Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong thực tế đa số lao động ở khu vực nông thôn có trình độ văn hóa không cao, ít được trang bị về trình độ CMKT, đặc biệt là nghề dài hạn. Nhiều lao động đã qua đào tạo ở các cấp trình độ cao đẳng, đại học, song phần lớn họ đều thoát li khỏi địa phư...

Trong thực tế đa số lao động ở khu vực nông thôn có trình độ văn hóa không cao, ít được trang bị về trình độ CMKT, đặc biệt là nghề dài hạn. Nhiều lao động đã qua đào tạo ở các cấp trình độ cao đẳng, đại học, song phần lớn họ đều thoát li khỏi địa phư...

Tải bản đầy đủ - 0trang

81



Trong tổng số 127 ngƣời đƣợc hỏi thì lĩnh vực sản xuất thuần nông là 85

ngƣời, chiếm 66,93%; dịch vụ và TTCN hoặc nông nghiệp kiêm thêm dịch vụ

TTCN 31 ngƣời, chiếm 24,41%; ngành nghề khác hoặc nông nghiệp kiêm thêm các

ngành nghề khác 11 ngƣời, chiếm 8,66%.

Thiếu việc làm:

Thời gian làm việc trung bình của ngƣời lao động trong tháng không nhiều,

qua điều tra cho thấy: Số ngƣời làm việc trung bình trong tháng dƣới 15 ngày là 53

ngƣời, chiếm 41,73%; từ 15 đến 21 ngày là 41 ngƣời, chiếm 32,3%; từ 22 đến 30

ngày là 20 ngƣời, chiếm 15,74%; không thể xác định 13 ngƣời, chiếm 10.23% .

Bảng 3.13: Thời gian làm việc của ngƣời lao động trong vùng điều tra

Thời gian làm việc trong 1 Tổng

tháng



số



Tỷ lệ

(%)





Lai Đồng Tân Phú



Kiệt Sơn



Dƣới 15 ngày



53



41,73



21



14



18



Từ 15 đến ngày



41



32,3



11



18



12



Từ 22 ngày đến 30 ngày



20



15,74



4



7



9



Không thể xác định



13



10,23



5



4



4



Tổng cộng



127



100



41



43



43



(Nguồn: Số liệu đi u tra)



Hình 3.4: Tỷ lệ % thời gian làm việc của ngƣời lao động trong vùng điều tra



82



Nhƣ vậy thời gian làm việc trong tháng dƣới 15 ngày có 53 ngƣời chiếm

41,73% chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng thời gian làm việc trong tháng, còn số lao động

từ 15 đến 21 ngày là 41 ngƣời chiếm 32,3%, và từ 22 ngày trở lên rất ít chỉ có 20

ngƣời chiếm 15,74%, phần đa gần nhƣ 100% số ngƣời đƣợc hỏi sẽ trả lời có thiếu

việc làm, hầu nhƣ lao động nông thôn đều thiếu việc làm và khoảng thời gian thiếu

việc làm bao lâu phụ thuộc vào ngành, lĩnh vực mà ngƣời lao động đó tham gia.

Qua khảo sát thực tế thì ngƣời lao động nơng thơn cũng cần phải có ngày

nghỉ, các ngày lễ tết,... trừ ra 1 tháng trung bình 8 ngày, do đó 1 tháng làm việc có

22 ngày, cho nên đề tài sẽ xem những ngƣời có thời gian làm việc từ 15 ngày/tháng

trở lên là những ngƣời không thiếu việc làm (tổng số là 61 ngƣời). Số lao động còn

lại là thiếu việc làm, bao gồm những ngƣời làm việc dƣới 15 ngày, ngƣời làm việc

nhƣng không xác định đƣợc thời gian (tổng số là 66 ngƣời)

Nguyên nhân thiếu việc làm:

Bảng 3.14: Nguyên nhân thiếu việc làm tại vùng khảo sát

Nguyên nhân thiếu việc làm

Thiếu đất canh tác

Khơng có tay nghề

Thiếu các cơ sở tạo việc làm

Thiếu vốn sản xuất

Khác

Tổng Cộng



Tổng

số hộ

30

33

21

41

2

127



Tỷ lệ

(%)

23,62

25,99

16,53

32,29

1,57

100





Lai Đồng Tân Phú Kiệt Sơn

12

10

8

15

7

11

8

7

6

6

18

17

1

1

41

43

43

(Nguồn: Số liệu đi u tra)



Hình 3.5: Nguyên nhân thiếu việc làm tại vùng khảo sát



83



Qua số liệu điều tra thực tế nguyên nhân dẫn đến thiếu việc làm do thiếu vốn

sản xuất là nhiều nhất chiếm tới 32,29%, khơng có tay nghề 25,99% , thiếu đất canh

tác 23,62%. Điều này đã nói lên thực trạng thiếu vốn để sản xuất, kinh doanh, thiếu

đất canh tác đây là vấn đề rất khó khăn đối với sự phát triển kinh tế của huyện.

Công việc làm thêm của người nơng dân

Khi hỏi lúc rãnh rỗi có làm thêm để tăng thu nhập khơng thì trong tổng số

127 ngƣời đựơc hỏi thì có 63 ngƣời trả lời có làm thêm để tăng thu nhập, chiếm

49,60 %; có 64 ngƣời trả lời không làm thêm, chiếm 50,40%. Các công việc chủ

yếu làm thêm của ngƣời lao động trong vùng khảo sát là xây dựng, buôn bán nhỏ lẻ,

bốc vác, vận chuyển, Nhƣ hái chè tại xã Tân Phú Trong số ngƣời trả lời có đi làm

thêm thì có 29 ngƣời tự làm thêm tại gia đình, 34 ngƣời làm thuê; làm thêm ở lĩnh

vực dịch vụ có 26 ngƣời, làm ở lĩnh vực khác 12 ngƣời; làm ở lĩnh vực nông nghiệp

là 25 ngƣời; Địa điểm làm thêm ở cùng xã có 39 ngƣời, xã khác 24 ngƣời Thời gian

làm thêm trong tháng trung bình 10 ngày.

Bảng 3.15: Làm thêm của ngƣời lao động

Tính cơng

chất việc

Tự

Làm

làm

th

9

10







Tổng

số



Lai Đồng



19



Tân Phú



23



11



Kiệt Sơn



21



Tổng cộng



63



Lĩnh vực



Địa điểm



Nơng

nghiệp

10



Dịch vụ



Khác



Cùng Khác





11

6



6



3



12



7



11



5



16



7



9



12



8



9



4



12



5



29



34



25



26



12



39



24



(Nguồn: Số liệu đi u tra)

Qua tìm hiểu việc làm thêm của ngƣời lao động cho thấy nhu cầu làm thêm

của họ là rất lớn. Tuy nhiên, ngƣời lao động nông thôn phần nhiều là tận dụng thời

gian nông nhàn để làm thêm, do vậy GQVL cho họ trong khoảng thời gian này là

rất khó, bởi vì thời gian làm việc của họ sẽ bị gián đoạn trong năm chính vì thế

khơng đáp ứng đƣợc u cầu của cơng việc. Do vậy, lao động nơng nhàn khó có thể

giải quyết đƣợc hết.



84



3.2.4. Thực trạng thu nhập của lao động

Tình hình thu nhập bình quân/lao động trong hộ: dƣới 1 triệu đồng một tháng

là 59 ngƣời, chiếm 46,46% (trong đó có lao động thu nhập thấp nhất là

500.000đ/tháng); từ 1 đến 2 triệu đồng 42 ngƣời, chiếm 33,07%; trên 2 triệu đồng

26 ngƣời, chiếm 20,47% Những lao động có thu nhập cao là ngƣời có ngành phi

nơng nghiệp, chẳng hạn nhƣ: Buôn bán, dịch vụ, làm nghề xây dựng... hoặc vừa sản

xuất nông nghiệp, vừa buôn bán, dịch vụ.

Bảng 3.16: Thu nhập của lao động trong vùng điều tra

Thu nhập, mức sống trong 1 tháng



Tổng

số LĐ



tỷ

lệ%





Tân

Phú

16



Kiệt

Sơn

20



Thu nhập dƣới 1 triệu



59 46,46



Lai

Đồng

23



Thu nhập từ 1-2 triệu



42 33,07



12



16



14



Thu nhập trên 2 triệu



26 20,47



6



11



9



41



43



43



Tổng cộng



127



100



(Nguồn: Số liệu đi u tra)

3.2.5. Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của lao động tại huyện

Tân Sơn tỉnh Phú Thọ

a) Độ tuổi của lao động

Bảng 3.17: Ảnh hƣởng của độ tuổi đến việc làm và thu nhập

của ngƣời lao động

Tổng

Đủ

Độ tuổi

số

việc

ngƣời

làm

15-24

8

20

25-34

29

53

35-44

14

28

45-54

9

21

55-60

2

5

Cộng

127

61



Việc làm

Thiếu

Tỷ lệ

việc

%

làm

40,00

12

54,72

24

50,00

14

42,88

12

40,00

3

66



Tỷ lệ

%

60,00

45,28

50,00

57,14

60,00



Dƣới

1

triệu

10

21

13

11

4

59



Tỷ lệ

%

50,00

39,62

46,42

52,38

80,00



Thu nhập

Từ

Tỷ lệ Trên 2 Tỷ lệ

1-2

%

triệu

%

triệu

7 35,00

3

15,00

21 39,62

11

20,75

8

28,57

7

25,00

5

23,80

5

23,80

1

20,00

0

42

26

(Nguồn: Số liệu đi u tra)



Qua Số liệu điều tra cho thấy nhóm tuổi từ 15-24 là 20 ngƣời chiếm 15,75%; từ

25-34 là 53 ngƣời chiếm 41,73%; từ 35-44 là 28 ngƣời chiếm 22,05%; từ 45-55 là 21



85



ngƣời chiếm 16,53%; từ 56-60 là 5 ngƣời chiếm 3,94%; qua nghiên cứu về độ tuổi của

các lao động chúng ta sẽ chia thành 2 nhóm chính: nhóm có độ tuổi từ 15-34 và nhóm

có độ tuổi từ 35-60, qua đó để thấy đƣợc sự chênh lệch về độ tuổi ảnh hƣởng đến việc

làm và thu nhập của ngƣời lao động.

Thứ nhất: Nhóm từ 15-34 tuổi chiếm 57,48%. Đây là nhóm lao động có sức

khỏe, có khả năng nâng cao trình độ chun mơn thơng qua đào tạo, bồi dƣỡng, có khả

năng thích ứng tốt trƣớc những ảnh hƣởng của tác động bên ngồi nhƣ đơ thị hóa, hội

nhập kinh tế.

Thứ hai: Từ 36-60 chiếm 42,52%. Đây là lực lƣợng lao động đã nhiều tuổi, có

nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nơng nghiệp. Lực lƣợng lao động trong độ tuổi này

rất khó tìm kiếm, chuyển ngành nghề mới, họ chỉ có thể làm thêm theo kiểu lao động

tự do: bốc vác, thợ nề, làm thuê. Để thấy rõ hơn ảnh hƣởng của độ tuổi đến việc làm

và thu nhập của lao động.

Từ Bảng 17 cho thấy độ tuổi của lao động có ảnh hƣởng đáng kể tới việc làm

và thu nhập của lao động:

V thiếu việc làm: Chúng ta có thể thấy đƣợc nhóm tuổi từ 15-24 và nhóm có độ

tuổi từ 55-60 tuổi là thiếu việc làm nhƣ nhau, tiếp theo đó là nhóm có độ tuổi từ 45-54 là

57,14% và nhóm từ 35-44 là 50,00%, nhóm có độ tuổi thấp nhất là 25-34 tuổi (45,28%).

V đủ việc làm: Nhóm ngƣời độ tuổi 25-34 cao nhất (54,72%); độ tuổi 35- 44

(50,00%); độ tuổi 45-55 (42,88%); độ tuổi 15-24 và 55-60 là 40% nhƣ nhau.

Đối với thu nhập dƣới 1 triệu thứ tự nhƣ sau: Cao nhất là nhóm có độ tuổi từ 5560 (80,00%); nhóm 45-55 tuổi (52,38%); nhóm 15-24 tuổi (50,00%); nhóm 25-34 tuổi

(46,42%); thấp nhất là nhóm 25-34 tuổi (39,62%).

Về thu nhập trên 1 triệu đồng: Cao nhất là nhóm tuổi 25-34 (39,62%); tiếp theo

là nhóm 15-24 (35,00%); nhóm 35-44 (28,57% ); nhóm 45-55 (23,80%) nhóm thấp

nhất là nhóm tuổi 55-60 (20,00%).

Qua phân tích về độ tuổi lao động chúng ta có thể thấy rằng: Độ tuổi càng cao

thì việc làm và thu nhập càng giảm.

b) Trình độ học vấn và chun mơn của lao động

Trình độ học vấn của lao động trong vùng điều tra rất thấp, nó phản ánh chất

lƣợng lao động trong vùng điều tra



86



Bảng 3.18: Ảnh hƣởng của trình độ CMKT đến việc làm và thu nhập của ngƣời lao động

Tổng

Trình độ CMKT



số

ngƣời



Việc làm

Đủ

việc

làm



Tỷ lệ

%



Thu nhập



Thiếu

việc



Tỷ lệ %



làm



Dƣới 1



Tỷ lệ



triệu



%



Từ 12



Tỷ lệ %



triệu



Trên 2

triệu



Tỷ lệ %



1. Khơng có CMKT



57



10



17,54



47



82,46



36



63,16



16



28,07



5



8,77



2. Có CMKT



70



51



72,86



19



27,14



23



32,86



26



37,14



21



30,00



26



19



73,08



7



26,92



12



46,15



12



46,15



2



7,70



2.2. Học nghề ngắn hạn



19



13



68,42



6



31,58



8



42,10



10



52,63



1



5,26



2.3. Học nghề dài hạn



15



11



73,33



4



26,66



3



20,00



2



13,13



10



66,66



5



4



80,00



1



20,00



2



40,00



3



60,00



2.5. Cao đẳng



3



2



66,67



1



33,33



3



100



2.6. Đại học



2



2



100



2



100



127



61



48,03



26



20,47



2.1 Có chuyên mơn

nhƣng khơng có bằng



2.4. Trung học chun

nghiệp



Cộng



66



51,96



59



46,45



42



33,07



(Nguồn: Số liệu đi u tra)



87



Đối với bộ phận lao động có trình độ học vấn thấp, vấn đề áp dụng khoa học

kỹ thuật trong sản xuất rất hạn chế, chủ yếu làm việc trong nhóm ngành kinh tế

nơng nghiệp và trong khu vực hộ gia đình. (C n cứ vào bảng 3.10). Trình độ học

vấn thấp dẫn đến vấn đề đào tạo nghề, gặp nhiều trở ngại. Bộ phận lao động có học

vấn thấp rất khó khăn trong việc thích nghi với hồn cảnh mới, trong tổng số 127

ngƣời đựơc hỏi thì mới có 42 ngƣời học hết THPT chiếm 33,1%, còn số học hết

THCS và tiểu học là 85 ngƣời chiếm tới 66,9% nhƣ vậy với trình độ học vấn thấp sẽ

dẫn đến tình trạng áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất rất khó khăn lực lƣợng

lao động này có khả năng thất nghiệp rất cao.

Qua bảng 3.18 cho thấy có 83 lao động chƣa qua đào tạo chiếm 65,34%

trong tổng số lao động và có 26 ngƣời đƣợc học nghề bằng các hình thức kèm cặp

tại chỗ, do tự học nghề nên khơng có bằng, số này chiếm 20,5%, số lao động này

cũng đƣợc xem là chƣa qua đào tạo do vậy số lao động chƣa đƣợc đào tạo nên vấn

đề tìm việc làm của lao động gặp nhiều khó khăn, các Doanh nghiệp, tổ nhóm sản

xuất trên địa bàn chủ yếu cần tuyển dụng lao động có nghiệp vụ chuyên môn kỹ

thuật nên bộ phận lao động phổ thông không đáp ứng đƣợc yêu cầu của nhà tuyển

dụng do vậy ngƣời thiếu việc làm chủ yếu tập trung ở nhóm này.

Số lao động qua đào tạo học nghề dài hạn là 15 ngƣời chiếm 11,8%; học

nghề ngắn hạn là 19 ngƣời chiếm 15%; trung học chuyên nghiệp là 5 ngƣời chiếm

3,9%; Cao đẳng là 3 ngƣời chiếm 2,3%, Đại học 2 ngƣời chiếm 1,6%.

Trên đây chúng ta có thể thấy đƣợc chất lƣợng lao động đã qua đào tạo trong

vùng khảo sát (34,63%). Tuy nhiên vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu do chủ yếu vẫn là

lao động đƣợc đào tạo nghề ngắn hạn dƣới 1 năm. Vì vậy, nâng cao trình độ học vấn,

trình độ chun mơn kỹ thuật cho lao động là vấn đề bức bách cần phải giải quyết.

Trình độ chun mơn của lao động ảnh hƣởng khá lớn đến việc làm của lao

động nông thơn. Nhóm lao động chƣa qua đào tạo thiếu việc làm chiếm 82,46%; chỉ có

17,54% đủ việc làm. Nhóm lao động có CMKT đủ việc làm chiếm 72,86%; chỉ có

27,14% thiếu việc làm.

Đối với thu nhập, xu thế cũng nhƣ vậy. nhóm lao động chƣa qua đào tạo có thu

nhập dƣới 1 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ rất cao 63,16%; thu nhập từ 1-2 triệu



88



đồng/tháng chiếm 28,07%, chỉ có 8,77% thu nhập trên 2 triệu đồng/tháng. Nhóm lao

động có CMKT thu nhập dƣới 1 triệu đồng/tháng chỉ có 32,86%, thu nhập từ 1-2 triệu

đồng/tháng chiếm 37,14%, và thu nhập trên 2 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 30,00%.

Chứng tỏ giữa lao động chƣa qua đào tạo và lao động qua đào tạo có sự chênh lệch thu

nhập đáng kể, trình độ càng cao thu nhập càng cao.

Kết quả phân tích trên chỉ ra rằng, trình độ chun mơn của ngƣời lao động

có ảnh hƣởng rất lớn đến việc làm và thu nhập của lao động. Vì vậy, để GQVL,

nâng cao thu nhập cho lao động, một trong những giải pháp quan trọng là tăng

cƣờng đào tạo nghề cho lao động nhằm tạo điều kiện cho lao động có đƣợc việc làm

tăng thu nhập nhằm ổn định đời sống.

c) V Vốn

Vốn là yêu cầu thiết yếu nhất đối với ngƣời dân cho việc sản xuất và nó xuất phát

từ 2 nguồn chính là: Vốn tự có và vốn vay ngân hàng.

Về vốn vay từ Ngân hàng, các tổ chức tín dụng trên địa bàn huyện: Qua điều

tra thực tế, trong tổng số 127 lao động đƣợc hỏi thì có 107 ngƣời trả lời khơng vay

đƣợc vốn để SXKD, có 20 ngƣời trả lời có vay vốn để SXKD. Trong đó: Mức vay

dƣới 10 triệu đồng có 5 ngƣời, từ 10 đến 20 triệu đồng có 7 ngƣời, trên 20 triệu

đồng có 8 ngƣời.

Trong 20 lao động đƣợc vay vốn thì số vốn đó đƣợc ngƣời lao động đầu tƣ vào

sản xuất do vậy đã cơ bản giải quyết thêm việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời lao

động, cụ thể: 100% đủ việc làm. Thu nhập của số lao động đƣợc vay vốn SXKD tƣơng

đối cao, có 14 ngƣời có thu nhập trung bình trong tháng trên 2 triệu đồng, 6 ngƣời có

thu nhập từ 1-2 triệu đồng, khơng có lao động thu nhập dƣới 1 triệu đồng/tháng

Bảng 3.19: Ảnh hƣớng của vốn vay đến sản xuất và thu nhập

Vốn vay

sản xuất,

kinh

doanh

Có vay vốn



Tổng

số

ngƣời

20



Việc làm

Đủ



Tỷ



việc



lệ



việc



làm



%



20



100



Thu nhập



Thiếu Tỷ



Dƣới



Tỷ



Từ



lệ



1



lệ



1-2



làm



%



triệu



%



triệu



0



0



0



0



6



Tỷ lệ

%

30,00



Trên

2



Tỷ lệ

%



triệu

14



70,00



(Nguồn: Số liệu đi u tra)



89



d, CácVùng, mi n

Sự khác nhau giữa vùng miền trong huyện đã gây ra sự ảnh hƣởng không

nhỏ đến việc làm và thu nhập của lao động ở khu vực nơng thơn, huyện cần có sự

đầu tƣ để tạo việc làm cho lao động, đặc biệt phải tăng cƣờng hỗ trợ cho các xã

vùng đồi núi cao và các xã vùng triền núi thấp) nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập

để ngày càng rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng trong toàn huyện.

e, Đối với cơ sở tạo việc làm

Trong số lao động đƣợc hỏi, có ngƣời trả lời nguyên nhân thiếu việc làm do

thiếu các cơ sở tạo việc làm, chiếm 16,53%. Đối với lao động thuần nông câu trả lời

nguyên nhân dẫn đến thiếu việc làm do thiếu các cơ sở tạo việc làm thể hiện nhu

cầu việc làm và mong muốn có cơng việc thƣờng xuyên và ổn định.

Tính đến hết năm 2015, trên địa bàn huyện Tân Sơn có tổng 47 doanh nghiệp

với cơ cấu: 10 công ty cổ phần, 23 công ty TNHH, 5 doanh nghiệp tƣ nhân và 9 hợp

tác xã và đã giải quyết việc làm đƣợc 2.260 lao động.

Tồn huyện có 1.023 cơ sở kinh tế cá thể, trong đó tập trung chủ yếu là các

cơ sở cơng nghiệp chế biến; bán buôn và bán lẻ, sữa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe

có động cơ khác, vận tải kho bãi, dịch vụ lƣu trú ăn uống, khai khoáng... Hầu hết

đây đều là các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, mang tính quy mơ gia đình, phần lớn là các cơ

sở gia công, sửa chữa các nơng cụ máy móc nơng nghiệp đơn giản, vì thế chỉ giải

quyết đƣợc rất ít lao động, nó lý giải vì sao có một bộ phận lao động nơng thơn

mong muốn có các cơ sở GQVL với quy mơ lớn hơn, thu hút đƣợc nhiều lao động

hơn.

f. tiếp cận của hộ gia đình đối với các chính sách GQVL

Với tình hình thực tế hiện nay trên địa bàn huyện tân sơn việc tiếp cận với

các chính sách giải quyết việc làm là rât ít theo số liệu điều tra thì trong tổng số 127

ngƣời đƣợc hỏi thi có tới 80 ngƣời trả lời khơng biết gì về các chính sách này chiếm

63% còn lại là 47 ngƣời trả lơi biết vì họ biết và nghe qua các kênh thơng tin đại

chung, và từ bạn bè.

Số liệu trên cho thấy việc cung cấp thơng tin về triển khai các chính sách

GQVL của các cơ quan nhà nƣớc trên địa bàn huyện Tân Sơn còn hạn chế, việc các



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong thực tế đa số lao động ở khu vực nông thôn có trình độ văn hóa không cao, ít được trang bị về trình độ CMKT, đặc biệt là nghề dài hạn. Nhiều lao động đã qua đào tạo ở các cấp trình độ cao đẳng, đại học, song phần lớn họ đều thoát li khỏi địa phư...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×