Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.5: Lao động làm nông nghiệp ở Ý Yên

Hình 3.5: Lao động làm nông nghiệp ở Ý Yên

Tải bản đầy đủ - 0trang

97



3.3.2. Nhân tố bên trong

3.3.2.1. Nguyên liệu đầu vào cho sản uất

Nguồn nguyên liệu cho sản xuất là một trong những yếu tố quan trọng quyết

định đến sự phát triển bền vững và lâu dài của các làng nghề. Nguồn nguyên liệu ở

Ý Yên chủ yếu đƣợc nhập từ ngoài tỉnh, ngoài nƣớc về theo nhu cầu của từng ngành

nghề sẽ đáp ứng để phát triển các làng nghề nhƣ sản phẩm chế biến gỗ, đúc, đúc

đồng, sơn dầu, sơn mài, may mặc…

Làng nghề đúc, đúc đồng ở Ý Yên nổi tiếng nhất là làng Tống Xá (xã Yên

Xá). Nguyên liệu chủ yếu là sắt phế liệu đƣợc thu mua ở trong và ngoài tỉnh, do tƣ

nhân đảm nhận thu mua và cung cấp cho các cơ sở sản xuất. Một số doanh nghiệp

đã thực hiện hợp đồng với khu gang thép Thái Nguyên để cung cấp nguyên liệu.

3.3.2.2. Nguồn vốn huy động đầu tư cho sản uất của làng nghề

Vốn là nhân tố quyết định đến hiệu quả trong hoạt động sản xuất của các

làng nghề, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trƣờng nhƣ hiện nay. Qua thực tế cho

thấy, hầu hết các làng nghề với các hộ sản xuất nhỏ đều kinh doanh bằng vốn tự có,

chỉ một số ít doanh nghiệp trong làng nghề thực hiện vay vốn để mở rộng sản xuất

kinh doanh.

Qua điều tra ta có:

Bảng 3.21. Vốn đầu tƣ cho các đơn vị sản xuất kinh doanh

Đvt Triệu đồng

Nội dung



Cộng



Năm

2012



2013



2014



2015



7.200



-



2.900



2.100



2.200



Vốn ngân sách TW



700



-



700



-



-



Vốn ngân sách tỉnh



3.700



-



1.500



1.000



1.200



Vốn ngân sách Huyện



2.700



-



700



1.000



1.000



Vốn tƣ nhân đ ng g p



3.40



-



40



100



200



Vốn đầu tƣ sản xuất của từng hộ



7.000



1.500



1.500



1.900



2.100



Vốn lƣu động từng hộ



15.600



2.500



3.700



4.400



5.000



Tổng cộng



30.040



4.000



8.140



8.400



9.500



Vốn đầu tƣ của nhà nƣ c



(Nguồn Phòng Cơng Thương Ý n)



98



Vốn tại làng nghề đúc đồng Ý Yên gồm 4 nguồn chủ yếu đó là:

+ Vốn đầu tƣ của nhà nƣớc.

+ Vốn do tƣ nhân đóng góp.

+ Vốn đầu tƣ sản xuất của từng hộ.

+ Vốn lƣu động từng hộ.

Từ bảng số liệu trên ta thấy nguồn vốn đầu tƣ chủ yếu cho sản xuất tại làng

nghề đó là vốn tự có của từng hộ, chiếm tỷ trọng rất lớn. Nguồn vốn đầu tƣ của nhà

nƣớc cũng nhƣ của tƣ nhân đóng góp khơng mang tính thƣờng xuyên. Nhƣ vốn đầu

tƣ của nhà nƣớc năm 2013 là 2.900 triệu đồng, năm 2014 giảm xuống còn 2.100

triệu đồng và năm 2015 là 2.200 triệu đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách từ trung

ƣơng chỉ có vào năm 2013. Nguồn vốn do tƣ nhân đống góp có tăng lên, năm 2013

là 40 triệu, đến năm 2014 là 100 triệu và đến năm 2015 là 200 triệu. Nguồn vốn này

tuy có tăng qua các năm nhƣng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn vốn

sản suất kinh doanh tại làng nghề.

Mặc dù đã có hệ thống tín dụng ở nơng thơn hay có các ngân hàng nhƣ: ngân

hàng nông nghiệp phát triển nông thôn cho những ngƣời nghèo. Nhƣng khả năng

tiếp cận các nguồn vốn vay từ các cơ sở tín dụng là rất hạn chế do khơng có tài sản

thế chấp, các chủ cơ sở khơng có khả năng lập đề án kinh doanh để làm thủ tục vay

vốn. Hơn nữa vì nguồn vốn cần để sản xuất là rất lớn nên suốt mấy năm qua, ngƣời

sản xuất chờ vốn và vốn chờ ngƣời sản xuất cũng đã diễn ra tại Ý Yên. Vốn để đầu

tƣ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu vẫn là vốn tự có, chủ yếu để đầu tƣ

vào tài sản lƣu động để mua nguyên vật liệu.

Để có thể hình thành một cơ sở sản xuất ngồi việc phải có lao động, những

đơi tay tinh xảo từ các nghệ nhân thì phải có vốn đầu tƣ lớn để có thể xây dựng nhà

xƣởng, nguyên vật liệu, tiền thuê lao động...nhƣng qua điều tra khảo sát tại làng

nghề, có rất nhiều hộ gặp khó khăn về vốn. Các cơ sở đã hình thành và đang hoạt

động đều có nhu cầu đầu tƣ đổi mới, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lƣợng

sản phẩm, đào tạo công nhân, nhƣng lại khơng có vốn. Đặc biệt hiện nay, để làm ra

những sản phẩm có chất lƣợng cao, thu hút ngƣời tiêu dùng cần phải có ngun liệu



99



tốt, hay q hiếm nhƣng để có những loại đồng, nhơm tốt này thì rất khó vì giá

thành rất cao, phải nhập khẩu từ các nƣớc khác. Trong khi đó, khả năng tiếp cận các

nguồn vốn vay từ các cơ sở tín dụng là rất hạn chế do khơng có tài sản thế chấp, các

chủ cơ sở khơng có khả năng lập đề án kinh doanh để làm thủ tục vay vốn, lãi suất

cao, thời gian ngắn... Giữ vốn đó lại phải chịu lãi suất vốn vay, giữ vốn khơng tốt

thì mất khả năng thanh tốn.. Ngƣợc lại khi ký kết đƣợc hợp đồng thì khơng có vốn

kịp thời để phục vụ sản xuất. Còn HTX nhơm, đồng tồn tại trong điều kiện khơng

có sự bảo hộ, nhƣng bản thân nó lại ỷ lại vào sự bảo hộ từ các chính sách kinh tế.

Hầu hết các nhà quản lý doanh nghiệp đều có tƣ tƣởng trông chờ vào ngân sách nhà

nƣớc nhằm giải quyết sự thiếu thốn về vốn đầu tƣ cũng nhƣ các chính sách về thuế

tiêu thụ sản phẩm. Nhƣng nguồn vốn từ ngân sách nhà nƣớc lại không nhiều và

thƣờng xuyên. Do đó việc phát triển ngành nghề tại dây gặp nhiều khó khăn.

Nhu cầu vốn đầu tƣ ở các cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn còn rất lớn, mặc dù

trong thời gian qua nhà nƣớc có chính sách kích cầu, hỗ trợ vốn tín dụng cho các cơ

sở sản xuất kinh doanh, trong đó có các cơ sở làng nghề nhƣng vẫn chƣa đáp ứng

đƣợc nhiều, nhu cầu vốn đầu tƣ vẫn còn tƣơng đối lớn. Các chủ kinh doanh vẫn còn

thiếu tài sản thế chấp, khơng có khả năng lập phƣơng án kinh doanh để có thể làm

thủ tục vay vốn… còn đối với các khoản vay từ nguồn vốn xóa đói giảm nghèo lại

mức độ quá nhỏ bé, không thỏa mãn đƣợc nhu cầu vay vốn của các hộ kinh doanh.

3.3.2.3. Trình độ cơng nghệ, kỹ thuật sản uất ở làng nghề

Qua khảo sát cho thấy, hầu hết các làng nghề đều thực hiện bằng thủ công,

dựa vào khả năng và kinh nghiệm của ngƣời thợ là chính. Đó cũng là thực trạng

chung của khơng chỉ các làng nghề đúc đồng ở Ý Yên. Trong giai đoạn công nghiệp

hóa – hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ, các ngành nghề thủ công cũng đã đƣợc

trang bị máy móc thiết bị chuyên dùng vừa tăng năng suất lao động vừa tạo ra sản

phẩm có chất lƣợng, trong đó có ngành đúc đồng. Ở làng đúc, đúc đồng thì nghề

đúc ở đây chƣa ai soạn thành sách để truyền lại cho thế hệ sau, mỗi gia đình chỉ có

kinh nghiệm đúc rút ra đƣợc truyền lại cho con cháu. Trong giai đoạn hiện nay, khi

khoa học công nghệ phát triển, nhiều cơ sở đã lắp đặt nhiều dây chuyền bán tự động



100



sản xuất theo dây chuyền liên hoàn nên năng suất tăng gấp 5 lần so với trƣớc đây.

Tuy nhiên có những cơng đoạn trong sản xuất sản phẩm máy móc khơng thể thay

thế đƣợc con ngƣời nhƣ trong khâu làm nguội, làm mạt,…

Tuy nhiên, nhìn chung hầu hết các làng nghề đúc đồng ở Ý Yên vẫn còn gặp

nhiều khó khăn trong cơng nghệ - kỹ thuật sản xuất sản phẩm. Trình độ kỹ thuật sản

xuất trong các làng nghề vẫn ở mức thấp. Điều này ảnh hƣởng không nhỏ tới sự

phát triển của các làng nghề. Thể hiện trƣớc hết là nó làm cho năng suất lao động

trong các làng nghề thƣờng khơng cao, với quy trình công nghệ chủ yếu là từ kinh

nghiệm, kỹ năng của ngƣời lao động, còn ít sử dụng máy móc thiết bị vào sản xuất.

Hơn nữa, cũng do quá trình lao động thủ cơng, trình độ kỹ thuật lac hậu nên phần

lớn đều chƣa có những cơng nghệ xử lý chất thải, xử lý nguồn nƣớc dẫn đến một số

làng nghề gây ô nhiễm môi trƣờng tƣơng đối nghiêm trọng. Nguyên nhân của

những hạn chế trên đầu tiên là do thiếu nguồn vốn đầu tƣ, tiền vốn đầu tƣ của các

làng nghề chủ yếu vẫn là vốn lƣu động, còn nguồn vốn đầu tƣ cho máy móc thiết bị

và cơng nghệ vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ. Hơn nữa, quy mơ của các cơ sở sản xuất

trong các làng nghề tƣơng đối nhỏ nên việc mua sắm máy móc thiết bị, áp dụng kỹ

thuật tiên tiến cũng gặp rất nhiều khó khăn. Ngồi ra, do muốn đầu tƣ đổi mới cơng

nghệ thì đòi hỏi ngƣời lao động cũng phải có trình độ tiếp cận nhất định, tuy nhiên

năng lực của đội ngũ lao động làng nghề lại còn nhiều hạn chế, lại thiếu sự hỗ trợ từ

các cơ quan quản lý…nên khả năng tiếp cận với các công nghệ - kỹ thuật hiện đại

cũng rất khó khăn. Một nguyên nhân nữa là do một số làng nghề đúc đồng chủ yếu

thực hiện sản xuất sản phẩm chủ yếu là thủ công, đòi hỏi sự khéo léo của đơi tay

nghệ nhân nên việc đầu tƣ máy móc thiết bị phần nào cũng sẽ ảnh hƣởng đến hình

ảnh sản phẩm vốn có của nó.

3.4. Phân tích ma trận SWOT về phát triển bền vững làng nghề tại huyện Ý

Yên, tỉnh Nam Định

Để sử dụng phƣơng pháp phân tích SWOT vào đề tài nghiên cứu tác giả đã

xem xét và tìm hiểu tình hình hiện tại của đề tài gắn với các ràng buộc trên địa bàn

của huyện Ý Yên. Tác giả nhận thấy những điểm mạnh và điểm yếu của đề tài để từ



101



đó có thể phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu cho đề tài của mình nhƣ thế nào

đối với địa bàn huyện. Có những cơ hội và nguy cơ nào từ bên ngoài mà đề tài bắt

gặp. Qua đó phát huy những cơ hội và hạn chế tới mức thấp nhất những nguy cơ đã

lựa chọn.

Bảng 3.22. Phân tích ma trận SWOT về phát triển bền vững làng nghề tại

huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

Điểm mạnh (S)



Điểm yếu (W)



- Luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan - Luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc

tâm khuyến khích phát triển



quan tâm khuyến khích phát triển



- Xu hƣớng đơ thị hố nhanh



- Xu hƣớng đơ thị hố nhanh



- Tiếp cận các kiến thức, kinh nghiệm - Tiếp cận các kiến thức, kinh

quản lý, kinh doanh mới và kiến thức nghiệm quản lý, kinh doanh mới và

kinh tế trên thị trƣờng



kiến thức kinh tế trên thị trƣờng



- Có điều kiện ứng dụng cơng nghệ - Có điều kiện ứng dụng cơng nghệ

tiên tiến trên thị trƣờng



tiên tiến trên thị trƣờng



Vị trí địa lý thuận lợi



- Đơ thị hố tự phát, thiếu quy



- Nằm trong vùng kinh tế phát triển hoạch

Cơ hội năng động với nhiều khu công nghiệp - Tƣ duy tiểu nông, trình độ tiếp

(O)



và trƣờng học.



cận thị trƣờng còn yếu kém



- Sản phẩm của làng nghề có chỗ - Hiệp hội làng nghề chƣa có ảnh

đứng trên thị trƣờng.



hƣởng tới làng nghề



- Giao thông thuận lợi.



- Vốn để phát triển sản xuất hạn



- Có lực lƣợng lao động dồi dào



chế



- Nguyên liệu đầu vào dồi dào



- Mặt bằng sản xuất và cơ sở vật



- Tiềm năng thị trƣờng.



chất của các hộ sản xuất còn thiếu



- Yếu tố truyền thống.



- Cơng nghệ lạc hậu

- Cơ sở hạ tầng không đồng bộ

- Tác động đến môi trƣờng sinh thái



102



- Nguy cơ gây ô nhiễm môi trƣờng - Nguy cơ gây ô nhiễm môi trƣờng

ngày càng tăng



ngày càng tăng



- Khó khăn đáp ứng hệ thống cơ sở hạ - Khó khăn đáp ứng hệ thống cơ sở

tầng



hạ tầng



- Cạnh tranh trong tiêu thụ sản phẩm - - Cạnh tranh trong tiêu thụ sản

- Vị trí địa lý thuận lợi



phẩm



- Nằm trong vùng kinh tế phát triển - Đơ thị hố tự phát, thiếu quy

năng động với nhiều khu công nghiệp hoạch

Thách



và trƣờng học



- Tƣ duy tiểu nơng, trình độ tiếp



thức



- Sản phẩm của làng nghề có chỗ cận thị trƣờng còn yếu kém



(T)



đứng trên thị trƣờng



- Hiệp hội làng nghề chƣa có ảnh



- Cơ sở hạ tầng thuận lợi



hƣởng tới làng nghề



- Có lực lƣợng lao động dồi dào



- Vốn để phát triển sản xuất hạn

chế

- Mặt bằng sản xuất và cơ sở vật

chất của các hộ sản xuất còn thiếu

- Cơng nghệ lạc hậu

- Cơ sở hạ tầng không đồng bộ

- Tác động đến môi trƣờng sinh thái



3.5. Một số đánh giá phát triển bền vững làng nghề tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam

Định

- Yếu tố truyền thống của làng nghề là một tiềm năng vốn quý. Làng nghề đã

tồn tại lâu đời và làm ra những sản phẩm mang tính đặc trƣng, đƣợc thị trƣờng

trong nƣớc và nƣớc ngoài chấp nhận. Truyền thống của làng nghề từ lâu đã trở

thành một bộ phận không thể thiếu đƣợc trong truyền thống đồ thủ công mỹ nghệ

của Việt Nam. Lợi thế của làng nghề là tập trung một lực lƣợng lao động lớn, giá

lao động rẻ.

- Lực lƣợng lao động ở nông thôn rất đơng, có văn hố, có tri thức, có khả



103



năng tiếp thu nhanh kỹ thuật cơng nghệ, thị trƣờng đó là tiềm năng rất lớn trong

phát triển làng nghề trong hiện tại và tƣơng lai.

- Tiềm năng về nguồn nguyên liệu, nguồn nguyên liệu để phát triển làng

nghề đúc đồng vô cùng phong phú. Hơn nữa, với chính sách giải toả ách tắc giao

lƣu kinh tế giữa các vùng, các địa phƣơng và mở cửa hội nhập với thế giới. Sản

phẩm của làng nghề có cơ hội để phát triển.

- Tiềm năng về thị trƣờng bao gồm cả thị trƣờng trong nƣớc và thị trƣờng

nƣớc ngồi có nhiều triển vọng sáng sủa là tiềm năng rất lớn để phát triển làng nghề.

Trƣớc hết là thị trƣờng khu vực là nơi có nhiều các nhà sƣu tầm, các doanh nghiệp.

Đây cũng là ngƣời tiêu dùng và cũng là ngƣời quảng cáo sản phẩm cho làng nghề.

Thị trƣờng trong nƣớc với tốc độ gia tăng dân số nhƣ hiện nay dự kiến quy mô dân số

cả nƣớc vào những năm 2020 sẽ đạt trên 110 triệu ngƣời đây là tiềm năng tiêu thụ sản

phẩm lớn. Do vậy, trong những năm trƣớc mắt thị trƣờng trong nƣớc vẫn là thị

trƣờng chính của sản phẩm làng nghề. Đây thực sự là một tiềm năng rất lớn đối với

sự phát triển của làng nghề cần phải khai thác. Trong tƣơng lai thị trƣờng xuất khẩu

cũng là một thị trƣờng quan trọng. Mặc dù hiện nay sản phẩm của làng nghề cũng

chƣa đƣợc hấp dẫn lắm cần chú ý cải tiến mẫu mã, quy cách chất lƣợng sản phẩm để

phù hợp với thị hiếu ngƣời tiêu dùng thì tiềm năng phát triển là rất lớn.

Mặc dù làng nghề trong những năm qua đã có những sự phục hồi và phát

triển có đống góp nhất định cho sự phát triển của nông nghiệp nông thôn, cải thiện

đời sống ngƣời lao động ở nơng thơn.

Trƣớc hết, đó là thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, trên thực tế nó đang bị bó hẹp

bởi sức mua, khả năng thanh tốn của ngƣời tiêu dùng thấp, mức thu nhập chƣa cao

của các hộ gia đình chƣa cho phép họ mua sắm các sản phẩm từ đồng.

Với thị trƣờng xuất khẩu họ đòi hỏi rất khắt khe về chất lƣợng sản phẩm, hình

thức mẫu mã mà đại bộ phận sản phẩm của làng nghề chƣa thể đáp ứng ngay đƣợc.

Về kỹ thuật công nghệ còn chƣa tiên tiến, kỹ thuật thấp mẫu mã sản phẩm

diễn ra chậm do kinh tế làng nghề có quy mơ nhỏ, vốn đầu tƣ vẫn còn ít nên việc cải

tiến công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế. Vì vậy giải



104



quyết mối quan hệ giữa công nghệ thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại

trong làng nghề khi tiếp cận với nền kinh tế thị trƣờng và hội nhập kinh tế quốc tế là

một vấn đề phức tạp.

Tuy nhiên, trong những năm qua đã có khá nhiều cơ sở sản xuất ở làng nghề

đã tích cực đổi mới thiết bị, cơng nghệ, kỹ thuật. Nhìn chung cơng nghệ của làng

nghề đang ở trình độ chuyển từ lao động thủ cơng sang nửa cơ khí và cơ khí chƣa

đồng bộ. Cơng nghệ cổ truyền với đặc trƣng là dựa vào kinh nghiệm và dùng lao

động thủ công là chủ yếu. Đổi mới cơng nghệ ở làng nghề chƣa thực hiện có hệ

thống, chƣa cơ bản, mới dừng lại ở đổi mới có trọng điểm ở một số khâu nhất định.

Tất cả những điều này đã hạn chế sự phát triển của làng nghề.

Vốn để phát triển sản xuất cũng là vấn đề đang đƣợc quan tâm. Quy mô

trang bị vốn cho các hộ ở làng nghề vẫn còn thấp.

Vấn đề mơi trƣờng trong làng nghề cũng là vấn đề cần quan tâm. Nhƣ đã

phân tích ở trên, cơ sở vật chất vẫn còn yếu kém phát triển vẫn còn thiếu quy hoạch,

trình độ cơng nghệ vẫn mang tính thủ cơng, ý thức bảo vệ mơi trƣờng chƣa cao dẫn

đến tình trạng ơ nhiễm môi trƣờng ở làng nghề.

Đặc thù của làng nghề dẫn đến lƣợng nƣớc sử dụng cho sản xuất là rất lớn.

Do vậy lƣợng nƣớc thải cũng rất lớn với khả năng ô nhiễm cao, tác nhân gây ô

nhiễm ở làng nghề này là bụi và nƣớc thải.

Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kém phát triển cũng là một khó khăn làm hạn

chế sự phục hồi và phát triển của làng nghề trong những năm qua. Đại bộ phận các

hộ sản xuất trong làng nghề phải lấy nhà ở làm nơi sản xuất và kinh doanh, nên mặt

bằng và cơ sở vật chất hết sức hạn chế gây khó khăn cho việc mở rộng phát triển

sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng.

Một vấn đề nữa cần đề cập đến đó là sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan

nhà nƣớc đối với sự phát triển của làng nghề là chƣa tốt. Sự biến động thăng trầm

của làng nghề có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân của quản lý nhà nƣớc

đối với làng nghề. Chủ yếu các doanh nghiệp, công ty TNHH, hộ sản xuất đều tự lo

liệu xoay sở tìm kiếm thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm.



105



Năng lực và kinh nghiệm quản lý sản xuất, kinh doanh của các doanh

nghiệp, hộ sản xuất, trình độ tri thức và tay nghề của ngƣời lao động trong làng

nghề còn nhiều hạn chế.

3.6. Các giải pháp nhằm phát triển bền vững làng nghề tại huyện Ý n, tỉnh

Nam Định

3.6.1. Hồn thiện cơ chế, chính sách và phương thức quản lý Nhà nước để thúc

đẩy làng nghề phát triển

Mặc dù Nhà nƣớc đã ban hành một số chính sách về phát triển ngành nghề

nơng thơn nhƣng cho đến nay công tác phát triển làng nghề đúc đồng nói chung và

ở huyện Ý Yên nói riêng vẫn thiếu tính hệ thống do nhiều lý do khác nhau:

- Thiếu các chính sách và kế hoạch hỗ trợ do chƣa có một cơ quan quản lý

Nhà nƣớc thống nhất và trách nhiệm chƣa đƣợc phân định rõ ràng. Vai trò phát triển

ngành nghề địa phƣơng giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công

thƣơng bị chồng chéo do cách phân loại sản phẩm thủ công và sản phẩm công

nghiệp không rõ ràng. Ở cấp huyện, cơ quan chủ quản về phát triển ngành nghề tiểu

thủ công nghiệp ở mỗi huyện cũng khác nhau. Phòng Nơng nghiệp



PTNT và



phòng Cơng thƣơng là hai cơ quan chính đảm trách cơng tác quản lý ngành nghề

tiểu thủ công nghiệp nhƣng sự hợp tác kết nối chƣa thực sự hiệu quả.

- Mặc dù có nhiều cơ quan chức năng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ

nhƣng các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực ngành nghề nơng thơn có rất ít

cơ hội đƣợc thụ hƣởng.

- Hệ thống các chính sách, biện pháp về hoạt động khuyến công và



hoạt



động xúc tiến thƣơng mại về hàng tiểu thủ cơng nghiệp còn mang tính riêng rẽ.

- Nội dung, hình thức đào tạo, học phí cho lao động làng nghề liên quan đến

sản phẩm tiểu thủ cơng nghiệp còn rất hạn chế.

- Các chính sách của Nhà nƣớc chƣa đƣợc triển khai tới các làng nghề và

cũng chƣa đem lại lợi ích cho những ngƣời làm nghề thực sự.

Vì vậy, để thúc đẩy phát triển ngành nghề nơng thơn cần nâng cao vai trò của

các Bộ, ngành Trung ƣơng, UBND tỉnh, UBND huyện trong việc xây dựng cơ sở

pháp lý và hạ tầng kỹ thuật (cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng, cung cấp thơng tin,



106



phát triển nhân lực…) để khuyến khích các đối tƣợng có liên quan đến ngành nghề

nơng thơn thực sự nhƣ : các doanh nghiệp, làng nghề, hộ gia đình và ngƣời lao động

tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh; Đồng thời cần tăng cƣờng công tác quản

lý Nhà nƣớc đối với các làng nghề.

Trƣớc tiên, Nhà nƣớc cần tiếp tục bổ sung, ban hành các cơ chế chính sách

khuyến khích phát triển sản xuất, xuất khẩu hàng hố của ngành nghề nơng thơn.

Thành lập Ban định hƣớng quốc gia ngành nghề nông thôn để nâng cao sự phối hợp

giữa các cơ quan cả ở cấp Trung ƣơng, cấp Tỉnh và cấp huyện. Ban này sẽ không

thực hiện các dự án nhƣng lại có chức năng điều phối và tƣ vấn cho Nhà nƣớc và

những ban, ngành liên quan.

Đối với huyện, cần thực hiện công khai về cơ chế, chính sách khuyến khích

đầu tƣ; vận dụng, tổ chức thực hiện hiệu quả các cơ chế chính sách khuyến khích

hiện có của Trung ƣơng đối với làng nghề sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công

nghiệp.

- Hỗ trợ vay vốn đầu tƣ, vốn xuất khẩu:

+ Các dự án đầu tƣ hạ tầng kỹ thuật làng nghề tiểu thủ công nghiệp, cụm

công nghiệp làng nghề nông thôn đƣợc Ngân hàng phát triển Việt Nam (tại tỉnh

Nam Định là Chi nhánh Ngân hàng phát triển tỉnh Nam Định) cho vay đầu tƣ, hỗ

trợ sau đầu tƣ bằng chênh lệch giữa lãi suất vay vốn đầu tƣ của các tổ chức tín dụng

và 90% lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam bằng lãi suất trái phiếu chỉnh phủ kỳ

hạn 5 năm và bảo lãnh khơng phải trả phí để vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác.

+ Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng tiểu thủ công nghiệp đƣợc Ngân hàng

phát triển Việt Nam cho vay vốn xuất khẩu bảo lãnh vay vốn xuất khẩu của các tổ

chức tín dụng khác và đƣợc bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu.

+ Cơ sở ngành nghề nông thôn đƣợc vay vốn từ Quỹ hỗ trợ giải quyết việc

làm theo quy định hiện hành và Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa

bảo lãnh vay vốn tại các tổ chức tín dụng.

- Ƣu đãi về thuế:

Các dự án đầu tƣ sản xuất kinh doanh, bảo tồn phát triển làng nghề đƣợc



107



hƣởng ƣu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên và các loại thuế có

liên quan khác theo quy định hiện hành.

- Hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:

+ Khuyến khích và hỗ trợ kinh phí cho các lớp học nghề tiểu thủ công

nghiệp; nghệ nhân trực tiếp mở lớp truyền nghề; các lớp đào tạo thợ lành nghề, giáo

viên dạy nghề và ngƣời thiết kế mẫu trong các làng nghề và hoạt động tƣ vấn phát

triển sản phẩm.

+ Hỗ trợ kinh phí cho lao động các làng nghề khi tham gia học nghề ở các cơ

sở đào tạo nghề theo chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn

theo quy định hiện hành.

+ Khuyến khích và đầu tƣ hỗ trợ cho các làng nghề tự tổ chức trƣờng lớp,

trung tâm dạy nghề; đầu tƣ tập trung cho các làng nghề đúc đồng xây dựng trƣờng

dạy nghề, mức đầu tƣ tƣơng đƣơng nhƣ cho các trƣờng dạy nghề khác.

+ Khuyến khích các nghệ nhân, thợ giỏi tổ chức dạy, truyền nghề và thu phí

từ những học viên theo nguyên tắc hai bên cùng thoả thuận và hoạt động này đƣợc

miễn thuế; thợ thủ công, hợp tác xã, tổ chức và các hiệp hội sẽ đƣợc khuyến khích

thực hiện việc truyền nghề và các khoá đào tạo nghề của các cơ sở kinh doanh hàng

thủ cơng nơng thơn.

Bên cạnh đó cần thực hiện tốt các chính sách khuyến khích phát triển hiện

hành của huyện.

- Thực hiện ƣu đãi hỗ trợ cho các dự án sản xuất, kinh doanh hàng tiểu thủ

công nghiệp đầu tƣ vào các cụm công nghiệp các xã, thị trấn theo Quyết định số

1593/QĐ-UBND ngày 11/7/2013 của UBND tỉnh về việc ban hành “cơ chế, chính

sách khuyến khích đầu tƣ, phát triển cụm công nghiệp huyện, thành phố trên địa bàn

tỉnh Nam Định” bao gồm:

+ Miễn, giảm tiền thuê đất cho nhà đầu tƣ.

+ Miễn, giảm tiền thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà đầu tƣ.

+ Hỗ trợ cho nhà đầu tƣ tổ chức đào tạo nghề.

- Thực hiện chính sách khuyến công cho các đơn vị sản xuất hàng tiểu thủ

công nghiệp xuất khẩu ( sử dụng chủ yếu nguyên liệu trong nƣớc) theo Quyết định



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.5: Lao động làm nông nghiệp ở Ý Yên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×