Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Tải bản đầy đủ - 0trang

3

Pham vi về thời gian: Thu thập các thông tin thứ cấp phù hợp với chu

kỳ kinh doanh của các lồi cây trồng chính của sản xuất lâm nghiệp. Thơng

tin sơ cấp đƣợc điều tra khảo sát trong năm 2015 và 2016.

4. Nội dung nghiên cứu:

Luận văn đi sâu nghiên cứu các vấn đề cụ thể sau đây:

Cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng và hiệu quả sử dụng đất nơng

nghiệp nói chung và đất lâm nghiệp trong kinh doanh rừng trồng nói riêng.

Thực trạng sử dụng và hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp các doanh

nghiệp thuê để đầu tƣ trồng rừng trên địa bàn huyện Đam rông.

Các nhân tố ảnh hƣởng đến sử dụng và hiệu quả sử dụng đất lâm

nghiệp sau khi thuê để kinh doanh rừng trồng của các doanh nghiệp ở Đam

rông.

Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất thuê trồng rừng của các

doanh nghiệp trên địa bàn.

Cấu trúc của đề tài: Đề tài gồm những nội dung chính sau:

Mở đầu: Giới thiệu những vấn đề cơ bản của việc thực hiện nghiên cứu

nhƣ: đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp phân tích số

liệu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu; đồng thời trình bày các bƣớc tiến hành

nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và cấu trúc của đề tài.

Chƣơng 1. Tổng quan: Trình bày các lý thuyết liên quan đến nội dung

nghiên cứu bao gồm: các cơ sở lý luận về tầm quan trọng của sử dụng đất đai,

các văn bản về luật cho thuê đất đai, lý luận về hiệu quả sử dụng đất đai, cách

đánh giá hiệu quả sử dụng đất.

Chƣơng 2. Phƣơng pháp thực hiện nghiên cứu: Trình bày phƣơng pháp

thực hiện nghiên cứu gồm chọn mẫu nghiên cứu, thu thập số liệu, phân tích số

liệu và tổng quan các nghiên cứu trƣớc.



4

Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Phân tích thống kê mơ tả

về thực trạng giao đất giao rừng, sử dụng đất rừng sau thuê của các doanh

nghiệp, hiệu quả sử dụng đất sau thuê của các doanh nghiệp; từ đó làm cơ sở

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất của các doanh

nghiệp.

Kết luận và kiến nghị: Kết luận những nội dung và kết quả nghiên cứu

chính, đề xuất một số giải pháp và gợi ý cho những hƣớng nghiên cứu tiếp

theo nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng đất sau thuê.



5

CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lý luận.

1.1.1. Cơ sở lý luận về đất đai.

Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc

biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống đƣợc sử dụng

vào nhiều mục đích khác nhau nhƣ xây dựng cơng trình, cơ sở hạ tầng, an

ninh quốc phòng [21]. Đất đai là đều kiện chung nhất đối với mọi quá trình

sản xuất và hoạt động của con ngƣời, nói cách khác, khơng có đất sẽ khơng có

sản xuất cũng nhƣ khơng có sự tồn tại của chính con ngƣời.

Đối với ngành phi nơng nghiệp đất đai giữ vai trò thụ động với chức

năng là cơ sở khơng gian và vị trí để hồn thiện quá trình lao động, là kho

tàng dự trữ trong lòng đất. Đối với ngành này, q trình sản xuất và sản phẩm

đƣợc tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất cũng nhƣ

chất lƣợng thảm thực vật và tính chất tự nhiên sẵn có trong đất.

Đối với các ngành nông - lâm nghiệp, đất đai có vai trò vơ cùng quan

trọng. Đất đai khơng chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết

cho sự tồn tại mà còn là yếu tố tích cực của các q trình sản xuất đồng thời là

công cụ sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi do đó nó là đối tƣợng lao động

nhƣng cũng lại là cơng cụ hay phƣơng tiện lao động.

Q trình sản xuất nơng - lâm nghiệp ln gắn bó chặt chẽ với đất và

các sản phẩm làm ra đƣợc luôn phụ thuộc vào các đặc điểm của đất mà cụ thể

là độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất [23]. Tuy nhiên độ phì

nhiêu của đất khơng phải là yếu tố vĩnh viễn và cố định mà ln thay đổi

trong q trình hình thành và phát triển của tự nhiên. Ngồi ra trong q trình

sản xuất dƣới tác động của con ngƣời thì độ phì nhiêu ngày càng cạn kiệt,

ngƣợc lại nếu tác động của con ngƣời có sáng tạo và khoa học thì độ phì



6

nhiêu của đất ngày càng đƣợc nâng cao vì ngồi nhân tố tự nhiên còn có xã

hội tham gia vào q trình hình thành và phát triển của đất đai.

1.1.2. Vai trò của đất đai trong phát triển, sản xuất nông nghiệp.

Đất đai từ lâu đã gắn liền với đời sống và sản xuất của con ngƣời, nó

gắn liền với lịch sử đấu tranh sinh tồn của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Vì vậy,

đất đai giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Đất đai đƣợc Hiến pháp nƣớc ta

khẳng định với vai trò là một tài nguyên quốc gia, Giáo trình đăng ký – thống

kê đất đai đã viết về vai trò quan trọng của đất đai nhƣ sau: “Đất đai là tài

nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần

quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân cƣ,

xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hố, xã hội, an ninh và quốc phòng”. Nói nhƣ

vậy để thấy đƣợc rằng đất đai có vị trí vơ cùng quan trọng đối với tất cả các

ngành, lĩnh vực trong cả đời sống và sản xuất của con ngƣời [24].

Là sản phẩm của tự nhiên, có trƣớc lao động và cùng với quá trình lịch

sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện chung của lao động. Sự tồn

tại và phát triển của đất đai quyết định sự tồn tại và phát triển của lồi ngƣời,

khơng có đất đai thì khơng thể có sự sống và khơng có sự tồn tại và phát triển

của bất cứ một xã hội lồi ngƣời nào. Vì vậy, đất đai không chỉ là tài nguyên

vô cùng quý giá mà còn là điều kiện sống của mn lồi.

Đất đai tham gia vào mọi hoạt động của đời sống và sản xuất. Rõ ràng

là nếu nhƣ khơng có đất đai thì sẽ khơng có bất kì một ngành sản xuất nào,

một q trình lao động nào. Vai trò của đất đai về mặt này đƣợc thể hiện:

Thứ nhất, đất đai là địa điểm cho mọi hoạt động sản xuất và đời sống

diễn ra.

Thứ hai, đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã

hội. Tuy nhiên, đối với từng ngành cụ thể của nền kinh tế quốc dân, đất đai có

vị trí khác nhau. Đối với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, đất đai là



7

địa điểm để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, kho tàng, bến bãi,… đất đai

cung cấp nguồn nguyên liệu cho một số ngành sản xuất nhƣ ngành cơng

nghiệp sản xuất gạch ngói, xi măng, gốm sứ,... Đối với các hoạt động sản xuất

nơng nghiệp, đất đai có một vị trí đặc biệt và vai trò hết sức quan trọng, là tƣ

liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế đƣợc. Nó khơng những là chỗ

đứng, chỗ tựa để lao động, mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng, là nơi

chuyển dần hầu hết tác động của con ngƣời vào cây trồng. Đất đai sử dụng

trong nơng nghiệp đƣợc gọi là ruộng đất, nó có ý nghĩa vừa là đối tƣợng lao

động, vừa là tƣ liệu lao động. Thông qua đất đai và sản xuất nông nghiệp để

tạo ra các thực phẩm ni sống con ngƣời.

Vì vậy có thể khẳng định đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với

sản xuất và đời sống của con ngƣời. Dƣới bất cứ một thời đại nào, một chế độ

xã hội nào, đất đai cũng là một vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu của bộ máy

Nhà nƣớc. Giao và cho thuê đất là một trong những công tác quan trọng của

quản lý Nhà nƣớc về đất đai. Vì vậy cơng tác này có ảnh hƣởng đến sản xuất

và đời sống của toàn xã hội. Vậy đối với các dự án đầu tƣ, công tác giao và

cho th đất có vai trò và tầm quan trọng nhƣ thế nào?

1.2. Lý luận về hiệu quả, hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất

lâm nghiệp

1.2.1. Khái quát về hiệu quả

a) Khái niêm: Hiệu quả là một phạm trù phản ánh quan hệ so sánh

giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó trong một thời kỳ nhất

định.

b) Phân loại hiệu quả: Các nhà kinh tế thƣờng phân loại hiệu quả theo

các tiêu thức sau đây:

 Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội, hiệu quả bao gồm: hiệu quả kinh

tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội và hiệu quả quốc phòng.



8

 Theo phạm vi lợi ích, hiệu quả bao gồm hiệu quả tài chính và hiệu

quả kinh tế - xã hội.

 Theo mức độ phát sinh, bao gồm hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián

tiếp.

 Theo cách tính toán, bao gồm hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tƣơng

đối. Hiệu quả tuyệt đối đƣợc tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí, hiệu

quả tƣơng đối đƣợc tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.

Hiệu quả sản xuất trong nông – lâm nghiệp đƣợc nhiều học giả nghiên

cứu, nổi bật nhất là Theodore W.Schultz (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993).

Các học giả này đều cho rằng cần phân biệt 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả

là: hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency), hiệu quả phân bổ (allocative

efficiency) và hiệu quả kinh tế (economic efficiency).

Hiệu quả kỹ thuật (TE): là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên

một đơn vị đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều

kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp. hiệu quả kỹ

thuật đƣợc áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mơ để xem xét tình hình sử dụng

nguồn lực cụ thể. Hiệu quả này thƣờng đƣợc phản ánh trong hàm sản xuất.

Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phƣơng diện vật chất của sản xuất, hiệu quả

này chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao

nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc vào bản chất kỹ thuật và

công nghệ áp dụng vào sản xuất trong nông – lâm nghiệp, phụ thuộc vào kỹ

năng của ngƣời sản xuất cũng nhƣ môi trƣờng kinh tế - xã hội khác mà trong

đó kỹ thuật đƣợc áp dụng.

Nhƣ vậy có thể hiệu hiệu quả kỹ thuật trong sử dụng đất là số lƣợng

sản phẩm có thể đạt đƣợc trên một đơn vị diện tích đất nơng nghiệp trong

những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông

nghiệp. Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phƣơng diện vật chất của sản xuất,



9

hiệu quả sử dụng đất nông – lâm nghiệp chỉ ra rằng một đơn vị diện tích đất

đƣợc dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiều đơn vị sản phẩm.

Hiệu quả phân bổ (AE): là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố có giá

sản phẩm và giá đầu vào đƣợc tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên

một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả

phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào và đầu ra.

Vì thế mà hiệu quả phân bổ còn đƣợc gọi là hiệu quả giá (Price efficiency).

Việc xác định hiệu quả này giống nhƣ xác định các điều kiện về lý thuyết cận

biên để tối đa hóa lợi nhuận. Điều đó có nghĩa là hiệu quả này đạt đƣợc khi

giá trị biên của sản phẩm phải bằng chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào

sản xuất.

Hiệu quả kinh tế (EE): là mục tiêu của ngƣời sản xuất, là thƣớc đo

phản ánh mức độ thành công của ngƣời sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp

đầu vào và đầu ra tối ƣu. EE đƣợc tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu

quả phân bổ (EE= TE*AE).

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế, trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả

kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá

trị đều đƣợc tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông –

lâm nghiệp. Nếu đạt đƣợc một trong hai hiệu quả, hoặc là hiệu quả kỹ thuật

hoặc là hiệu quả phân bổ thì mới chỉ thỏa mãn điều kiện cần chứ chƣa phải là

điều kiện đủ cho hiệu quả kinh tế. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả

chỉ tiêu về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt

hiệu quả kinh tế. Nhƣ vậy, để đạt đƣợc hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất thì

cũng cần phải đạt đƣợc cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Tuy nhiên,

hiệu quả kinh tế chỉ thể hiện mục đích của ngƣời sản xuất là tối đa hóa lợi

nhuận. Muốn sử dụng đất bền vững cần quan tâm đến cả hiệu quả về mặt xã

hội và môi trƣờng [3]



10

Ba vấn đề trên có quan hệ mật thiết với nhau và có ý nghĩa quan trọng

đối với mục tiêu phát triển bền vững trong nông – lâm nghiệp. Trong nhiều

trƣờng hợp, đặc biệt các nƣớc đang và chậm phát triển, ở những vùng núi cao,

những vùng sâu, vùng xa nơi dân cƣ có trình độ thấp, kỹ thuật canh tác lạc

hậu nhƣ ở Đam Rơng thì để đạt đƣợc lợi ích kinh tế thì nhiều khi lợi ích về

mặt xã hội, môi trƣờng không đƣợc bàn đến. Hậu quả là cạn kiệt, thối hóa tài

ngun đất, đất lại cho năng suất thấp hơn và thu nhập bị giảm, ngƣời dân bị

rơi vào vòng nghèo đói; và cứ nhƣ vật vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và

phát triển khơng bền vững duy trì từ thế hiệ này sang thế hệ khác tạo nguy cơ

tụt hậu xã hơn về mọi mặt giữa những bộ phận dân cƣ trong những vùng này

với những vùng mà ở đó ngƣời dân thành cơng trong việc điều hòa cả lợi ích

về kinh tế, xã hội và cả lợi ích vè mơi trƣờng trong q trình phát triển.

Song, để hiệu rõ về hiệu quả kinh tế, cần phải phân biệt kết quả với

hiệu quả, phân biệt hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả kinh

tế. Bên cạnh đó, cũng cần nhận ra những ƣu điểm, nhƣợc điểm của phƣơng

thức đánh giá hiệu quả kinh tế theo quan điểm truyền thống và quan điểm

hiện đại.

Sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả kinh tế, ta thấy, hiệu quả kinh

tế là phạm trù so sánh thể hiện mối tƣơng quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả

thu đƣợc, còn kết quả kinh tế chỉ là một yếu tố đƣợc sử dụng để xác định hiệu

quả mà thôi.

Thực tế cho thấy, các hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức

cũng nhƣ của cả nền kinh tế quốc dân mang lại kết quả đƣợc tính bằng khối

lƣợng sản phẩm hàng hố giá trị sản lƣợng hàng hoá doanh thu bán hàng…

Nhƣng kết quả này chỉ phản ánh quy mô hoạt động kinh tế mà chƣa phản ánh

đƣợc trình độ tổ chức sản xuất của một đơn vị hoặc một nền kinh tế, chƣa trả



11

lời đƣợc các câu hỏi nhƣ: đƣợc tạo ra bằng cách nào? Bằng phƣơng tiện gì?

Chi phí bằng bao nhiêu?

Để giải quyết đƣợc vấn đề này, kết quả của quá trình sản xuất phải

đƣợc đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí và nguồn lực khác. Trong điều

kiện giới hạn nguồn lực phải tạo ra kết quả sản xuất cao, tạo ra đƣợc nhiều

sản phẩm hàng hóa cho xã hội. Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất

trong nền kinh tế quốc dân mà theo C.Mác thì đây là cơ sở để phân biệt trình

độ văn minh của nền sản xuất này so với nền sản xuất khác. Hiệu quả kinh tế

chính là yếu tố thể hiện đƣợc điều này.

Về sự khác biệt giữa hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu đo lường hiệu quả

kinh tế , có thể thấy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất

lƣợng tổng hợp của một quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm hai mặt định

tính và định lƣợng. Trong khi đó, các chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả chỉ phản ánh

từng mặt các quan hệ định lƣợng của hiệu quả kinh tế. Thật vậy, các chỉ tiêu

đo lƣơng hiệu quả kinh tế là một phạm trù cụ thể, còn hiệu quả kinh tế vừa là

phạm trù trừu tƣợng vừa là phạm trù cụ thể. Là phạm trù trừu tƣợng vì hiệu

quả kinh tế phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh của các tổ chức sản xuất

hoặc nền kinh tế quốc dân. Các yếu tố cấu thành hiệu quả kinh tế là kết quả sản

xuất và nguồn lực cho sản xuất mang các đặc trƣng gắn liền với quan hệ sản xuất

của xã hội. Hiệu quả kinh tế chịu ảnh hƣởng của các quan hệ kinh tế, quan hệ xã

hội, quan hệ luật pháp từng quốc gia và các quan hệ khác của hạ tầng cơ sở cũng

nhƣ thƣợng tầng kiến trúc. Với nghĩa này, hiệu quả kinh tế phản ánh toàn diện sự

phát triển của tổ chức sản xuất, của một nền sản xuất xã hội.

Là một phạm trù trừu tƣợng vì hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ sản

xuất, trình độ quản lý kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của

quá trình sản xuất để đạt đƣợc kết quả đầu ra cao nhất với chi phí thấp nhất.

Là phạm trù cụ thể vì hiệu quả kinh tế có thể đo lƣờng đƣợc thơng qua

mối quan hệ bằng lƣợng giữa kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra. Đƣơng nhiên,



12

khơng thể có một chỉ tiêu tổng hợp nào phản ánh đƣợc đầy đủ các khía cạnh

khác nhau của hiệu quả kinh tế. Thông qua các chỉ tiêu thống kê, kế tốn có

thể xác định đƣợc hệ thống chỉ tiêu đó lƣờng hiệu quả kinh tế. Mỗi chỉ tiêu

phản ánh một khía cạnh nào đó của hiệu quả kinh tế. Hệ thống chỉ tiêu này

quan hệ với nhau theo thứ bậc từ chỉ tiêu tổng hợp sau đó đến các chỉ tiêu

phản ánh các yếu tố riêng lẻ của q trình sản xt kinh doanh.

Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả kinh tế đƣợc hiểu là nâng cao các chỉ tiêu

đo lƣờng và mức độ đạt đƣợc các mục tiêu định tính theo hƣớng tích cực hơn [4].

1.2.2. Các quan điểm về hiệu quả kinh tế.

Có hai quan điểm khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh tế:

 Quan điểm truyền thống

Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế là nói đến

phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí. Hiệu

quả kinh tế đƣợc đo bằng các chi phí và lãi. Nhiều tác giả theo quan điểm này

cho rằng, hiệu quả kinh tế đƣợc xem nhƣ là tỷ lệ giữa kết quả thu đƣợc với chi

phí bỏ ra, hay ngƣợc lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản

phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thƣờng là giá thành sản phẩm hay mức

sinh lời của đồng vốn đƣợc tính tốn khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh

doanh [6]

Quan điểm truyền thống trên chƣa thật hoàn thiện khi xem xét đến hiệu

quả kinh tế. Sự thiếu toàn diện đƣợc thể hiện ở những khía cạnh sau: thứ nhất,

hiệu quả kinh tế đƣợc xem xét với quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng

thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tƣ. Trong khi đó, hiệu quả kinh

tế lại là một vấn đề rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết đƣợc

kết quả đầu tƣ mà còn giúp chúng ta xem xét trƣớc khi ra quyết định có nên

tiếp tục đầu tƣ hay khơng và nên đầu tƣ bao nhiêu, đến mức độ nào. Trên

phƣơng diện này, quan điểm truyền thống chƣa đáp ứng đƣợc đầy đủ. Thứ



13

hai: quan điểm truyền thống khơng tính đến yếu tố thời gian khi tính tốn thu

và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, thu và chi trong khi

tính tốn hiệu quả kinh tế là chƣa đầy đủ và chính xác. Thứ ba, hiệu quả kinh

tế chỉ bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi. Hai phạm trù này chủ yếu

liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần nhƣ chi phí về vốn, lao động, thu về

sản phẩm và giá cả. Trong khi đó, các hoạt động đầu tƣ và phát triển lại có

những tác động khơng chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn trên các phƣơng

diện khác nữa. Bên cạnh đó, có những phần thu lợi hoặc những khoản chi phí

mà lúc đầu khó hoặc khơng lƣợng hóa đƣợc nhƣng lại đáng kể thì lại khơng

đƣợc phản ánh ở cách tính tốn theo quan điểm truyền thống này [10].

 Quan điểm hiện đại

Các nhà kinh tế đã đƣa ra quan điểm hiện đại về hiệu quả kinh tế nhằm

khắc phục những hạn chế của quan điểm truyền thống. Theo quan điểm hiện

đại, khi tính tốn hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào các tổ hợp yếu tố. Cụ thể

là:

- Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Về mối quan

hệ này, cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các

nguồn lực và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm

trên một đơn vị đầu vào (I) đầu tƣ thêm. Tỷ số ∂O/∂I đƣợc gọi là sản phẩm

biên. Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá rị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị

chi phí đầu tƣ thêm. Thực chất đó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến yếu tố giá

đầu vào và giá sản phẩm. Hiệu quả phân bổ tối đa khi doanh thu biên bằng chi

phí biên. Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tƣ thêm. Chỉ

đạt đƣợc hiệu quả kinh tế khi cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn

lực là tối đa [10].

- Yếu tố thời gian: các nhà kinh tế đƣơng đại đã coi thời gian là một

yếu tố trong tính tốn hiệu quả. Cùng đầu tƣ một lƣợng vốn nhƣ nhau và cùng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×