Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ INTERNET - WORLD WIDE WEB

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ INTERNET - WORLD WIDE WEB

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trường cao đẳng công nghệ Hà Nội



Khoa: Công nghệ thông tin



đầu nối vào Bộ quốc phòng. Đây là những giao điểm trên mạng. Trong khi ARPANET

đang cố gắng chiếm lĩnh mạng quốc gia thì một nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu

Palo Alto của công ty Xerox đã phát triển một kỹ thuật được sử dụng trong mạng cục

bộ là Ethernet.

Theo thời gian, Ethernet trở thành một trong những chuẩn quan trọng để kết nối

trong các mạng cục bộ. Cũng trong thời gian này, DARPA (đặt lại tên từ ARPA)

chuyển sang hợp nhất TCP/IP (giao thức được sử dụng trong việc truyền thông trên

Internet) vào phiên bản hệ điều hành UNIX của trường đại học tổng hợp California ở

Berkeley. Với sự hợp nhất như vậy, những trạm làm việc độc lập sử dụng UNIX đã tạo

nên một thế mạnh trên thị trường, TCP/IP cũng có thể dễ dàng tích hợp vào phần mềm

hệ điều hành. TCP/IP trên Ethernet đã trở thành một cách thức thông dụng để trạm

làm việc nối đến trạm khác.

Trong thập kỷ 1980, máy tính cá nhân được sử dụng rộng rãi trong các công ty

và trường Đại học trên thế giới. Mạng Ethernet kết nối các máy tính cá nhân (PC) trở

thành phổ biến. Các nhà sản xuất phần mềm thương mại cũng đưa ra những chương

trình cho phép các máy PC và máy UNIX giao tiếp cùng một ngôn ngữ trên mạng.

Vào giữa thập kỷ 1980, giao thức TCP/IP được dùng trong một số kết nối khu

vực - khu vực (liên khu vực) và cũng được sử dụng cho các mạng cục bộ và mạng liên

khu vực.

Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng 1974 trong khi mạng vẫn

được gọi là ARPANET. Vào thời điểm này, ARPANET (hay Internet) còn ở qui mơ rất

nhỏ.

Mốc lịch sử quan trọng của Internet được chọn vào giữa thập kỷ 1980, khi Quỹ

khoa học quốc gia Mỹ NSF (National Science Foundation) thành lập mạng liên kết

các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET. Mạng này chính là mạng

Internet. Điểm quan trọng của NSFNET là cho phép mọi người cùng sử dụng. Trước

NSFNET, chỉ các nhà khoa học, chuyên gia máy tính và nhân viên các cơ quan chính

phủ được kết nối Internet.

Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSFNET. Chính vì vậy, sau

gần 20 năm ARPANET trở nên khơng còn hiệu quả và đã ngừng hoạt động vào

khoảng năm 1990.

Ngày nay, mạng Internet phát triển mạnh mẽ hơn các phương tiện truyền thông

truyền thống khác như phát thanh và truyền hình, do sự cải tiến và phát triển không

ngừng. Các công nghệ đang áp dụng trên Internet giúp cho Internet trở thành mạng

liên kết vơ số kho thơng tin tồn cầu, có dịch vụ phong phú về nội dung, hình thức. Đó

cũng chính là điều thúc đẩy chúng ta nên bắt đầu ngay với hành trình khám phá thế

giới mới - thế giới Internet.

2. Internet là gì ?



Internet (Inter-network) là một mạng máy tính rất rộng lớn kết nối các mạng máy

tính khác nhau nằm rải rộng khắp toàn cầu. Một mạng (Network) là một nhóm máy

tính kết nối nhau, các mạng này lại liên kết với nhau bằng nhiều loại phương tiện, tốc

Báo cáo thực tập



4



Trường cao đẳng công nghệ Hà Nội



Khoa: Công nghệ thơng tin



độ truyền tin khác nhau. Do vậy có thể nói Internet là mạng của các mạng máy tính.

Các mạng liên kết với nhau dựa trên bộ giao thức (như là ngôn ngữ giao tiếp) TCP/IP

(Transmision Control Protocol - Internet Protocol): Giao thức điều khiển truyền dẫngiao thức Internet. Bộ giao thức này cho phép mọi máy tính liên kết, giao tiếp với

nhau theo một ngơn ngữ máy tính thống nhất giống như một ngơn ngữ quốc tế (ví dụ

như Tiếng Anh) mà mọi người sử dụng để giao tiếp.

Mạng Internet không chỉ cho phép chuyển tải thông tin nhanh chóng mà còn

giúp cung cấp thơng tin. Nó cũng là diễn đàn trao đổi và là thư viện toàn cầu đầu tiên.

3. Cấu trúc mạng Internet



Internet là một liên mạng, tức là mạng của các mạng con. Để kết nối hai mạng

con với nhau, có hai vấn đề cần giải quyết :

- Vấn đề thứ nhất: Về mặt vật lý, hai mạng con chỉ có thể kết nối với nhau khi có

một thiết bị có thể kết nối với cả hai mạng này. Việc kết nối đơn thuần về vật lý chưa

thể làm cho hai mạng con có thể trao đổi thông tin với nhau.

- Vấn đề thứ hai: Thiết bị kết nối được về mặt vật lý với hai mạng con phải hiểu

được cả hai giao thức truyền tin được sử dụng trên hai mạng con này và các gói thơng

tin của hai mạng con sẽ được gửi qua nhau thơng qua thiết bị đó. Thiết bị này được

gọi là cổng nối Internet (Internet Gateway) hay Bộ định tuyến (Router).

Trên Internet, tất cả các mạng đều có quyền bình đẳng cho dù chúng có tổ chức

hay số lượng máy có sự khác nhau. Bộ giao thức TCP/IP của Internet hoạt động tuân

theo quan điểm sau: tất các các mạng con trong Internet như là Ethernet, một mạng

diện rộng như NSFNET Backbone hay một liên kết điểm-điểm giữa hai máy duy nhất

đều được coi như là một mạng. Điều này xuất phát từ quan điểm đầu tiên khi thiết kế

giao thức TCP/IP là có thể liên kết giữa các mạng có kiến trúc hồn tồn khác nhau.

Khái niệm "mạng" đối với TCP/IP bị ẩn đi phần kiến trúc vật lý của mạng. Đây chính

là điểm giúp cho TCP/IP trở lên rất mạnh. Như vậy, người dùng trong Internet hình

dung Internet là một mạng thống nhất và bất kỳ hai máy nào trên Internet đều được

nối với nhau thông qua một mạng duy nhất.

II. World Wide Web

1. Nguồn gốc của World Wide Web



World Wide Web ra đời từ một dự án nghiên cứu phát triển tại Trung tâm nghiên

cứu hạt nhân châu Âu vào năm 1989. Nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu và phát triển

một giao thức truyền và nhận các tập tin siêu văn bản theo mơ hình client/server được

gọi tắt là HTTP (Hyper Text Transfer Protocol). Sau đó nhóm đã phát triển cơng bố

rộng rãi thư viện chương trình nguồn của giao thức này cho các nhà phát triển và các

tổ chức phát triển trên Internet để họ phát triển các trình duyệt Web (Web Browser).

Các tổ chức và tập đoàn đã thành lập W3 Consortium để tiếp tục chuẩn hoá và phát



Báo cáo thực tập



5



Trường cao đẳng công nghệ Hà Nội



Khoa: Công nghệ thông tin



triển bộ giao thức. W3 Consortium đã phát triển thêm các tính năng mới của HTML

và các mức cũng như các chuẩn để thực hiện các phần mềm đi kèm. Từ đó thuật ngữ

World Wide Web ra đời.

2. Cơ chế hoạt động



World Wide Web về cơ bản rất giống với những hệ thống văn bản trợ giúp cho

những chương trình ứng dụng như các help online trong hệ điều hành Windows. ý

tưởng cơ bản của hệ thống này là thay thế việc tổ chức văn bản theo kiểu cấu trúc

cứng nhắc, lần lượt văn bản sẽ được tổ chức theo kiểu liên kết phức tạp cho phép nhảy

từ đề mục này sang đề mục khác bằng cách thao tác trên văn bản và tuỳ theo sự lựa

chọn của người đọc.

Các liên kết cho phép người đọc điều khiển việc chuyển đổi từ văn bản này sang

văn bản khác trong siêu văn bản. Như vậy mỗi một liên kết chính là một móc xích cho

phép liên kết hai văn bản lại với nhau và các liên kết này rất phức tạp vì trong mỗi

một văn bản có rất nhiều các điểm liên kết.

Cũng giống như các dịch vụ khác trên Internet, World Wide Web có thể hoạt động

trên mọi hệ điều hành và giữa các hệ điều hành khác nhau. Sở dĩ như vậy là do World

Wide Web đã sử dụng một ngôn ngữ giao tiếp chung HTTP. Ngồi ra World Wide

Web cũng có thể hiểu được một số giao thức khác của Internet như FTP, TELNET...

WWW hoạt động theo mơ hình client/server. Dữ liệu Web được lưu trữ trên các

Web Server. Web Browser (trình duyệt Web) là chương trình để xem các tài liệu Web,

được đặt trên client.

Web Browser hay được sử dụng nhất là Google-Chrome của Google và MozillaFirefox. Người dùng sử dụng các công cụ này để yêu cầu hiển thị các trang Web.

Những nhà cung cấp dịch vụ Web có một Web Server (chương trình quản lý hệ thống

dữ liệu Web), nhận các yêu cầu từ khách hàng (Web Browser) thơng qua hệ thống

mạng, sau đó gửi các văn bản tương ứng đến đúng nơi yêu cầu. Khi giao tiếp với Web

Server, Web Browser sử dụng giao thức HTTP. Ngoài ra Web cũng sử dụng một số

giao thức khác của Internet như: FTP, TELNET, GOPHER.

III. Web Server



Web Server (máy phục vụ Web): máy tính mà trên đó cài đặt phần mềm phục vụ

Web, đơi khi người ta cũng gọi chính phần mềm đó là Web Server. Tất cả các Web

Server đều hiểu và chạy được các file *.htm và *.html, tuy nhiên mỗi Web Server lại

phục vụ một số kiểu file chuyên biệt chẳng hạn như IIS của Microsoft dành cho *.asp,

*.aspx...; Apache dành cho *.php...; Sun Java System Web Server của SUN

Báo cáo thực tập



6



Trường cao đẳng công nghệ Hà Nội



Khoa: Công nghệ thông tin



Máy Web Server là máy chủ có dung lượng lớn, tốc độ cao, được dùng để lưu trữ

thông tin như một ngân hàng dữ liệu, chứa những website đã được thiết kế cùng với

những thông tin liên quan khác. (các mã Script, các chương trình, và các file

Multimedia)

Web Server có khả năng gửi đến máy khách những trang Web thông qua môi

trường Internet (hoặc Intranet) qua giao thức HTTP - giao thức được thiết kế để gửi

các file đến trình duyệt Web (Web Browser), và các giao thức khác.

Tất cả các Web Server đều có một địa chỉ IP (IP Address) hoặc cũng có thể có một

Domain Name. Giả sử khi bạn đánh vào thanh Address trên trình duyệt của bạn một

dòng http://www.abc.com sau đó gõ phím Enter bạn sẽ gửi một yêu cầu đến một

Server có Domain Name là www.abc.com. Server này sẽ tìm trang Web có tên là

index.htm rồi gửi nó đến trình duyệt của bạn.

Bất kỳ một máy tính nào cũng có thể trở thành một Web Server bởi việc cài đặt lên

nó một chương trình phần mềm Server Software và sau đó kết nối vào Internet.

Khi máy tính của bạn kết nối đến một Web Server và gửi đến yêu cầu truy cập các

thơng tin từ một trang Web nào đó, Web Server Software sẽ nhận yêu cầu và gửi lại

cho bạn những thông tin mà bạn mong muốn.

Giống như những phần mềm khác mà bạn đã từng cài đặt trên máy tính của mình,

Web Server Software cũng chỉ là một ứng dụng phần mềm. Nó được cài đặt, và chạy

trên máy tính dùng làm Web Server, nhờ có chương trình này mà người sử dụng có thể

truy cập đến các thơng tin của trang Web từ một máy tính khác ở trên mạng (Internet,

Intranet).

Web Server Software còn có thể được tích hợp với CSDL (Database), hay điều

khiển việc kết nối vào CSDL để có thể truy cập và kết xuất thông tin từ CSDL lên các

trang Web và truyền tải chúng đến người dùng.

Server phải hoạt động liên tục 24/24 giờ, 7 ngày một tuần và 365 ngày một năm,

để phục vụ cho việc cung cấp thông tin trực tuyến. Vị trí đặt server đóng vai trò quan

trọng trong chất lượng và tốc độ lưu chuyển thông tin từ server và máy tính truy cập.

IV. Ngơn ngữ lập trình

1. Tổng quan về HTML



HTML (tiếng Anh, viết tắt là HyperText Markup Language, hay là "Ngôn ngữ

Đánh dấu Siêu văn bản") là một ngôn ngữ đánh dấu được thiết kế ra để tạo nên các

trang web với các mẩu thông tin được trình bày trên World Wide Web. HTML được

Báo cáo thực tập



7



Trường cao đẳng công nghệ Hà Nội



Khoa: Công nghệ thông tin



định nghĩa như là một ứng dụng đơn giản của SGML và được sử dụng trong các tổ

chức cần đến các yêu cầu xuất bản phức tạp. HTML đã trở thành một chuẩn Internet

do tổ chức World Wide Web Consortium (W3C) duy trì. Phiên bản chính thức mới

nhất của HTML là HTML 4.01 (1999). Sau đó, các nhà phát triển đã thay thế nó bằng

XHTML. Hiện nay, HTML đang được phát triển tiếp với phiên bản HTML5 hứa hẹn

mang lại diện mạo mới cho Web.

2. Tổng quan về Javascript



Javascript là một ngơn ngữ thơng dịch (interpreter), chương trình nguồn của nó

được nhúng (embedded) hoặc tích hợp (integated) vào tập tin HTML chuẩn. Khi file

được load trong Browser (có support cho javascript), Browser sẽ thông dịch các Script

và thực hiện các cơng việc xác định. Chương trình nguồn javascript được thơng dịch

trong trang HTML sau khi toàn bộ trang được load nhưng trước khi trang được hiển

thị.

Javascript là một ngôn ngữ có đặc tính:

• Đơn giản.

• Động (Dynamic).

• Hướng đối tượng (Object Oriented).

3. Tổng quan về PHP & MySQL



PHP là một ngơn ngư lập trình web phía server. PHP viết tắt của PHP: Hypertext

Preprocessor. PHP là một ngơn ngữ lập trình server-side scripting. PHP script được

thực hiện trên máy chủ PHP hỗ trợ rất nhiều cơ sở dữ liệu (MySQL, Informix, Oracle,

Sybase, Solid, PostgreSQL, Generic ODBC, vv).

PHP là một phần mềm mã nguồn mở. PHP có thể chứa các tập tin văn bản, thẻ HTML

và các script. Tập tin PHP được trả lại cho trình duyệt như HTML. PHP tập tin có một

mở rộng của tập tin. “Php”, “. Php3″, hoặc “. Phtml”

MySQL là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu. MySQL rất thích hợp cho những ứng dụng

Web. MySQL hồn tồn miễn phí. Bạn có thể sử dụng mà khơng cần chuẩn bị bất kỳ

khoản chi phí nào. MySQL khơng có đầy đủ như một Hệ Quản trị CSDL chính tơng,

nhưng đối với cơng việc thường nhật của phần đơng mọi người thì nó cung cấp cũng

khá nhiều thứ. MySQL được cải thiện liên tục với một tần số khơng ngờ. Các nhà phát

triển cập nhật nó thường xun, ngồi ra còn bổ sung các tính năng rất ấn tượng cho

nó mọi lúc mọi nơi.

Hiện tại, MySQL đã được bổ sung thêm hỗ trợ transaction. Như vậy là MySQL đã

thực thụ trở thành một Hệ Quản trị CSDL chuyên nghiệp.



Báo cáo thực tập



8



Trường cao đẳng công nghệ Hà Nội



Khoa: Cơng nghệ thơng tin



PHẦN II: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG

I. GIẢI THÍCH CÁC KÝ HIỆU

Tác nhân ngồi:

Luồng dữ liệu:

Q trình:

Kho dữ liệu:



II. BIỂU ĐỜ PHÂN CẤP CHỨC NĂNG

1. Biểu đồ phân cấp chức năng



Biểu đồ phân cấp chức năng là một loại biểu đồ diễn tả sự phân rã dần dần các

chức năng từ đại thể đến chi tiết. Mỗi nút trong biểu đồ là một chức năng, và quan hệ

duy nhất giữa các chức năng, diễn tả bởi các cung nối liền các nút, là quan hệ bao

hàm, tất cả đều được thể hiện trên một khung sơ đồ. Hay biểu đồ phân cấp chức năng

tạo thành một cấu trúc cây.



Báo cáo thực tập



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ INTERNET - WORLD WIDE WEB

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×