Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b) Trình độ học vấn và chuyên môn của lao động

b) Trình độ học vấn và chuyên môn của lao động

Tải bản đầy đủ - 0trang

86



Bảng 3.18: Ảnh hƣởng của trình độ CMKT đến việc làm và thu nhập của ngƣời lao động

Tổng

Trình độ CMKT



số

ngƣời



Việc làm

Đủ

việc

làm



Tỷ lệ

%



Thu nhập



Thiếu

việc



Tỷ lệ %



làm



Dƣới 1



Tỷ lệ



triệu



%



Từ 12



Tỷ lệ %



triệu



Trên 2

triệu



Tỷ lệ %



1. Khơng có CMKT



57



10



17,54



47



82,46



36



63,16



16



28,07



5



8,77



2. Có CMKT



70



51



72,86



19



27,14



23



32,86



26



37,14



21



30,00



26



19



73,08



7



26,92



12



46,15



12



46,15



2



7,70



2.2. Học nghề ngắn hạn



19



13



68,42



6



31,58



8



42,10



10



52,63



1



5,26



2.3. Học nghề dài hạn



15



11



73,33



4



26,66



3



20,00



2



13,13



10



66,66



5



4



80,00



1



20,00



2



40,00



3



60,00



2.5. Cao đẳng



3



2



66,67



1



33,33



3



100



2.6. Đại học



2



2



100



2



100



127



61



48,03



26



20,47



2.1 Có chun mơn

nhƣng khơng có bằng



2.4. Trung học chun

nghiệp



Cộng



66



51,96



59



46,45



42



33,07



(Nguồn: Số liệu đi u tra)



87



Đối với bộ phận lao động có trình độ học vấn thấp, vấn đề áp dụng khoa học

kỹ thuật trong sản xuất rất hạn chế, chủ yếu làm việc trong nhóm ngành kinh tế

nơng nghiệp và trong khu vực hộ gia đình. (C n cứ vào bảng 3.10). Trình độ học

vấn thấp dẫn đến vấn đề đào tạo nghề, gặp nhiều trở ngại. Bộ phận lao động có học

vấn thấp rất khó khăn trong việc thích nghi với hoàn cảnh mới, trong tổng số 127

ngƣời đựơc hỏi thì mới có 42 ngƣời học hết THPT chiếm 33,1%, còn số học hết

THCS và tiểu học là 85 ngƣời chiếm tới 66,9% nhƣ vậy với trình độ học vấn thấp sẽ

dẫn đến tình trạng áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất rất khó khăn lực lƣợng

lao động này có khả năng thất nghiệp rất cao.

Qua bảng 3.18 cho thấy có 83 lao động chƣa qua đào tạo chiếm 65,34%

trong tổng số lao động và có 26 ngƣời đƣợc học nghề bằng các hình thức kèm cặp

tại chỗ, do tự học nghề nên khơng có bằng, số này chiếm 20,5%, số lao động này

cũng đƣợc xem là chƣa qua đào tạo do vậy số lao động chƣa đƣợc đào tạo nên vấn

đề tìm việc làm của lao động gặp nhiều khó khăn, các Doanh nghiệp, tổ nhóm sản

xuất trên địa bàn chủ yếu cần tuyển dụng lao động có nghiệp vụ chun mơn kỹ

thuật nên bộ phận lao động phổ thông không đáp ứng đƣợc yêu cầu của nhà tuyển

dụng do vậy ngƣời thiếu việc làm chủ yếu tập trung ở nhóm này.

Số lao động qua đào tạo học nghề dài hạn là 15 ngƣời chiếm 11,8%; học

nghề ngắn hạn là 19 ngƣời chiếm 15%; trung học chuyên nghiệp là 5 ngƣời chiếm

3,9%; Cao đẳng là 3 ngƣời chiếm 2,3%, Đại học 2 ngƣời chiếm 1,6%.

Trên đây chúng ta có thể thấy đƣợc chất lƣợng lao động đã qua đào tạo trong

vùng khảo sát (34,63%). Tuy nhiên vẫn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu do chủ yếu vẫn là

lao động đƣợc đào tạo nghề ngắn hạn dƣới 1 năm. Vì vậy, nâng cao trình độ học vấn,

trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lao động là vấn đề bức bách cần phải giải quyết.

Trình độ chun mơn của lao động ảnh hƣởng khá lớn đến việc làm của lao

động nơng thơn. Nhóm lao động chƣa qua đào tạo thiếu việc làm chiếm 82,46%; chỉ có

17,54% đủ việc làm. Nhóm lao động có CMKT đủ việc làm chiếm 72,86%; chỉ có

27,14% thiếu việc làm.

Đối với thu nhập, xu thế cũng nhƣ vậy. nhóm lao động chƣa qua đào tạo có thu

nhập dƣới 1 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ rất cao 63,16%; thu nhập từ 1-2 triệu



88



đồng/tháng chiếm 28,07%, chỉ có 8,77% thu nhập trên 2 triệu đồng/tháng. Nhóm lao

động có CMKT thu nhập dƣới 1 triệu đồng/tháng chỉ có 32,86%, thu nhập từ 1-2 triệu

đồng/tháng chiếm 37,14%, và thu nhập trên 2 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ 30,00%.

Chứng tỏ giữa lao động chƣa qua đào tạo và lao động qua đào tạo có sự chênh lệch thu

nhập đáng kể, trình độ càng cao thu nhập càng cao.

Kết quả phân tích trên chỉ ra rằng, trình độ chun mơn của ngƣời lao động

có ảnh hƣởng rất lớn đến việc làm và thu nhập của lao động. Vì vậy, để GQVL,

nâng cao thu nhập cho lao động, một trong những giải pháp quan trọng là tăng

cƣờng đào tạo nghề cho lao động nhằm tạo điều kiện cho lao động có đƣợc việc làm

tăng thu nhập nhằm ổn định đời sống.

c) V Vốn

Vốn là yêu cầu thiết yếu nhất đối với ngƣời dân cho việc sản xuất và nó xuất phát

từ 2 nguồn chính là: Vốn tự có và vốn vay ngân hàng.

Về vốn vay từ Ngân hàng, các tổ chức tín dụng trên địa bàn huyện: Qua điều

tra thực tế, trong tổng số 127 lao động đƣợc hỏi thì có 107 ngƣời trả lời khơng vay

đƣợc vốn để SXKD, có 20 ngƣời trả lời có vay vốn để SXKD. Trong đó: Mức vay

dƣới 10 triệu đồng có 5 ngƣời, từ 10 đến 20 triệu đồng có 7 ngƣời, trên 20 triệu

đồng có 8 ngƣời.

Trong 20 lao động đƣợc vay vốn thì số vốn đó đƣợc ngƣời lao động đầu tƣ vào

sản xuất do vậy đã cơ bản giải quyết thêm việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời lao

động, cụ thể: 100% đủ việc làm. Thu nhập của số lao động đƣợc vay vốn SXKD tƣơng

đối cao, có 14 ngƣời có thu nhập trung bình trong tháng trên 2 triệu đồng, 6 ngƣời có

thu nhập từ 1-2 triệu đồng, khơng có lao động thu nhập dƣới 1 triệu đồng/tháng

Bảng 3.19: Ảnh hƣớng của vốn vay đến sản xuất và thu nhập

Vốn vay

sản xuất,

kinh

doanh

Có vay vốn



Tổng

số

ngƣời

20



Việc làm

Đủ



Tỷ



việc



lệ



việc



làm



%



20



100



Thu nhập



Thiếu Tỷ



Dƣới



Tỷ



Từ



lệ



1



lệ



1-2



làm



%



triệu



%



triệu



0



0



0



0



6



Tỷ lệ

%

30,00



Trên

2



Tỷ lệ

%



triệu

14



70,00



(Nguồn: Số liệu đi u tra)



89



d, CácVùng, mi n

Sự khác nhau giữa vùng miền trong huyện đã gây ra sự ảnh hƣởng không

nhỏ đến việc làm và thu nhập của lao động ở khu vực nơng thơn, huyện cần có sự

đầu tƣ để tạo việc làm cho lao động, đặc biệt phải tăng cƣờng hỗ trợ cho các xã

vùng đồi núi cao và các xã vùng triền núi thấp) nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập

để ngày càng rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng trong toàn huyện.

e, Đối với cơ sở tạo việc làm

Trong số lao động đƣợc hỏi, có ngƣời trả lời nguyên nhân thiếu việc làm do

thiếu các cơ sở tạo việc làm, chiếm 16,53%. Đối với lao động thuần nông câu trả lời

nguyên nhân dẫn đến thiếu việc làm do thiếu các cơ sở tạo việc làm thể hiện nhu

cầu việc làm và mong muốn có cơng việc thƣờng xun và ổn định.

Tính đến hết năm 2015, trên địa bàn huyện Tân Sơn có tổng 47 doanh nghiệp

với cơ cấu: 10 công ty cổ phần, 23 công ty TNHH, 5 doanh nghiệp tƣ nhân và 9 hợp

tác xã và đã giải quyết việc làm đƣợc 2.260 lao động.

Tồn huyện có 1.023 cơ sở kinh tế cá thể, trong đó tập trung chủ yếu là các

cơ sở công nghiệp chế biến; bán buôn và bán lẻ, sữa chữa ơ tơ, mơ tơ, xe máy và xe

có động cơ khác, vận tải kho bãi, dịch vụ lƣu trú ăn uống, khai khoáng... Hầu hết

đây đều là các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, mang tính quy mơ gia đình, phần lớn là các cơ

sở gia cơng, sửa chữa các nơng cụ máy móc nơng nghiệp đơn giản, vì thế chỉ giải

quyết đƣợc rất ít lao động, nó lý giải vì sao có một bộ phận lao động nơng thơn

mong muốn có các cơ sở GQVL với quy mô lớn hơn, thu hút đƣợc nhiều lao động

hơn.

f. tiếp cận của hộ gia đình đối với các chính sách GQVL

Với tình hình thực tế hiện nay trên địa bàn huyện tân sơn việc tiếp cận với

các chính sách giải quyết việc làm là rât ít theo số liệu điều tra thì trong tổng số 127

ngƣời đƣợc hỏi thi có tới 80 ngƣời trả lời khơng biết gì về các chính sách này chiếm

63% còn lại là 47 ngƣời trả lơi biết vì họ biết và nghe qua các kênh thông tin đại

chung, và từ bạn bè.

Số liệu trên cho thấy việc cung cấp thông tin về triển khai các chính sách

GQVL của các cơ quan nhà nƣớc trên địa bàn huyện Tân Sơn còn hạn chế, việc các



90



cơ quan nhà nƣớc tăng cƣờng cung cấp thông tin về triển khai các chính sách

GQVL đến từng hộ gia đình và ngƣời lao động trên địa bàn là rất quan trọng do

ngƣời dân vẫn chủ yếu tin tƣởng vào luồng thông tin này. Chính vì vậy việc hình

thành một hệ thống thơng tin chính thức về triển khai chính sách GQVL là rất cần

thiết đối với các hộ gai đình và ngƣời lao động trong toàn huyện.

g, Nguyên nhân khác

Trong tổng số 130 ngƣời( phiếu) đƣợc hỏi thì có 3 ngƣời trong số đó trả lời

thiếu việc làm do những nguyên nhân khác, chiếm 2,30%, dù chiếm tỷ lệ rất ít

nhƣng phản ánh thực tế về tình hình lao động việc làm ở khu vực nông thôn. Khi

hỏi trực tiếp họ phần lớn họ trả lời chủ yếu tập trung vào một số nguyên nhân nhƣ:

sự tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết đặc biệt là thiên tai hạn hán, lũ lụt dịch

bệnh; tác động do canh tác của con ngƣời dẫn đến bạc màu, rữa trôi đất làm cho một

số diện tích đất khơng thể canh tác đƣợc; q trình đơ thị hóa, sự phát triển q

nhanh của dân số dẫn đến quỹ đất dùng trong canh tác phải chuyển đổi mục đích sử

dụng, và việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ngồi ra q trình tích tụ đất vì một số lí

do nào đấy dẫn đến một bộ phận lớn lao động ở khu vực nông thôn thiếu việc làm.

3.2.6. Đánh giá chung v tình hình lao động và việc làm của huyện Tân Sơn

- Những thuận lợi trong giải quyết việc làm của huyện Tân Sơn.

Số lƣợng lao động của huyện Tân Sơn tƣơng đối dồi dào đều dƣ thừa qua các

năm và con số dƣ thừa đó sẽ ngày càng tăng lên do sự tác động của phát triển dân

số, sự sụt giảm quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp, sự chuyển dịch cơ cấu cây

trồng vật nuôi, việc ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào canh tác,

cũng nhƣ ứng dụng những giống cây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất, thâm canh.

Chất lƣợng lao động ở khu vực nông thơn hiện nay của huyện nhìn chung

đang ở giai đoạn phát triển, là điều kiện để thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã

hội, với Số lƣợng lao động đông, trẻ, khỏe, đƣợc đặt trong môi trƣờng giáo dục, đào

tạo tiên tiến, đƣợc tiếp xúc trực tiếp với nền khoa học - công nghệ hiện đại, đƣợc

sống trong môi trƣờng kinh tế hợp tác đa phƣơng, đa ngành, cùng với tinh thần ham

học hỏi, cần cù chịu khó, yêu lao động, khả năng thích ứng, linh hoạt cao…



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b) Trình độ học vấn và chuyên môn của lao động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×