Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
e) Chính sách tín dụng nông thôn

e) Chính sách tín dụng nông thôn

Tải bản đầy đủ - 0trang

26



Thực trạng lao động - việc làm ở Việt Nam, NXB Thống kê, HN 2000).

Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, sự chênh lệch về trình độ văn hố và chun môn

kỹ thuật giữa lao động nông thôn và thành thị là rất lớn. Về trình độ văn hố, ở khu

vực thành thị cứ 100 ngƣời tham gia hoạt động kinh tế thì có 56 ngƣời đã tốt nghiệp

phổ thơng trung học, cao gấp 4 lần so với khu vực nông thơn. Về trình độ chun

mơn kỹ thuật ở khu vực thành thị, cứ 100 ngƣời tham gia hoạt động kinh tế thì có 63

ngƣời đã qua đào tạo, cao gấp 4,5 lần so với khu vực nông thôn (Thực trạng lao động

- việc làm tỉnh Phú Thọ n m 2010). Vì vậy, để phát triển kinh tế nơng thơn, việc đào

tạo, tập huấn nâng cao trình độ cho lao động nông thôn là một yêu cầu cấp thiết.

- Cơ cấu kinh tế lạc hậu, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nơng thơn là yếu tố

quan trọng đánh giá trình độ phát triển kinh tế nông thôn.

Theo Niên giám thống kê Việt Nam 2006, trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành

nơng nghiệp, trồng trọt chiếm 73,5%, trong khi đó chăn nuôi chỉ chiếm 24,7% và

đặc biệt dịch vụ nông nghiệp chỉ chiếm 1,8%. Đó là cơ cấu rất mất cân đối, chứng

tỏ trình độ sản xuất nơng nghiệp nƣớc ta rất thấp.

Trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm cả

nông nghiệp, lâm nghiệp và ngƣ nghiệp), tỷ lệ của trồng trọt và chăn nuôi là

75,27%, thuỷ sản 19,29%, lâm nghiệp chỉ chiếm 5,44% trong khi ¾ diện tích nƣớc

ta là đồi núi. Trong cơ cấu kinh tế nơng thơn thì giá trị sản xuất cũng nhƣ lao động

của các ngành phi nông nghiệp chiếm tỉ lệ nhỏ. Cơ cấu kinh tế lạc hậu nhƣ vậy

không thể khai thác hợp lý các nguồn lực, các tiềm năng sẵn có cho phát triển kinh

tế, vì vậy thiếu việc làm thu nhập thấp là tất yếu trong nông thôn hiện nay. Theo

niên giám thống kê 2006, tỷ suất sử dụng thời gian lao động của lao động nơng thơn

tính chung cả nƣớc là 81,79%, cao nhất là vùng Đông Nam Bộ 83,46%, thấp nhất là

vùng Bắc trung Bộ 77,91%. Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của lao động nông

thôn tỉnh Phú Thọ là 78,29% (Thực trạng lao động và việc làm tỉnh Phú Thọ 2004).

53.782 lao động, trong đó có 45.394 ngƣời trong độ tuổi lao động, Do đó, để tăng

thu nhập cho lao động nơng thơn cần phải có những giải pháp để nâng cao tỷ suất sử

dụng lao động cho lao động nông thôn.



27



1.2.2.2. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Việt Nam

Đảng và nhà nƣớc ta hết sức quan tâm giải quyết việc làm cho lao động nơng

thơn. Điều đó đƣợc thể hiện ở nhiều chính sách nhƣ chính sách đất đai, chính sách

tín dụng nơng thơn, chính sách phát triển nơng nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng

hố và đa dạng hố sản phẩm nơng nghiệp, chính sách khuyến khích đầu tƣ vào

nơng nghiệp và nơng thơn…

- Chính sách đất đai

Ngƣời nơng dân gắn với đất đai. Khơng có điều đó thì nơng nghiệp khơng thể

phát triển. Kể từ khoán 100, khoán 10 cho đến luật đất đai năm 2003, Đảng và Nhà

nƣớc ta đã thực hiện đƣợc điều đó. Đất đai trở thành nguồn sinh lợi chủ yếu của

nơng dân. Họ có quyền tự chủ cao hơn với đất đai. Điều đó làm cho nguồn vốn, kỹ

thuật và lực lƣợng lao động ở nông thơn đƣợc giải phóng. Việc làm trong nơng thơn

đƣợc tạo ra nhiều hơn, thu nhập của nông dân đƣợc nâng cao. Hiện nay, để nông

nghiệp phát triển cao hơn cần dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất tạo điều kiện phát

triển mạnh kinh tế trang trại. Trên phạm vi cả nƣớc, xu hƣớng này đang đƣợc

khuyến khích phát triển mạnh mẽ.

- Chính sách tín dụng nơng thơn. Vốn là yêu cầu thiết yếu cho phát triển sản

xuất nói chung và nơng nghiệp nơng thơn nói riêng. Đặc biệt nơng dân nƣớc ta còn

nghèo nên yêu cầu về vốn càng gay gắt. Từ thực tế đó, nhà nƣớc đã chỉ đạo hình

thành mạng lƣới tín dụng cho nơng dân rộng khắp trên cả nƣớc nhằm cung cấp vốn

kịp thời cho nông dân. Hiện nay, một cơ sở kinh doanh đƣợc vay tối đa 500 triệu

đồng, hộ gia đình đƣợc vay tới 20 triệu đồng với lãi suất ƣu đãi. Đây là điều kiện rất

thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh và tạo việc làm.

Ngồi ra còn có nhiều hình thức huy động vốn giúp ngƣời nghèo, đặc biệt là

chƣơng trình Nối vòng tay lớn hàng năm huy động đƣợc hàng chục tỷ đồng. Việc

cung cấp vốn kịp thời cho nơng dân đã góp phần đẩy mạnh sản xuất, tạo việc làm và

xố đói giảm nghèo. Hiện nay, chuẩn nghèo mới tính từ 2012 đã nâng cao hơn mức

cũ nhều nhƣng tỷ lệ nghèo ở nƣớc ta ở mức 14,2% là một thành tựu lớn.

- Phát triển nông nghiệp hàng hố, đa dạng hố sản phẩm nơng nghiệp và nơng thơn

Thực chất của chính sách này là thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông



28



thôn, đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn và trang trại, phát triển các ngành phi

nông nghiệp trong nông thôn.

Cùng với sự giúp đỡ của nhà nƣớc, những năm qua kinh tế hộ và trang trại

ngày càng phát triển, nhiều loại cây trồng và con gia súc mới đƣợc đƣa vào sản xuất

mang lại hiệu quả kinh tế cao. Khoa học công nghệ đƣợc áp dụng làm cho năng suất

cây trồng và vật ni ngày càng cao. Trong khi đó các ngành phi nông nghiệp cũng

phát triển mạnh đã giải quyết quan trọng vấn đề việc làm và thu nhập của nông dân.

- Chƣơng trình đƣa ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài.

Trong những năm qua nƣớc ta đã đƣa hàng chục vạn lao động đi làm việc ở

nƣớc ngoài. Chƣơng trình này có ý nghĩa to lớn trong giải quyết việc làm và tăng

thu nhập cho lao động. Giải quyết đƣợc nhu cầu việc làm cho lao động, ngoài ra

hàng năm ngƣời lao động ở nƣớc ngồi còn gửi một lƣợng ngoại tệ khá lớn về

nƣớc. Điều đó góp phần quan trọng xố đói giảm nghèo và tạo việc làm mới trong

nƣớc. Về lâu dài hơn, chƣơng trình cũng tạo ra một đội ngũ công nhân lành nghề do

học đƣợc kỹ thuật và kinh nghiệm từ các nƣớc mà họ đến làm việc.

Chương trình quốc gia giải quyết việc làm

Để chính sách giải quyết việc làm đi vào cuộc sống, Đảng và Nhà nƣớc ta đã

có nhiều chƣơng trình giải quyết việc làm cụ thể.

- Nghị quyết 120 / HĐBT ngày 11- 4 -1992 về những chủ trƣơng, phƣơng

hƣớng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tới.

Nguồn vốn 120 đƣợc hình thành từ ngân sách nhà nƣớc, thu từ lao động làm việc

ở nƣớc ngoài và từ hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Quỹ 120 thực hiện cho vay với lãi

suất thấp nhằm tạo việc làm mới, hỗ trợ đào tạo nghề cho ngƣời lao động. Với nông

nghiệp nông thôn, quỹ hỗ trợ áp dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển nông lâm ngƣ

nghiệp, mở mang và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp trong nơng thơn.

- Chƣơng trình 327 phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Theo chỉ thị 327/CT-TTg

của thủ tƣớng chính phủ ngày 15/9/1992. Nguồn vốn đƣợc hình thành từ ngân sách

nhà nƣớc, thuế tài nguyên, vốn viện trợ, vốn vay hợp tác nƣớc ngồi. Chƣơng trình

327 nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc, phát triển nông lâm kết hợp tạo việc làm



29



và nâng cao thu nhập cho nông dân, phát triển kinh tế bền vững.

- Quyết định số 1956/QĐ-TTg của thủ tƣớng chính phủ ngày 27/11/2009 về đề

án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Theo chƣơng trình này, từ

nay đến năm 2020 sẽ đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm. Đây là

chƣơng trình lớn, tạo cơ hội thuận lợi cho lao động nông thôn trong những năm tới.

1.3. Một số cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.3.1 Một số cơng trình nghiên cứu

1.3.1.1 Trên thế giới

Trên thế giới, có nhiều tác giả nghiên cứu về việc làm và giải quyết việc làm.

Các nghiên cứu này tập trung vào những vấn đề cơ bản nhƣ: thực trạng việc làm,

giải quyết việc làm, những khó khăn thách thức trong vấn đề giải quyết việc làm.

Năm 1999, AK Ghose trong cơng trình nghiên cứu với tên gọi “Vấn đ hiện

nay của chính sách việc làm Ấn Độ [1] đã phân tích các kinh nghiệm quá khứ trong

xác định những vấn đề xã hội cần giải quyết, đó là tạo việc làm cho lao động ở Ấn

Độ. Phần cuối công trình, tác giả đề xuất ý kiến cho chính sách việc làm tƣơng lai

của quốc gia này.

Năm 2000, Mahendra S. Dev trong bài Tự do hóa kinh tế và việc làm ở

Nam Á [16]. Mục tiêu chính của bài này là để kiểm tra tác động của tự do hóa kinh

tế lao động việc làm và thu nhập ở Nam Á. Cụ thể, nó xem xét đến các tác động đến

việc làm và tăng trƣởng, thất nghiệp, bất bình đẳng tiền lƣơng giữa có tay nghề và

khơng có tay nghề trong công nhân, việc làm giữa phụ nữ và trẻ em...

Asian Productivity Organization (1992). Các chương trình và chính sách

tạo việc làm cho nông thôn các nước châu Á. Tokyo đã phân tích những vấn đề

giải quyết việc làm cho lao động ở các nƣớc Châu Á và đề xuất một số ý kiến cho

chính sách [2] .

Asian Productivity Organization (2000). Các phương thức tạo việc làm cho

lao động nông thơn khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tokyo đã đề cập những nội

dung về ngành nghề mới nhằm tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu

nhập và nâng cao đời sống cho ngƣời nông dân [3].



30



1.3.1.2. Ở Việt Nam

Ở nƣớc ta, trong những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây đã có nhiều cơng

trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này. Cụ thể:

Năm 1990, Nguyễn Sinh Cúc đã viết bài ”Vấn đ tạo việc làm t ng thu nhập

ở nông thôn”[8]. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đƣa ra các đánh giá nhận xét về

các chính sách của nhà nƣớc đối với vấn đề tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội:

các chính sách chƣa đủ mạnh; thiếu chính sách hỗ trợ phát triển thị trƣờng lao động

nông thôn, chƣa có kế hoạch đào tạo dạy nghề, sử dụng lao động tại chỗ...

Năm 1997, Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hữu Trung, trong cuốn ”Chính sách

giải quyết việc làm ở Việt Nam đã đề cập đến chính sách giải quyết việc làm ở

nƣớc ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nƣớc. Cơng trình nghiên cứu đã

phân tích, đánh giá thực trạng việc làm ở nƣớc ta nói chung, trong nơng nghiệp và

nơng thơn nói riêng và những ngun nhân chủ yếu; khái quát dòng di chuyển trên

thị trƣờng lao động, trên cơ sở đó đƣa ra hệ thống quan điểm và giải pháp giải quyết

việc làm trong quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH ở nƣớc ta [10].

Trong năm 2001, TS. Chu Tiến Quang đã chủ biên cuốn sách “Việc làm ở

nông thôn, thực trạng và giải pháp’’ đã đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn cho

một số chính sách tạo việc làm ở nơng thơn. Từ nghiên cứu phân tích tình hình thực

trạng lao động và việc làm trong lĩnh nông nghiệp và phi nông nghiệp [19], tác giả

đã đƣa ra một số biện pháp nhằm đa dạng hóa sản xuất nơng nghiệp để giải quyết

việc làm cũng nhƣ hồn thiện một số chính sách vĩ mơ nhƣ chính sách đất đai, chính

sách tín dụng, chính sách thuế...

Năm 2001 đề tài “Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với giải

quyết việc làm trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước” do PGS.TS

Trần Văn Chứ làm chủ nhiệm đề tài. Các cộng tác viên của đề tài đã phân tích làm

rõ mối quan hệ giữa nâng cao chất lƣợng lao động với giải quyết việc làm trong q

trình cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Các tác giả cho rằng việc nâng cao

chất lƣợng nguồn lao động không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của phát triển mà còn

góp phần giải quyết việc làm và thất nghiệp .

Năm 2004, Đinh Đặng Định trong cuốn “Một số vấn đ lao động, việc làm

và đời sống của người lao động Việt Nam hiện nay” đã đƣa ra những tồn tại trong

giải quyết nguồn lực lao động cũng nhƣ vấn đề về việc làm [11].



31



Năm 2008, Viện chính sách và chiến lƣợc phát triển nông nghiệp nông thôn

đã thực hiện đề tài Thực trạng và giải pháp v lao động và việc làm nông nghiệp

nông thôn do Ths. Vũ Thị Kim Mão làm chủ nhiệm đề tài, nghiên cứu này đƣợc

thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng về lao động và việc làm trong nơng nghiệp nơng

thơn, ngun nhân của tình trạng thiếu việc làm hiện đang phổ biến ở khu vực nơng

thơn, từ đó đề xuất các biện pháp giải quyết [18].

1.3.2. Đánh giá chung v một số cơng trình nghiên cứu

Các tác giả đều cho rằng vấn đề giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, nhất

là lao động ở nông thôn là một trong những vấn đề quan trọng và cần đƣợc quan

tâm hàng đầu, từ đó đề ra phƣơng pháp tiếp cận tổng quát về chính sách việc làm,

hệ thống những khái niệm về lao động, việc làm, đánh giá thực trạng vấn đề việc

làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam. Từ đó, các tác giả đã đề xuất hệ thống các

quan điểm, phƣơng hƣớng và biện pháp giải quyết việc làm, đồng thời khuyến nghị,

định hƣớng một số chính sách cụ thể về việc làm và giải quyết việc làm ở nƣớc ta.

Tuy nhiên, hầu hết các tác giả mới chỉ phân tích vấn đề lao động, việc làm và thất

nghiệp trên phạm vi cả nƣớc nói chung hoặc trên địa bàn nơng thơn Việt Nam nói

riêng chƣa nghiên cứu cụ thể các vấn đề trên đối với từng địa phƣơng.

Ngồi các cơng trình trên, cũng có rất nhiều các luận văn Thạc sỹ, Tiến sĩ

nghiên cứu về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại

các huyện, thị xã, thành phố thuộc: tỉnh Ninh Bình, Thái Bình, Phú Thọ, Thái

Nguyên, Hà Tĩnh, Thái Nguyên, Tuyên Quang…Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện

nay, do xuất hiện nhiều vấn đề mới, nhƣ: Q trình đơ thị hố làm giảm diện tích

đất nơng nghiệp, nhiều chính sách mới của Đảng và nhà nƣớc liên quan tới nông

nghiệp, nông thôn… mới đƣợc ban hành làm cho một số quan điểm, phƣơng hƣớng,

giải pháp mà các tác giả đƣa ra trong những công trình này khơng còn phù hợp. Mặt

khác, hiện nay chƣa có đề tài, cơng trình khoa học nào luận giải về vấn đề việc làm

và giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Để thực hiện đề tài khoa học này, tác giả có lựa chọn và kế thừa một số kết quả

nghiên cứu đã cơng bố của các tác giả nói trên về những vấn đề lý luận liên quan tới

các vấn đề: Lao động, việc làm, thất nghiệp và giải quyết việc làm ở nông thôn...



32



Chƣơng 2

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm cơ bản của huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

2.1.1. Đi u kiện tự nhiên

Tân Sơn là huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, đƣợc thành lập ngày 09/4/2007 theo

Nghị định 61/2007/NĐ- CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới

hành chính huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ thành huyện Thanh Sơn và huyện Tân Sơn.

Huyện Tân Sơn có diện tích tự nhiên 68.858 ha, dân số trên 81.000 ngƣời, trong đó

ngƣời dân tộc thiểu số chiếm khoảng 82,3%. Dân cƣ phân bố khơng đồng đều, huyện có

17 xã, 195 khu. Địa hình rộng, nhiều đồi núi; Hệ thống giao thơng đang hồn thiện.

2.1.1.1. Vị trí địa lý

Huyện Tân Sơn nằm phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì

khoảng 75 km và cách thủ đơ Hà Nội khoảng 117 km. Địa giới hành chính giáp các

tỉnh, huyện sau:

+ Phía Đơng giáp huyện Thanh Sơn.

+ Phía Tây giáp huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái và huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

+ Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hồ Bình.

+ Phía Bắc giáp huyện n Lập.

Trung tâm huyện Tân Sơn là xã Tân Phú, cách thành phố Việt Trì khoảng

75km, trên địa bàn huyện có các tuyến Quốc lộ 32A, 32B chạy qua, là tuyến giao

thông nối liền với trung tâm huyện Thanh Sơn và các tỉnh bạn nhƣ Sơn La, Yên Bái

sẽ mang lại nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lƣu phát triển kinh tế -xã hội với

bên ngồi.

2.1.1.2. Địa hình địa mạo

Huyện Tân Sơn có đặc điểm địa hình phức tạp, đồi núi độ dốc lớn, xen kẽ là

các ruộng và thung lũng nhỏ, địa hình bị chia cắt, dốc kéo dài, đất đai phần lớn là

rừng núi đã tạo nên sự đa dạng và phức tạp cho địa hình.

Địa hình đƣợc chia thành 4 dạng chính:



33



- Địa hình núi: Loại địa hình này có độ dốc trên 30 , độ cao trung bình so

với mực nƣớc biển 700 - 800m. Dạng địa hình này bị chia cắt nhiều, gây rất

nhiều khó khăn trong sản xuất lâm nghiệp và phát triển hạ tầng giao thông, thuỷ

lợi, đƣợc phân bố chủ yếu ở các xã: Thu Cúc, Đồng Sơn, Xuân Sơn, Kim

Thƣợng, Thu Ngạc, Thạch Kiệt.

- Địa hình đồi cao: Loại địa hình này có độ dốc 25 - 30 , độ cao trung bình

so với mực nƣớc biển 300-700m, đƣợc phân bố chủ yếu ở các xã Tân Phú, Xuân Đài.

- Địa hình Trung du, đồi thấp, có độ dốc trung bình 15 - 25 , độ cao trung

bình so với mực nƣớc biển 150 - 300m. Loại địa hình này khá phù hợp và thuận lợi

cho sự phát triển ngành nông lâm nghiệp, đƣợc phân bố chủ yếu ở các xã: Minh

Đài, Long Cốc, Mỹ Thuận, Tam Thanh, Văn Lng.

- Địa hình thung lũng đồng bằng: Dạng địa hình này là các thung lũng nhỏ,

hẹp xen kẽ với các vùng núi thấp, đồi cao, đồi thấp. Tuy nhiên các cánh đồng ở đây

tƣơng đối bằng phẳng rất thuận lợi cho sản xuất lƣơng thực và chăn ni.

2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết

Theo số liệu tại trạm khí tƣợng thuỷ văn Minh Đài, khí hậu trung bình qua

các năm nhƣ sau:

Bảng 2.1: Diễn biến thời tiết qua các năm

Yếu tố



ĐVT



Nhiệt độ



°C



23,8



23,2



Số giờ nắng



Giờ



1.334,0



1.274,4



Lƣợng mƣa



Mm



1.775,5



1.588,1



1.623,6



Độ ẩm



%



88



87



2013



86



2014



2015

23,1

1.418



(Nguồn số liệu: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ n m 2015)

Huyện Tân Sơn chịu ảnh hƣởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ

khơng khí trung bình hằng năm là 23,3°C, mùa đơng rét đậm, nhiệt độ có lúc xuống

dƣới 5°C, kéo dài 3 - 4 ngày và xuất hiện sƣơng muối, sƣơng mù từng đợt. Mùa hạ

nóng bức có khi nhiệt độ lên đến 39 - 40°C. Độ ẩm tƣơng đối trung bình hàng năm

là 86,8%, tháng có độ ẩm khơng khí lớn nhất là tháng 8, và thấp nhất là tháng 5. Số



34



giờ nắng trung bình hàng năm là 1403,4giờ, tổng nhiệt độ trung bình đạt khoảng

8500°C. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm là 1754,2mm, tập trung vào các

tháng : 6,7,8,9 (chiếm >70% lƣợng mƣa cả năm).

2.1.1.4. Đặc điểm thủy v n

Trên địa bàn huyện có các con sơng lớn nhƣ: sơng Bứa, sơng Giày, sơng

Chơm và sơng Cơm. Ngồi ra còn có các hệ thống suối lớn nhƣ: suối Chiềng, suối

Quả, suối Ráy, suối phắt, suối Thân, suối Vƣờng, suối Thang, suối

Xn...sơng có chiều dài chảy qua địa bàn huyện lớn nhất là sông Bứa, dài 53,46

Km. Đặc điểm chung của các sông, suối là đều bắt nguồn từ những dãy núi cao, có

độ dốc lớn, về mùa mƣa nƣớc dâng cao đột ngột ảnh hƣởng xấu tới giao

thông và mùa màng.

2.1.1.5. Các nguồn tài nguyên

a. Tài nguyên đất

Với tổng diện tích tự nhiên là 68.858 ha, chiếm 19,53% diện tích tự

nhiên của tỉnh Phú Thọ. Đất đai của huyện Tân Sơn phân theo nguồn gốc phát sinh

đƣợc chia làm 6 loại chính sau:

Bảng 2.2: Các loại đất huyện Tân Sơn

STT



Loại đất



Diện tích



Cơ cấu



(ha)



(%)



1



Đất Phù sa



264,00



0.38



2



Đất Glây



720,12



1.04



3



Đất xám



61.840,53



89.81



4



Đất tầng mỏng



429,84



0. 63



5



Đất Đỏ



2.303,45



3.34



6



Đất khác



3.300,06



4.80



68.858,00



100



Tổng diện tích tự nhiên



(Nguồn số liệu: Báo cáo đánh giá phân hạng đất huyện Tân Sơn 2015 -Trung

tâm kỹ thuật công nghệ tài nguyên - Sở tài nguyên môi trường Phú Thọ xây dựng).



35



Đất đai của huyện Tân Sơn mang những nét cơ bản chung của vùng núi,

đƣợc hình thành do nham thạch phong hoá tại và từ các sản phẩm bồi tụ. Qua điều

tra đánh giá cho thấy, chất lƣợng đất trong tồn huyện có hàm lƣợng các chất dinh

dƣỡng ở mức khá, kết cấu đất tơi xốp, thuận lợi cho phát triển kinh tế nông lâm

nghiệp, các loại cây đặc sản và cây dƣợc liệu.

b. Tài nguyên nƣớc

* Nguồn nƣớc mặt:

Diện tích sơng suối và mặt nƣớc chun dùng của toàn huyện là 671,92 ha,

tập chung chủ yếu ở các con sông, suối và các hồ đập. Trên địa bàn huyện có các

con sơng lớn nhƣ: sơng Bứa, sông Giày, sông Chôm và sông Côm, các sông này có

lƣu lƣợng dòng nƣớc lớn, nhất là về mùa mƣa. Ngồi ra còn có các hệ thống suối

lớn nhƣ: suối Chiềng, suối Quả, suối Ráy, suối phắt, suối Thân, suối Vƣờng, suối

Thang,...Các hồ đập với số lƣợng không nhiều và nhỏ nhƣng cũng rất quan trọng,

cung cấp nƣớc cho sản xuất nông lâm nghiệp và kết hợp làm thuỷ điện nhỏ.

* Nguồn nƣớc ngầm.

Đến nay trên địa bàn huyện chƣa có cơng trình khảo sát đánh giá trữ lƣợng và chất

lƣợng nƣớc ngầm, tuy nhiên theo điều tra sơ bộ cho thấy lƣợng nƣớc ngầm phân bố không

đều. Các vùng núi cao có trữ lƣợng nƣớc ngầm thấp và khó khai thác.

c. Tài nguyên rừng

Đất lâm nghiệp của huyện có diện tích 52.563,77 ha( đất có rừng), chiếm

76,20% diện tích đất tự nhiên, chiếm 31,3% diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh, độ che

phủ hiện tại 71,5%. Tân Sơn là huyện có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất trong tỉnh

với nhiều tài nguyên rừng phong phú trong đó nổi bật nhất là Vƣờn Quốc Gia Xuân

Sơn với tổng diện tích vƣờn 15.048,0 ha, đây là vùng có hệ sinh thái rừng với các hệ

động, thực vật đa dạng, phong phú. Hiện tại trong vƣờn có khoảng 366 lồi động

vật, trong đó có 46 lồi đƣợc ghi vào sách đỏ Việt Nam, 18 lồi có trong sách đỏ

thế giới, Có 726 loài thực vật bậc cao thuộc 475 chi, 134 họ. Các loại cây đặc sản nhƣ:

rau Sắng, Sa Nhân, Khoai Tầng... Ngồi ra Vƣờn Quốc Gia Xn Sơn còn có hệ thống

hang động độc đáo, khí hậu mát mẻ, trong lành, cảnh quan đẹp.



36



d. Tài nguyên khoáng sản

Theo số liệu điều tra về địa chất và báo cáo thuyết minh dự án khảo sát đo

đạc xác định khu vực quản lý khai thác và bảo vệ khoáng sản trên địa bàn huyện thì

Tân Sơn có tổng số 23 điểm mỏ và điểm quặng.Các mỏ khoáng sản trên địa bàn

huyện hầu hết chƣa đƣợc điều tra, khảo sát, đánh giá chính xác trữ lƣợng và chất

lƣợng. Qua thăm dò ƣớc tính trữ lƣợng và chất lƣợng các mỏ này đều ở mức

trung bình và nhỏ.

2.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội

- Đặc điểm dân số và phân bố dân cư:

Dân số trung bình của huyện Tân Sơn năm 2015 là hơn 81.000 ngƣời, tốc độ

tăng dân số giai đoạn 2013-2015 đƣợc thể hiện (qua Bảng 2.3) ở dƣới đây. Nhƣ vậy

biến động tự nhiên dân số của huyện là không đều qua các năm, tốc độ tăng dân số

năm 2013 là 1,40% cao hơn, đến năm 2014 giảm xuống là 1,32% và hiện đang có

xu hƣớng tăng dần. Dân số trong độ tuổi lao động dồi dào, hàng năm số ngƣời đƣợc

tăng dần, với số lƣợng lao động năm 2013 là 48.511 ngƣời chiếm 61,7%, so với

tổng dân số, tới năm 2015 là 50.750 chiếm 62,65% so với tổng dân số, đây là yếu tố

cơ bản về nguồn nhân lực dồi dào, trẻ hóa để phát triển kinh tế xã hội, đồng thời

cũng là sức ép lớn về vấn đề tạo việc làm cho nguồn lao động của huyện trong

những năm tiếp theo.

Bảng 2.3: Tình hình dân số và lao động của huyện.



STT

1

2



Nội dung

Dânsố

Tốc độ tăng dân số tự nhiên



Đơn vị



Năm



Năm



Năm



tính



2013



2014



2015



Ngƣời



78.555



79.200



81.000



%



1,40



1,32



1,36



Ngƣời



48.511



49.100



50.750



Trong đó:dân số trong độ

tuổi lao động

Tỷ lệ so với dân số



%



61,7



61,99



62,65



(Nguồn: Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình, Phòng lao động thương binh xã

hội huyệnTân Sơn)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

e) Chính sách tín dụng nông thôn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×