông – lâm, nghiệp chăn ni thủy sản, các Doanh nghiệp có

chiến lƣợc phát triển kinh doanh theo hƣớng xuất khẩu.



95



3.3.2.3. Giải pháp phát triển các loại hình kinh tế tập thể

Giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế tập thể trong thời gian tới

của huyện là:

Thứ nhất, Huyện cần tập trung phát triển kinh tế tập thể trong tất cả các

ngành, lĩnh vực, địa bàn, trong đó trọng tâm là khu vực nông nghiệp. Giải pháp giúp

đỡ kinh tế tập thể phát triển bao gồm: đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ; ứng dụng khoa

học công nghệ, nắm bắt thông tin; mở rộng thị trƣờng và xây dựng các quỹ hỗ trợ

phát triển, giải quyết nợ tồn đọng trƣớc đây, khuyến khích việc tích luỹ và sử dụng

có hiệu quả vốn tập thể trong HTX.

Thứ hai, Huyện cần nghiên cứu các giải pháp nhằm đa dạng hóa các loại

hình kinh doanh, phù hợp với trình độ phát triển của các ngành, nghề, trên các địa

bàn, khuyến khích phát triển ở các ngành, nghề mới.

Thứ ba, tiếp tục nghiên cứu xây dựng mô hình HTX kiểu mới. Trên cơ sở

tổng kết các đơn vị làm tốt để tạo động lực phát triển, tăng sức hấp dẫn của kinh tế

tập thể, đa dạng hoá hình thức sở hữu trong kinh tế tập thể, phát triển các loại hình

Doanh nghiệp trong HTX và các hình thức liên hiệp HTX.

Thứ tư khuyến khích, huy động việc đóng góp cổ phần và nguồn vốn của

xã viên để không ngừng tăng thêm vốn đầu tƣ phát triển HTX; tăng tài sản và

quỹ không chia. Giải thể hoặc chuyển các HTX không hiệu quả theo quy định

của Luật HTX sang các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy

định của quy luật.

3.3.2.4. Giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình

Với cơ cấu ngành nơng nghiệp đang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế

huyện nhƣ hiện nay thì kinh tế hộ gia đình đóng vai trò rất quan trọng: Tính đến

năm 2015 trên tồn huyện có 18.173 hộ gia đình. Nhƣ vậy vai trò của kinh tế hộ rất

quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển cũng nhƣ trong việc GQVL cho

chính bản thân mỗi lao động trong hộ gia đình.

Để phát triển kinh tế hộ gia đinh, có thể đƣa ra một số giải pháp sau:

- Có chính sách thích hợp hỗ trợ phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất nhƣ

chính sách đất đai, thuế, khoa học cơng nghệ và thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm.



96



- Đa dạng hoá hoạt động kinh tế từng hộ theo tiềm năng nội tại, khuyến

khích kinh tế hộ sử dụng lao động làm thuê tại chỗ.

- Từng bƣớc phát triển kinh tế hộ nông - lâm nghiệp – chăn nuôi, Trang trại

thành các Doanh nghiệp nhỏ ở nơng thơn, có tƣ cách pháp nhân, bình đẳng với các

loại hình tổ chức kinh tế khác. Những hộ đủ tiềm lực về kinh tế, có nhu cầu sẽ đƣợc

tạo điều kiện thuận lợi nhất trong việc đăng ký thành lập Doanh nghiệp vừa và nhỏ

theo Luật Doanh nghiệp.

- Tập trung đầu tƣ thâm canh, thực hiện rộng rãi việc ứng dụng tiến bộ khoa

học kỹ thuật trong các khâu giống, phân bón, bảo vệ thực vật; đƣa các loại giống

tốt, chất lƣợng cao vào sản xuất; từng bƣớc nâng cao năng suất, chất lƣợng các sản

phẩm cây trồng, nâng dần tỷ trọng sản phẩm hàng hố trên cơ sở đảm bảo an tồn

lƣơng thực, thực hiện tốt công tác khuyến nông.

- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích cây cơng nghiệp, cây ăn

quả ở các vùng có lợi thế trong canh tác theo hƣớng hình thành các vùng chun

canh Chè, Mía, Cam rau sạch, sản xuất thực phẩm an toàn tạo thành thị trƣờng ổn

định trong việc cung cấp thực phẩm cho khu vực đô thị và các vùng phụ cận.

- Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, coi trọng việc nâng cao giá trị sản phẩm

chăn nuôi trong cơ cấu ngành nông nghiệp.

3.3.2.5. Giải pháp đẩy mạnh công tác đào tạo ngh cho người lao động

Đào tạo nghề cho lao động nói chung và lao động khu vực nơng thơn nói

riêng là một trong những giải pháp trƣớc mắt và lâu dài trong GQVL cho ngƣời lao

động. Xuất phát từ thực tế của huyện là lao động chủ yếu tập trung ở khu vực nông

thôn, lực lƣợng lao động nhiều trong khi trình độ nói chung và trình độ CMKT nói

riêng của bộ phận lao động này còn nhiều hạn chế, hầu hết chƣa qua đào tạo, quá

trình lao động sản suất chủ yếu mang tính kinh nghiệm, thói quen… Do vậy hiệu

quả trong q trình sản xuất khơng cao, ngƣời lao động gặp nhiều khó khăn trong

việc đổi mới phƣơng thức canh tác cũng nhƣ việc ứng dụng những thành tựu mới

của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bên cạnh đó cùng với q trình CNH, HĐH đất

nƣớc, ngƣời lao động khó khăn trong chuyển đổi nghề nghiệp. Chính vì vậy, việc



97



đẩy mạnh cơng tác đào tạo nghề cho ngƣời lao động vừa tạo cơ hội cho họ phát

triển sản xuất, nâng cao thu nhập cũng nhƣ việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ

cấu kinh tế, cơ cấu lao động trên địa bàn huyện trƣớc mắt và trong tƣơng lai.

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Quyết định số 1956/QĐ-TTg của

Thủ tƣớng chính phủ về phê duyệt đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến

năm 2020". Đây là cơ sở tạo hành lang pháp lý để các hoạt động đào tạo nghề cho lao

động nông thôn phát triển nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực nông thôn.

Thứ hai, đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn cần ƣu tiên trƣớc hết

là những khu vực dân cƣ nghèo, diện tích đất ít, thiếu nguồn vốn, xem đây là yếu tố

quyết định hàng đầu cho sự phát triển kinh tế gia đình của họ thơng qua các chính

sách hỗ trợ vốn đào tạo nghề phù hợp với điều kiện thực tiễn và nhu cầu ngành nghề

của xã hội.

Thứ ba, quá trình đào tạo nghề cho lao động phải đi kèm với các chƣơng

trình giải ngân nguồn vốn nhằm tạo cơ hội cho ngƣời lao động có đƣợc nguồn vốn

để trực tiếp đầu tƣ vào quá trình lao động sản xuất.

Thứ tư, đào tạo nghề gắn với việc giới thiệu việc làm cho ngƣời lao động

thông qua trung tâm dịch vụ việc làm, nhằm tạo điều kiện cho ngƣời lao động

chuyển đổi nghề nghiệp.

Thứ n m, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải xuất phát từ nhu cầu sử

dụng lao động thật sự của các Doanh nghiệp trên địa bàn; đồng thời dựa trên nhu

cầu thực tế về nghề nghiệp của ngƣời dân, đặc thù của vùng miền, trình độ của

ngƣời dân để xây dựng mơ hình, chƣơng trình và kế hoạch đào tạo hợp lý.

Bên cạnh đó, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải gắn với GQVL,

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, gắn với xóa đói, giảm nghèo và góp

phần bảo đảm an sinh xã hội ở nông thôn, gắn với việc xây dựng nông thôn mới.

3.3.2.6. Giải pháp GQVL cho lao động ở khu vực nơng thơn qua chương trình hợp

tác xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động là giải pháp trƣớc mắt nhằm GQVL cho bộ phận lao

động dƣ thừa trên địa bàn huyện, GQVL cho ngƣời lao động thông qua hợp tác xuất

khẩu có nhiều mặt ƣu điểm cũng nhƣ hạn chế.



98



V ưu điểm, GQVL thông qua xuất khẩu lao động sẽ giải quyết phần nào đó

bộ phận lao động dƣ thừa, thu nhập của ngƣời lao động cao hơn, ngƣời lao động có

vốn để đầu tƣ vào sản xuất, kinh doanh sau khi kết thúc hợp đồng lao động, quá

trình đào tạo để tham gia lao động ở nƣớc ngoài sẽ nâng cao tay nghề cũng nhƣ vốn

ngoại ngữ của ngƣời lao động, đồng thời họ tiếp cận đƣợc những cơng nghệ mới,

tiên tiến của nƣớc ngồi.

Hạn chế của việc giải quyết lao động thông qua xuất khẩu là mặc dù giải

quyết đƣợc việc làm trƣớc mắt, nhƣng về lâu dài sau khi kết thúc hợp đồng lao động

ngắn hạn (thƣờng là từ 2 đến 3 năm), ngƣời lao động lại phải tìm cơng việc mới ở

trong nƣớc, trong khi độ tuổi lao động của họ cao hơn. Vì thế, khả năng và thời gian

cống hiến lao động cho đất nƣớc sẽ hạn chế. Thêm nữa là việc thiếu vốn cho q

trình xuất khẩu lao động (có những hợp đồng lao động ngƣời lao động phải bỏ ra

chi phí hàng trăm triệu đồng) do vậy không phải ngƣời lao động nào cũng có cơ hội

xuất khẩu lao động. Xuất khẩu lao động mang tính rủi ro cao do phụ thuộc nhiều

vào tình hình phát triển kinh tế của quốc gia đó cũng nhƣ Doanh nghiệp mà ngƣời

lao động tham gia vào.

Chính vì vậy giải pháp trong việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động cần tập trung

vào một số nội dung sau:

Một là, tổ chức tốt việc đào tạo nâng cao chất lƣợng nguồn lao động xuất

khẩu, đáp ứng nhu cầu thị trƣờng lao động quốc tế.

Để thực hiện đƣợc yêu cầu trên, công tác đào tạo phải tập trung nâng cao

nghiệp vụ kỹ thuật nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, kiến thức ngoại ngữ, pháp

luật, truyền thống văn hóa của nƣớc mà ngƣời lao động sẽ sang làm việc. Xây dựng

các lớp đào tạo mở các lớp dành riêng cho xuất khẩu lao động. Việc cấp chứng chỉ

cơng nhận trình độ nghề nghiệp phải đƣợc thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định

của pháp luật.

Hai là, tạo điều kiện cho lao động đi xuất khẩu đƣợc vay vốn với lãi suất ƣu

đãi để trang trải chi phí đi lao động.

Đây là một trong những khó khăn của ngƣời lao động, việc vay vốn và trả nợ



99



là một gánh nặng lớn của ngƣời lao động, bởi vì hầu hết chi phí cho việc đi lao động

là rất lớn, nhiều rủi ro, đồng thời việc vay vốn phải có thế chấp, trong khi ngƣời

xuất khẩu lao động hầu hết là nghèo, độ tuổi khá trẻ do vậy gần nhƣ họ chƣa có vốn

cũng nhƣ tài sản để thế chấp để vay. Đặc biệt, cần phải có chính sách riêng đối với

lao động gặp rủi ro khi không thực hiện hết hợp đồng lao động ở nƣớc ngoài.

Ba là, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, các cơ quan quản lý, đảm

nhận việc xuất khẩu lao động.

Xuất khẩu lao động những năm qua phát triển mạnh mẽ và ồ ạt, tạo nên một

hiện tƣợng của xã hội. Chính vì sự phát triển quá nhanh nhƣ vậy dẫn đến việc các

quy định pháp lí khơng theo kịp, điều đó làm nảy sinh nhiều tiêu cực, bất hợp lí

trong vấn đề xuất khẩu lao động. Chẳng hạn, lợi dụng nhu cầu đi xuất khẩu lao

động, nhiều cá nhân, tổ chức thực hiện việc lừa đảo để chiếm đoạt tiền, hoặc thực

hiện không đầy đủ các cam kết trong hợp đồng. Phổ biến nhất là việc có quá nhiều

khâu, tổ chức trung gian tham gia quá trình xuất khẩu lao động.

Bốn là, đẩy mạnh hoạt động thông tin, tuyên truyền đối với hoạt động xuất

khẩu lao động.

Một trong những điểm hạn chế của xuất khẩu lao động trong thời gian qua là

việc ngƣời lao động thiếu thông tin, hoặc đƣợc cung cấp thông tin không đầy đủ về

những nội dung liên quan đến việc tham gia xuất khẩu lao động, do vậy nhiều lao

động đã bị lừa hoặc phải làm những công việc không đúng với chuyên môn, hƣởng

tiền công không đúng nhƣ cam kết trong hợp đồng lao động. Chính vì vậy, việc

cung cấp thơng tin đầy đủ và chính xác sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngƣời lao

động tìm đƣợc việc làm phù hợp với năng lực và sở trƣờng của bản thân ngƣời lao

động, hạn chế tối đa những tiêu cực khơng đáng có. Để làm đƣợc việc này huyện

cần quy định rõ những cơ quan, Doanh nghiệp nào đƣợc phép cung cấp thông tin và

tổ chức cho ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài. Có những biện pháp xử lí

cứng rắn đối với các hành vi sai trái, tiêu cực trong vấn đề này.

N m là, có chính sách hợp lí đối với lao động sau khi kết thúc hợp đồng lao

động ở nƣớc ngoài.



100



Hầu hết ngƣời lao động xuất khẩu sau khi kết thúc hợp đồng lao động

(khoảng từ 2 đến 3 năm) trở về nƣớc họ lại rơi vào tình trạng thất nghiệp, thiếu việc.

Mặc dù có trong tay một khoản vốn nhất định nhƣng không phải ai trong số họ cũng

dùng khoản vốn đó đầu tƣ vào q trình SXKD. Vì vậy, huyện cần có chính sách

trong GQVL cho lao động sau xuất khẩu.

3.3.2.7. Giải pháp hỗ trợ vay vốn tạo việc làm, nâng cao thu nhập

Vốn là yếu tố quan trọng để tự tạo việc làm, phát triển các ngành nghề mới

nhằm nâng cao thu nhập. Cần tạo điều kiện cho ngƣời dân bị thu hồi đất đƣợc vay

vốn ngân hàng để phát triển các ngành nghề sản xuất mới đối với những ngƣời có

điều kiện và mong muốn chuyển đổi nghề, kể cả những ngƣời muốn phát triển sản

xuất nơng nghiệp ở quy mơ cao hơn.

Chính sách tạo vốn cho lao động có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy GQVL

ở nông thôn. Tạo điều kiện thuận lợi và giải quyết nhanh chóng khi nơng dân có

nhu cầu vay vốn đầu tƣ sản xuất, mở rộng quy mô trang trại, kinh tế hộ gia đình.

Cần thực hiện cơ chế cho vay ƣu đãi đối với nhóm lao động yếu thế nhƣ hộ nghèo,

hộ gia đình ở vùng đặc biệt khó khăn, hộ gia đình trẻ mới tách hộ, hộ gia đình tàn

tật,… vay vốn với lãi suất ƣu đãi và có sự hƣớng dẫn sử dụng một cách có hiệu quả.

3.3.2.8. Tiếp tục triển khai các chương trình, dự án để GQVL

- Tiếp tục kêu gọi đầu tƣ các Chƣơng trình, dự án về huyện. Cải cách các thủ tục

hành chính nhằm tạo mơi trƣờng kinh doanh bình đẳng, thơng thống, thuận lợi, minh

bạch; nâng cao chất lƣợng dịch vụ hành chính và chất lƣợng dịch vụ cơng; đảm bảo sự

thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch của thủ tục hành chính giảm thiểu

chi phí về thời gian và kinh phí, sự thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp

trong đầu tƣ các chƣơng trình, dự án từ đó GQVL cho lao động nông thôn.

- Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án để sớm hình thành khu đơ thị nhằm

tạo điều kiện để giải quyết thêm việc làm từ lĩnh vực phi nơng nghiệp cho lao động

nơng thơn.

- Khắc phục tình trạng “quy hoạch treo”, đất đã đƣợc thu hồi nhƣng không

triển khai dự án theo đúng tiến độ, hoặc chủ đầu tƣ nhận đất nhƣng cũng không



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tính đến hết năm 2015, trên địa bàn huyện Tân Sơn có tổng 47 doanh nghiệp với cơ cấu: 10 công ty cổ phần, 23 công ty TNHH, 5 doanh nghiệp tư nhân và 9 hợp tác xã và đã giải quyết việc làm được 2.260 lao động.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×