Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
So sánh giữa tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu huy động nợ của DN

So sánh giữa tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu huy động nợ của DN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tín dụng ngân hàng



Giống nhau

K

hác

nhau



Điều

kiện vay nợ



Đối

tượng tham

gia



Thời

hạn vay



Ư

u,

nhược

điểm

của mỗi

hình

thức



Ưu

điểm



Phát hành trái

phiếu

Cả 2 đều là công cụ huy động nợ tạo điều kiện

cho DN bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh

doanh.

Vốn vay có nhiều hạn

Điều kiện dễ chịu

chế về giới hạn cho vay.

hơn bởi chính DN chủ

Ngân hàng đặt ra nhiều quy động phát hành để huy

định chặt chẽ hơn về điều

động vốn

kiện vay vốn, lãi suất..

nhằm kiểm soát

Ngân hàng là người

_ DN phát hành

đặt ra và bắt DN tuân theo

là người đi vay, đặt ra

các điều kiện để vay được

các điều khoản về lãi

tiền

suất và những thứ liên

quan để hấp dẫn người

mua.

_ Người nắm

giữa TP là người cho

vay( nhà đầu tư)

Các ngân hàng

Có thể vay vốn

thương mại thường đặt

trung và dài hạn với số

trọng tâm vào thị trường tín

lượng lớn.

dụng ngắn hạn(hiện nay cho

vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng

trên 70% tổng hạn mức tín

dụng của ngân hàng). Vì

vậy việc huy động nguồn

vốn vay dài hạn của DN từ

các ngân hàng thương mại

chỉ có giới hạn nhất định

-Thu nhập từ lãi tiền

Một khi trái

gửi tại ngân hàng, tổ chức phiếu được bán cho các

tín dụng là những khoản thu

nhà đầu tư, nghĩa vụ

nhập được miễn thuế thu

duy nhất của DN phát

nhập cá nhân.

hành là trả lãi và trả lại

-Ngân hàng đòi hỏi tiền khi đáo hạn. Người

có hình thức bảo đảm nên

chủ nắm giữ trái phiếu

hạn chế được rủi ro. Các

khơng có quyền kiểm

giao ước cho vay của ngân

sốt và tham gia vào

hàng giúp cho các ngân

cơng việc của DN

hàng đảm bảo an tồn cho

mình (và cũng góp phần tích

cực đảm bảo cho những

người cho vay), nhưng áp

đặt các hạn 4chế lên các

khách hàng vay. Ví dụ, nếu

một ngân hàng tìm thấy một

khách hàng vay vi phạm



Nguồn vốn vay dài hạn không chỉ bao gồm nợ vay ngân hàng mà còn gồm

cả nợ huy động qua thị trường vốn dưới hình thức trái phiếu. Nghiên cứu thực

trạng huy động nợ vay của công ty, người ta thấy tùy theo định hướng phát triển thị

trường vốn của mỗi quốc gia, cơng ty thích sử dụng nợ vay ngân hàng hay là trái

phiếu. Ở các nước châu Âu như Pháp, Đức, Thụy Điển nói chung cơng ty sử dụng

nợ vay từ ngân hàng hơn là vay từ thị trường vốn. Ngược lại, ở Mỹ công ty thường

huy động vốn dài hạn từ thị trường vốn hơn là vay ngân hàng.

Ở Việt Nam, trước năm 2000, do chưa có thị trường vốn nên công ty chỉ dựa

vào ngân hàng để huy động nguồn vốn dài hạn. Từ sau năm 200, ngoài ngân hàng

ra cơng ty còn có thể huy động vốn qua thị trường vốn dưới hình thức phát hành cổ

phiếu và trái phiếu. Tuy nhiên, do thói quen và tập quán quản lý nên việc huy động

vốn dài hạn qua thị trường vốn nói chung còn ở mức rất hạn chế. Cả công ty và nhà

đầu tư hiện nay cũng còn hạn chế sử dụng kênh huy động vốn này.6. Phân tích các

điều kiện mà các Dn cần có để huy động vốn và điều kiện mà doanh nghiệp cần có

để phát hành cổ phiếu

Yêu cầu đối với DN và các Tổ chức tín dụng:

-



Có năng luật pháp luật dân sự.

Riêng đối với doanh nghiệp nước ngồi, pháp nhân đó phải có năng lực pháp luật

dân sự theo quy định của nước mà cá nhân đó là cơng dân, nếu pháp luật nước

ngồi đó được Bộ Luật Dân sự của nước CHXHCN Việt Nam, các văn bản pháp

luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà nước CHXHCN



-



Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định.

Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.

Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết:

+ Có vốn chủ sở hữu tham gia vào phương án/ dự án phục vụ sản xuất kinh doanh

hay phục vụ đời sống. Trường hợp vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tham gia vào

phương án/ dự án vay vốn thấp hơn mức quy định, ngân hàng sẽ xem xét và quyết



5



định cho vay căn cứ vào tính hiệu quả, khả năng đảm bảo trả nợ của phương án/ dự

án.



-



+ Có tình hình tài chính lành mạnh, sản xuất kinh doanh có lãi., nếu bị lỗ thì

phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận cấp bù lỗ.

Phương án/ dự án đầu tư hoặc dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống



-



phải khả thi, có hiệu quả kèm theo phương án trả nợ khả thi.

Thực hiện các biện pháp tài sản đảm bảo tiền vay (có/ khơng có đảm bảo bằng tài

sản) theo quy định của ngân hàng.

Các hình thức quan hệ tín dụng ngân hàng:

Bảo lãnh vay vốn là cam kết bằng văn bản của Ngân hàng Phát triển Việt

Nam với ngân hàng thương mại về việc sẽ trả nợ thay cho doanh nghiệp trong

trường hợp doanh nghiệp không trả hoặc trả không đầy đủ, đúng hạn nợ vay

(gốc và lãi) đối với ngân hàng thương mại.

1. Bảo lãnh

Bên bảo lãnh là Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

4 điều kiện gồm: 1- Là doanh nghiệp nhỏ và vừa (trừ doanh nghiệp siêu nhỏ)

thực hiện dự án, sản xuất kinh doanh thuộc ngành, lĩnh vực như nông nghiệp, lâm

nghiệp và thủy sản; công nghiệp chế biến, chế tạo;...; 2- Có dự án đầu tư có hiệu

quả, có khả năng hoàn trả vốn vay. Dự án đầu tư được Ngân hàng Phát triển Việt

Nam thẩm định và quyết định bảo lãnh theo quy định; 3- Có tối thiểu 15% vốn chủ

sở hữu tham gia dự án đầu tư; 4- Tại thời điểm đề nghị bảo lãnh, khơng có nợ xấu

tại các tổ chức tín dụng.

Ngân hàng Phát triển Việt Nam có thể bảo lãnh một phần hoặc tồn bộ

khoản vay của doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại (tối đa 85% tổng mức vốn

đầu tư dự án) trên cơ sở kết quả thẩm định dự án sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp và khả năng tài chính của các bên.

Thời hạn bảo lãnh vay vốn được xác định phù hợp với thời hạn vay vốn của

doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại theo hợp đồng tín dụng và thời gian thực

hiện các thủ tục để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của Ngân hàng Phát triển Việt

Nam.

Giới hạn bảo lãnh vay vốn cho 1 doanh nghiệp tối đa khơng vượt q 5%

vốn điều lệ thực có của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

6



Tổng mức bảo lãnh vay vốn của Ngân hàng Phát triển Việt Nam cho các

doanh nghiệp tối đa không vượt quá 5 lần so với vốn điều lệ thực có của Ngân

hàng Phát triển Việt Nam.

2. Cầm cố

Cầm cố tài sản là việc bên cầm cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình

cho bên nhận cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự[4], sau khi nhận

chuyển giao tài sản cầm cố, bên nhận cầm cố có thể ủy quyền cho người thứ 3 giữ

tài sản nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm trước bên cầm cố về việc thực hiện nghĩa

vụ theo quy định tại Điều 332 – Bộ luật Dân sự 2005[5].

Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản[6]. Sự phát

triển kinh tế – xã hội và đa dạng hóa các loại hình tài sản hiện nay đã khiến cho

phương pháp liệt kê thông thường về tài sản tại Thông tư 06/2000/TT-NHNN1

ngày 4/4/2000 không còn phù hợp. Tài sản gồm nhiều loại: Động sản, bất động

sản, giấy tờ có giá và các quyền tài sản là các quyền trị giá được bằng tiền và có

thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ, quyền đối với

giống cây trồng, vật ni, quyền đòi nợ[7],…

Giá tài sản là do các bên tự thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên vấn đề nảy sinh

là đối với những tài sản biến động lớn như vàng

Tuy nhiên, cầm cố chỉ áp dụng với một số khoản tín dụng có giá trị nhỏ, còn

với khoản vay lớn các bên thường lựa chọn biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản.

3. Thế chấp

Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, đây là biện pháp được sử dụng phổ biến

hơn cả.



7



Thế chấp tài sản là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp và khơng chuyển

giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp[8].



Theo số liệu thu thập từ ngân hàng Viettinbank thì NHCTVN cho vay tối đa

khơng q 70% giá trị tài sản đảm bảo đã được xác định và ghi trên hợp đồng tín

dụng, hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh. Riêng đối với, tài sản đảm bảo là:

- Kim khí quý, đá quý, mức cho vay tối đa không quá 80% giá trị tài sản đảm bảo.

- Trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm và những loại giấy tờ có giá khác trị

giá được bằng tiền do Chính phủ, Bộ Tài chính và các NHTM Nhà nước phát hành,

mức



cho



vay



tối



đa



không



quá



90%



giá



trị



tài



sản



đảm



bảo.



- Trường hợp những dự án, phương án có mức vốn đề nghị vay cao hơn tỷ lệ quy

định, ngân hàng sẽ xem xét và quyết định cho vay căn cứ vào tính hiệu quả, khả

năng đảm bảo trả nợ của phương án/ dự án.

4. Một số trường hợp cho vay không cần bảo đảm

Thường ưu tiên đối với pháp nhân là doanh nghiệp nhà nước:





Doanh nghiệp sử dụng vốn vay có hiệu quả, trả nợ cả gốc và lãi vốn vay đúng hạn







và đầy đủ trong quan hệ với NHCTVN và các ngân hàng khác.

Doanh nghiệp có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh và dịch vụ khả









thi, có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật.

Doanh nghiệp có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Doanh nghiệp cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu nếu

không thực hiện đúng những quy định trong hợp đồng tín dụng, cam kết trả nợ







trước hạn nếu khơng thực hiện được các biện pháp đảm bảo bằng tài sản.

Doanh nghiệp có kết quả kinh doanh lãi trong 02 năm liền kề gần nhất với thời

điểm cho vay. (Viettinbank)

8



-



Phải mua bảo hiểm tài sản nếu tài sản là đối tượng vay vốn mà pháp luật quy định

phải mua bảo hiểm.



-



Việc cho vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có

nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay,

lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả

nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận.



9



7. Những điều kiện mà doanh nghiệp phải đáp ứng khi tiến hành phát hành trái

phiếu huy động vốn.

Trả lời:

Những điều kiện mà doanh nghiệp phải đáp ứng khi phát hành trái phiếu huy

động vốn được quy định tại Nghị định số: 90/2011/NĐ-CP được ban hành ngày

14/10/2011

Theo đó, các điều kiện mà Doanh nghiệp phải đáp ứng khi tiến hành phát

hành TP huy động vốn bao gồm:

Thứ nhất, Với các Doanh nghiệp phát hành trái phiếu trong nước.

1. Đối với trái phiếu không chuyển đổi

 Doanh nghiệp có thời gian hoạt động tối thiểu là một (01) năm kể từ ngày doanh



nghiệp chính thức đi vào hoạt động;

 Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành phải



có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm tốn bởi Kiểm toán Nhà nước hoặc tổ chức

kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam . Báo cáo tài chính

được kiểm tốn của doanh nghiệp phát hành phải là báo cáo kiểm toán nêu ý kiến

chấp nhận toàn phần. Trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu trước ngày 01

tháng 4 hàng năm chưa có báo cáo tài chính năm của năm liền kề được kiểm tốn

thì phải có:

o Báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với kết quả hoạt động



sản xuất kinh doanh có lãi;

o Báo cáo tài chính quý gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi



được kiểm tốn (nếu có);

o Báo cáo tài chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi



được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phê duyệt theo

Điều lệ hoạt động của công ty.

 Đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về đảm bảo an toàn



trong hoạt động đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại pháp

luật chuyên ngành;

10



 Có phương án phát hành trái phiếu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và chấp



thuận quy định tại Điều 14, Điều 15 Nghị định này.

2. Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền,

doanh nghiệp phát hành ngoài việc đáp ứng các điều kiện trên còn phải đáp ứng

các điều kiện sau:

 Thuộc đối tượng được phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo



chứng quyền;

 Đảm bảo tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam theo



quy định của pháp luật hiện hành;

 Các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi phải cách nhau ít nhất sáu (06) tháng.



Thứ hai, với các Doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra nước ngồi.

1. Đối với trái phiếu khơng chuyển đổi

 Doanh nghiệp phát hành có thời gian hoạt động tối thiểu là ba (03) năm kể từ ngày



chính thức đi vào hoạt động;

 Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của ba (03) năm liên tiếp liền kề trước năm



phát hành phải có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm tốn bởi Kiểm tốn Nhà

nước hoặc tổ chức kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp ở Việt Nam.

Báo cáo tài chính được kiểm tốn của doanh nghiệp phát hành trong 3 năm liên

tiếp liền kề trước năm phát hành phải là báo cáo kiểm tốn nêu ý kiến chấp nhận

tồn phần;

 Đáp ứng u cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về đảm bảo an toàn



trong hoạt động đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại pháp

luật chuyên ngành;

 Trị giá phát hành trái phiếu quốc tế phải được Ngân hàng Nhà nước xác nhận thuộc



tổng hạn mức vay thương mại nước ngoài hàng năm được Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt;





Đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế về hệ số tín nhiệm để phát hành trái phiếu.

Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước phải đảm bảo có hệ số tín nhiệm tối thiểu

bằng hệ số tín nhiệm quốc gia;

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

So sánh giữa tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu huy động nợ của DN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×