Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.4: Quy trình tạo tranh đồng kèm dòng thải.

Hình 3.4: Quy trình tạo tranh đồng kèm dòng thải.

Tải bản đầy đủ - 0trang

82



 Khâu đánh bóng và chặt:

Những tấm hình sau khi đã đƣợc tỉa, ngƣời thợ sẽ tiến hành đánh bóng tấm

hình bằng thuốc đánh bóng. Mục đích của việc đánh bóng là làm cho sản phẩm có

màu sắc tƣơi sáng và sản phẩm trở nên nhẵn và sinh động. Sau đó ngƣời thợ sẽ



tiến hành chặt đi những phần thừa khơng cần thiết, kết quả cho ra là tấm hình

giống thực tế đƣợc làm bằng nguyên liệu là đồng.

Để cho sản phẩm trở nên sáng, bóng ngƣời thợ còn tiến hành rửa bằng

gôm và axit sunfuric. Giai đoạn này gây độc hại cho ngƣời thợ rất nhiều.

Đồng thời để sản phẩm bền đẹp, ngƣời thợ còn tiến hành phun dầu để bảo

quản sản phẩm.

chiếc búa gò, búa vã. Trung bình để tạo đƣợc một nồi nấu rƣợu 13 kg,

họ sẽ mất 1 cơng gò và vã. Trong q trình gò, vã ngƣời thợ bị ảnh hƣởng

nghiêm trọng bởi tiếng ồn và bụi kim loại.

 Quy trình ghép tam khí

Nghề ghép tam khí (tranh đồng) có cách đây khoảng 10 năm. Nghề tập

trung

3.1.4.5. Tinh trạng môi trường



Sản xuất trong làng nghề đem lại hiệu quả kinh tế cao, song mặt trái

của nó là gây ơ nhiễm mơi trƣờng . Ngun nhân do hạn chế về vốn, kỹ thuật,

thiếu quy hoạch tổng thể nên hầu hết doanh nghiệp, các hộ gia đình khi đầu tƣ

sản xuất đã không đầu tƣ xử lý chất thải, làm cho môi trƣờng trong khu vực

sản xuất của làng nghề bị ô nhiễm nặng nề. Đại bộ phận các cơ sở sản xuất

đƣợc bố trí xen kẽ khu dân cƣ, thậm chí dùng nhà ở làm nơi sản xuất. Hằng

năm làng nghề sản xuất đúc đồng đã tiêu thụ khoảng tấn than. Nhìn chung

hoạt động sản xuất của làng nghề hiện nay có ảnh hƣởng trực tiếp tới môi

trƣờng ở các mức độ khác nhau.

- Ảnh hƣởng tới môi trƣờng nƣớc:



83



Ở làng nghề hiện nay tổng lƣợng nƣớc thải khoảng 2.080 m3/năm (theo

điều tra sản xuất 1 lit tƣơng thì sẽ thải ra bên ngồi là 2 lit nƣớc). Hầu hết ở

làng nghề chƣa có hệ thống thu gom và sử lý nƣớc thải hoàn chỉnh. Những

năm gần đây, do dân số tăng các hộ gia đình mở rộng sản xuất bằng cách mở

rộng diện tích mặt bằng, cho nên ao hồ dần bị lấp đi, các thuỷ vực nƣớc bị thu

hẹp, lƣợng nƣớc thải bị đẩy ra các vùng xung quanh.

- Ảnh hƣởng tới môi trƣờng khơng khí.

Ơ nhiễm khơng khí ở làng nghề thể hiện ở các dạng ơ nhiễm bụi, mùi,

nhiệt độ.... Ơ nhiễm khơng khí do bụi, ơ nhiễm khơng khí do mùi và nhiệt độ.

Loại ô nhiễm này do nhiều nguyên nhân khác nhau, tập chung ở làng nghề

chế biến lƣơng thực thực phẩm. Khi đốt than có thể sinh ra khí SO 2 , CO,

CO 2 ... là những khí độc hại và có mùi rất khó chịu.

Ơ nhiễm về nhiệt độ thể hiện ở việc tăng nhiệt độ khơng khí. Ở làng nghề

chế biến thực phẩm ln ln có nhiệt độ cao hơn các vùng khác từ 1oC - 2oC.

3.1.5.6. Nhận ét trung theo phiếu điều tra 3 làng nghề

* Quy mô sản xuất kinh doanh hộ ba làng nghề đúc đồng

Bảng 3.15. Quy mô SXKD theo điều tra

Chỉ tiêu



Tống Xá



Vạn Điểm



Trại B



SL



CC



SL



CC



SL



CC



Gia Đinh



16



53,33



22



73,33



27



90



HTX



5



16,66



1



3,33



0



0



DN



9



30,11



7



23,44



3



10



Tổng



30



100



30



100



30



100



Nôi Dung



(Nguồn điều tra)

Qua khảo sát điều tra, hiện nay ở 3 làng nghề Tống Xá, Vạn Điểm, Trại B

đã xuất hiện khá nhiều công ty, cơ sở đúc đồng với những cái tên khá nổi danh



84



trong làng đúc đồng cả nƣớc nhƣ Công ty TNHH cơ khí đúc Thắng Lợi, Cơng ty

Tân Tiến, cơ sở đúc Vũ Duy Thuấn…. qua bản số liệu điều tra tại làng Tống Xá, có

16 mơ hình sản xuất gia đình 53,33%

5 hộ tham gia mơ hình hợp tác xã chiếm tỷ lệ 16,66%, mơ hình sản xuất

doanh nghiệp 9, chiếm tỷ lệ 30,11%. Tại làng Vạn Điểm có 22 mơ hình sản xuất gia

đình 73,33%

1 hộ tham gia mơ hình hợp tác xã chiếm tỷ lệ 3,33%, mơ hình sản xuất doanh

nghiệp7, chiếm tỷ lệ 23,44%. Tại làng Trại B có 27 mơ hình sản xuất gia đình

90,00% 0 hộ tham gia mơ hình hợp tác xã chiếm tỷ lệ 0%, mơ hình sản xuất doanh

nghiệp 3, chiếm tỷ lệ 10%.

Phƣơng thức tiêu thụ ba làng nghề đúc đồng

Bảng 3.16. Phƣơng thức tiêu thụ điều tra

Chỉ tiêu



Vạn



Tống Xá



Trại B



Điểm



Nôi Dung



SL



CC



SL



CC



Trục Tiếp



7



23,33



8



26,66



16



53,33



Trung Gian



17



56,66



19



63,33



9



30,11



Qua Mạng



6



20,11



3



10,11



5



16,11



Tổng



30



100



30



100



30



100



SL



CC



( Nguồn điều tra)

Trƣớc thực trạng này, chính quyền và ngƣời dân nơi đây đã tập trung thực thi

nhiều giải pháp để giảm bớt những ảnh hƣởng của cơ chế thị trƣờng. Các hộ sản

xuất kinh doanh tập trung vào những mặt hàng gia dụng truyền thống, làm theo đơn

đặt hàng, khi đƣợc hỏi tại làng Tống Xá, bán hàng trực tiếp 7, bán hàng trực tiếp

chiêm 23,33%, Bán qua trung gian 17 hộ chiêm 56,66%,. Qua Mạng 6 chiếm

20%11. Tại làng Vạn Điểm, bán hàng trực tiếp 8, bán hàng trực tiếp chiêm 26,66%,

Bán qua trung gian 19 hộ chiêm 63,33%,. Qua Mạng 3 chiếm 10,11. Tại làng Trại

B, bán hàng trực tiếp 16, bán hàng trực tiếp chiêm 53,33 Bán qua trung gian 9 hộ

chiêm 30,11,. Qua Mạng 5 chiếm 16,11



85



Vấn đề môi trƣờng tại ba làng nghề đúc đồng

Bảng 3.17. Thực trạng điều tra về ô nghiễm môi trƣờng

Chỉ tiêu



Vạn



Tống Xá



Trại B



Điểm



Nôi Dung



SL



CC



SL



CC



Nghiêm trọng



25



83,33



27



90,11



23



76,66



Binh Thƣờng



4



13,33



1



3,44



1



3,44



Không quan tâm



1



3,44



2



6,55



6



20,00



Tổng



30



100



30



100



30



100



SL



CC



Tình trạng ơ nhiễm mơi trƣờng tại các làng nghề ở Ý Yên thực sự đã ở mức

“báo động đỏ”. Hàng chục năm qua, đây là vấn đề nhức nhối mà kéo theo nó là

những hệ lụy ảnh hƣởng khơng chỉ đến hoạt động sản xuất mà còn gây tổn hại đến

sức khỏe ngƣời dân. Các làng nghề ở Ý Yên, đặc biệt là những làng nghề vốn “có

tai có tiếng” về ơ nhiễm đang cần có một cuộc “đại phẫu” thực sự, đồng bộ và toàn

diện để hƣớng tới việc phát triển bền vững, phát triển đi đôi với bảo vệ môi trƣờng.

theo số liệu điêu tra tại làng Tống Xá, 25 hộ sản xuất đúc đông đáng giá tác hại về ô

nghiễm môi trƣờng đến sức khỏe nghiêm trọng 83,33%, còn số hộ đánh giá binh

thƣờng là 4 chiêm 13%, số hộ không quan tâm đến vấn đề môi trƣờng 1 chiếm tỷ lê

3,44%.Làng Vạn Điểm, 27 hộ sản xuất đúc đông đáng giá tác hại về ô nghiễm môi

trƣờng đến sức khỏe nghiêm trọng 90,11%, còn số hộ đánh giá binh thƣờng là 4

chiêm 13%, số hộ không quan tâm đến vấn đề môi trƣờng 2 chiếm tỷ lê 6,55%.



86



Kh khăn chung của ba làng nghề đúc đồng

Bảng 3.18. Bảng kh khăn chung của làng nghề

Chỉ tiêu



Tống Xá



Vạn Điểm



Trại B



Nôi Dung



SL



CC



SL



CC



SL



CC



Vốn



24



80,00



23



76,66



26



86,66



Chinh Sách



0



0



1



3,44



1



3,44



Thông Tin



5



16,66



4



13,33



1



3,44



Kỹ Thuật



1



3,44



2



6,77



1



3,44



Tổng



30



100



30



100



30



100



(Nguồn số điều tra)

Thủ công mỹ nghệ đúc là một trong những nghề ra đời sớm trong bối cảnh

xã hội nông nghiệp truyền thống của huyện Ý Yên. Trải qua thời gian, các ngành

nghề thủ cơng phát triển theo quy mơ gia đình rồi dần hình thành nên những làng

nghề thủ cơng. Các làng nghề có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nơng thơn, góp phần phá vỡ thế thuần nông, mở ra khả năng phát triển sản

xuất tiểu thủ công nghiệp một cách hợp lý. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trƣờng, các

làng nghề thủ công mỹ nghệ đúc đông trên địa bàn huyện đang phải đối mặt với

những thách thức không nhỏ.Mặc dù hiệu quả của nghề đúc đồng phát triển, nhƣng

đa số ngƣời làm nghề ở đây thƣờng xuyên rơi vào tình trạng “khan” vốn. hộ chia sẻ:

“Anh em ngồi với nhau thƣờng tâm sự, vốn cho mua , nguyên liệu, vốn để nâng cấp

nhà xƣởng, máy móc, thiết bị… là rất lớn nhƣng khó tiếp cận ngân hàng để vay nên

hoạt động cũng cầm chừng”. Tại làng Tống xá 24 hơ khó khăn về vốn chiếm 80%

tỷ lệ điều tra, về những chính sách của địa phƣơng 0 chiếm tỷ lệ 0%. Thông tin 5 hô

chiếm tỷ lệ 16,66%.kỹ thuật 1 chiếm tỷ lệ 3,44%. Tại làng Vạn Điểm 23 hơ khó

khăn về vốn chiếm 76,66% tỷ lệ điều tra, về những chính sách của địa phƣơng 4 hộ

chiếm tỷ lệ 13,33%. Thông tin 5 hô chiếm tỷ lệ 16,66%.kỹ thuật 2 chiếm tỷ lệ

6,77%. Tại làng Trai B 26 hơ khó khăn về vốn chiếm 86,66% tỷ lệ điều tra, về

những chính sách của địa phƣơng 1 hộ chiếm tỷ lệ 3,44%. Thông tin 1 hô chiếm tỷ

lệ 3,66%.kỹ thuật 2 chiếm tỷ lệ 3,44%.



87



3.2. Đánh giá theo tiêu chí bền vững

3.2.1. Tiêu chí đánh giá bền vững về kinh tế

Thu nhập bình quân của lao động tại làng nghề là một tiêu chí quan trọng để

đánh giá mức độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng, của một ngành nghề.

Bảng 3.19. Thu nhập của lao động chính tại làng nghề qua các năm

(Đvt đồng/ người/ tháng)

Năm



Mức thu nhập



2011



3.400.000



2012



6.600.000



2013



4.200.000



2014



4.400.000



2015



4.800.000

(Nguồn Khảo sát thực tế tại làng nghề)



Nhìn vào bảng có thể thấy thu nhập của lao động làng nghề có tăng dần qua

các năm và nhìn chung cao hơn so với thu nhập nơng nghiệp. Nhƣng đó là mức thu

nhập của những lao động chính, thu nhập của thợ thủ phụ (học nghề) thấp hơn

nhiều, tính đến năm 2015 thu nhập bình quân của một thợ phụ (học nghề) tại làng

nghề là 4,3 triệu đồng/ tháng, tuy có cao hơn so với thu nhập nông nghiệp nhƣng lại

thấp hơn so với mặt bằng chung của lao động phổ thông hiện nay. Có thể nhận thấy

sự chênh lệch về thu nhập giữa các lao động trong làng nghề là khá cao. Tuy nhiên,

đối với những ngƣời có thu nhập thấp chủ yếu là lao động phụ (học nghề) làm

những công việc đơn giản hơn, đòi hỏi kĩ xảo ít hơn.

Năm 2011, thu nhập bình quân ở Ý Yên đạt mức hơn 12,5 triệu đồng/

ngƣời/năm, tốc độ tăng trƣởng bình quân hàng năm từ 2011 – 2015 là khoảng

11%/năm. Mức thu nhập của dân cƣ ở Ý n nhìn chung là còn thấp so với cả

nƣớc, lại là huyện có tỷ trọng lớn trong ngành nơng nghiệp nên mức sống của dân

cƣ nói chung là còn thấp. Qua so sánh mức thu nhập bình quân đầu ngƣời ở Ý Yên

so với thu nhập của ngƣời lao động trong làng nghề cho thấy làm việc ở làng nghề

sẽ tạo thu nhập cao hơn so với làm nông nghiệp. Ở làng nghề đúc, đúc đồng mức



88



thu nhập bình quân đầu ngƣời là 6 triệu đồng/ngƣời/tháng. Nhƣ vậy, qua làm việc ở

làng nghề đúc đồng thì nguồn thu nhập ổn định và có cơ hội phát triển.

Nhƣ vậy, nếu xem xét mức thu nhập tạo ra từ các làng nghề thì ngƣời dân

làm nghề có thể sống bằng nghề thay cho nghề sản xuất nông nghiệp thuần túy. Nếu

nguồn thu nhập này ổn định và đƣợc đảm bảo lâu dài thì đây chính là yếu tố đảm

bảo cho tính bền vững trong sự phát triển của làng nghề.

3.2.2. Tiêu chí đánh giá bền vững về xã hội

Giải quyết việc làm cho người lao động

Qua bảng số liệu 3.6 ta thấy, năm 2015, số hộ tham gia ở các làng nghề về

đúc, đúc đồng là 2.621 lao động.

Bảng 3.20. Số hộ và lao động trong các làng nghề đúc đồng ở Ý Yên

STT



Năm



Số hộ tham gia



Số LĐ tham gia



1



2011



211



1.652



2



2012



233



1.809



3



2013



278



2.022



4



2014



301



2.453



5



2015



348



2.621



(Nguồn Phòng Nơng nghiệp và phát triển nơng thơn Ý Yên)

Nhƣ vậy, qua làm việc ở các làng nghề, đội ngũ lao động ở nông thôn đã

nâng cao thu nhập một cách đáng kể, so với nghề làm nông thì nguồn thu nhập nhƣ

vậy đã cao hơn rất nhiều. Thu nhập của nơng dân làm nơng nghiệp trung bình 1

năm chỉ đạt khoảng 12,35 triệu đồng. Bên cạnh đó, hầu hết các làng nghề đều có

mức thu nhập bình quân đầu ngƣời cao hơn các làng quê nông nghiệp khác, tỷ lệ hộ

nghèo cũng thấp hơn. Đời sống vật chất và tinh thần đã có bƣớc cải thiện đáng kể,

đã có 87% nhà ở của dân trong làng nghề đƣợc xây dựng kiên cố, 90% số hộ có xe

máy, hầu hết các hộ có ti vi, dùng bếp ga, nhiều hộ đã mua đƣợc các phƣơng tiện và

đồ dùng sinh hoạt đắt tiền khác tủ lạnh, máy giặt, đầu máy karaoke…

Đăc biệt ở làng nghề đúc Tống Xá, Vạn Điểm A, các làng nghề ở xã Yên

Ninh, Yên Tiến ngƣời dân có mức sống khá và giàu chiếm hơn 89%, trong xã



89



khơng còn hộ đói. Mỗi năm tổng doanh thu của cụm công nghiệp đúc Yên Xá là

152 tỷ đồng, chiếm gần 90% thu nhập của toàn xã.

Bên cạnh đó, chất lƣợng đội ngũ lao động cũng chƣa đảm bảo, chủ yếu là

truyền kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác, ngƣời mới vào nghề hầu hết

thông qua kinh nghiệm học nghề, lao động đƣợc đào tạo chiếm tỉ trọng rất nhỏ, tỷ lệ

lao động qua đào tạo trung bình cũng chỉ khoảng 11,05%. Trình độ lao động chủ

yếu là đào tạo kèm cặp theo hình thức cha truyền con nối vì vậy mẫu mã sản phẩm

chƣa đƣợc phong phú và hấp dẫn, giá trị sản phẩm chƣa cao, chƣa đáp ứng đƣợc

yêu cầu thị hiếu của ngƣời tiêu dung. Bên cạnh đó, hình thức tổ chức sản xuất chủ

yếu là cá thể, phân tán theo từng hộ gia đình là chính. Số doanh nghiệp tƣ nhân,

đƣợc thành lập chƣa đến 10 doanh nghiệp, số hợp tác xã cũng còn ít, hiệu quả hoạt

động còn chƣa cao. Hơn nữa, nhiều đội ngũ lao động trẻ không muốn làm nghề

trong làng nghề do thu nhập thấp, họ đi tìm việc làm ở các khu cơng nghiệp, di dân

ra thành thị, một số nữa thì đi học các trƣờng đại học, cao đẳng rồi làm việc ờ các

cơ quan nhà nƣớc, các công ty…không muốn về làng làm nghề cũ vì vừa vất vả vừa

thu nhập vẫn chƣa đảm bảo. Trong đội ngũ lao động chịu trách nhiệm chính trong

công việc sản xuất kinh doanh ở các cơ sở sản xuất sản phẩm lại ít về số lƣợng, lại

có trình độ học vấn, trình độ chun mơn kỹ thuật và năng lực quản lý cũng còn

nhiều hạn chế. Chỉ có một số ít đội ngũ trẻ sau khi học ở các trƣờng chuyên nghiệp,

họ mạnh dạn vay vốn mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc thay đổi hình thức tổ

chức sản xuất, đầu tƣ nhiều hơn vào các máy móc thiết bị, tìm kiếm mở rộng thị

trƣờng tiêu thụ sản phẩm và đƣa làng nghề ngày càng phát triển hơn.

Nhìn chung chất lƣợng đội ngũ lao động trong các làng nghề còn chƣa cao, chủ

yếu là truyền nghề, đội ngũ qua học tập đào tạo còn rất ít, bộ phận quản lý ở các cơ sở

sản xuất kinh doanh thì trình độ, năng lực còn hạn chế, chủ yếu cũng chỉ là tốt nghiệp

phổ thơng, có số cũng chỉ mới tốt nghiệp cấp II. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải tăng

cƣờng đào tạo nghề cho đội ngũ lao động ở các làng nghề trong thời gian tới, tỉnh cần

có chính sách khuyến khích lao động làng nghề ở nông thôn đi học nghề, học tập kinh

nghiệm, có thế mới giúp cho làng nghề phát triển một cách bền vững đƣợc.



90



Đóng góp cho sự phát triển chung của địa phương

Các làng nghề phát triển sẽ là điều kiện để địa phƣơng thay đổi bộ mặt, từ

thơn xóm cho đến làng xã. Hệ thống giao thơng nông thôn đƣợc cải thiện đáng kể,

hầu hết đƣờng làng đều là đƣờng bê tông, hệ thống điện nƣớc cũng phải đủ đáp ứng

nhu cầu, nhất là những làng nghề mộc. Sự phát triển các làng nghề cũng sẽ tăng thu

ngân sách cho địa phƣơng.

Các làng nghề phát triển đều có điều kiện đầu tƣ cho con em đi học các

trƣờng đại học, cao đẳng, hàng năm tỉ lệ đậu đại học, cao đẳng tƣơng đối cao.

Những ngƣời không đỗ đạt thì đi học nghề hoặc ở lại làm việc cho các cơ sở sản

xuất kinh doanh. Nhờ vậy mà an ninh thơn xóm vẫn ln đƣợc đảm bảo, trật tự an

toàn xã hội ổn định, làng quê hầu nhƣ ít bị xâm lấn bởi các tệ nạn xã hội. Bởi ở một

làng quê khác, một số thanh niên sau khi tốt nghiệp phổ thông, không nhập học ở

các trƣờng chuyên nghiệp ở lại làng quê, tụ tập hội hè, đánh nhau, chơi game, chơi

đề, thậm chí có một sơ ít còn sa vào con đƣờng nghiện ngập, từ đó mà trộm cƣớp

nhiều nơi, gây mất trật tự xã hội.

Ngoài ra, việc phát triển hệ thống các làng nghề cũng là một việc để giữ gìn

phong tục, tập quán truyền thống của địa phƣơng. Sự tồn tại, phát triển các làng

nghề chịu ảnh hƣởng nhiều bởi truyền thống địa phƣơng.

Nhƣ vậy, nguồn thu nhập từ làng nghề cũng nhƣ đóng góp của làng nghề vào

sự phát triển kinh tế - xã hội chung của địa phƣơng đã cho thấy rõ sự phát triển làng

nghề là tất yếu, là điều kiện để có thể nâng cao nguồn thu nhập, cải thiện đời sống

cho nhân dân. Tuy nhiên, còn một số làng nghề thu nhập vẫn chƣa đảm bảo đƣợc để

có thể phát triển một cách bền vững.

Tâm lý của người dân địa phương vào sự phát triển làng nghề

Sự phát triển của mỗi làng nghề đóng vai trò to lớn trong việc tạo nên bản

sắc, truyền thống riêng cho mỗi địa phƣơng, làng quê. Đó là cái đại diện rõ nét cho

địa phƣơng về truyền thống văn hóa, phong tục tập quán. Sự tồn tại và phát triển

của làng nghề trƣớc hết là mang lại lợi ích cho những ngƣời làm nghề, và tiếp đến là

sự phát triển về mọi mặt ở địa phƣơng. Tuy nhiên, với những ngƣời không làm nghề



91



trong làng nghề lại có những tâm lý khác nhau về sự tồn tại của làng nghề, nếu

không ảnh hƣởng gì xấu đến họ thì đó sẽ là mặt tốt, nhƣng nếu sự tồn tại của làng

nghề gây tác động xấu đến môi trƣờng, tác động xấu đến cuộc sống của họ thì tâm

lý của họ sẽ là ngƣợc lại.

Đối với làng nghề đúc đồng, trƣớc đây, làng nghề này chỉ tồn tại ở thôn La

Xuyên, Ninh Xá, Lũ Phong, Trịnh Xá nhƣng do làm việc bằng nghề này mang lại

nguồn thu nhập ổn định và cao hơn làm nông nghiệp nên đã lan tỏa phát triển sang

các thôn, các xã cận, giờ đây xã Yên Lƣơng, Yên Thắng (cạnh xã n Ninh) đã có

rất nhiều cơ sở, chính vì thế, nhiều con em ở Ý Yên sau khi tốt nghiệp nếu khơng đỗ

đạt đi học thì thay vì tìm việc làm ở các khu công nghiệp phát triển ở các nơi, họ ở

lại làm việc giúp gia đình, đồng thời thu nhận thêm các lao động ở các xã xung

quanh đến làm việc. Nhìn chung, làm nghề đúc đồng thu nhập cao hơn nhiều so với

làm ruộng. Tuy vậy, phần lớn hộ gia đình sau khi kinh tế khấm khá, họ đều đầu tƣ

cho con em mình học hành để có thể có đƣợc những cơng việc tốt hơn. Còn đối với

ngƣời dân khơng tham gia vào làng nghề thì cái mà họ lo lắng nhất là ơ nhiễm môi

trƣờng. Bởi lẽ, sự phát triển mạnh mẽ của làng nghề sẽ làm cho nguồn nƣớc bị ô

nhiễm, lƣợng bụi vƣợt quá mức và ô nhiễm tiếng ồn.

Nhƣ vậy, sự tồn tại của làng nghề là niềm vui, niềm hạnh phúc của ngƣời

dân nhƣng do nguồn thu nhập từ làng nghề vẫn chƣa đảm bảo cuộc sống nên dân cƣ

ở các làng nghề hầu hết đều mong muốn con em mình sau này thốt ly khỏi nghề,

làm những cơng việc an nhàn hơn mà thu nhập lại khá hơn, cuộc sống đƣợc cải

thiện hơn. Điều này đòi hỏi các làng nghề phát triển ngày càng phải có biện pháp

thu hút thêm các lao động vùng lân cận đến làm việc. Có nhƣ vậy mới đảm bảo

đƣợc tính bền vững trong phát triển làng nghề.

3.2.3. Tiêu chí đánh giá bền vững về môi trường

Môi trường lao động làm việc

Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trƣờng của các làng nghề đúc đồng trong báo

cáo hàng năm của Ý Yên đều chƣa đƣợc đề cập đến, vì chủ yếu sự ơ nhiễm của các

làng nghề chƣa đến mức độ báo động, và mức độ ô nhiễm của các làng nghề cũng



92



không lớn nhƣ ở các khu công nghiệp phát triển, hơn nữa sự quan tâm của chính

quyền địa phƣơng vẫn chƣa đƣợc sát sao về các hoạt động bảo vệ môi trƣờng. Mỗi

làng nghề đều có mức độ gây ơ nhiễm khác nhau tùy thuộc vào sự tác động của nó

đến mơi trƣờng, trƣớc hết là mức độ ảnh hƣởng của nó đến ngƣời lao động, và sau

đó là ảnh hƣởng đến ngƣời dân sống trong vùng. Các làng nghề đúc kim khí, đúc

đồng đều gây ơ nhiễm mơi trƣờng sống cũng nhƣ mơi trƣờng làm việc của ngƣời

lao động.

- Ơ nhiễm tiếng ồn trong mơi trường lao động

Ơ nhiễm tiếng ồn có tác động rất nghiêm trọng. Tại các làng nghề nơi sản

xuất đan xen với khu nhà ở, hầu hết dân cƣ của làng tham gia vào quá trình sản xuất

nên nguy cơ ảnh hƣởng của điều kiện lao động và chất thải sản xuất đến sức khỏe

ngƣời dân là rất lớn. Do mơi trƣờng khơng khí, nƣớc ngầm và nƣớc mặt, đất đều bị

ô nhiễm nên số ngƣời dân tại các làng nghề bị mắc các bệnh đƣờng hô hấp, đau

mắt, bệnh ngồi da, tiêu hóa, phụ khoa là rất cao. Ngồi ra là một số bệnh mang tính

nghề nghiệp nhƣ bệnh bụi phổi, ung thƣ, thần kinh, đau lƣng, đau cột sống... Tuy

nhiên, hầu hết các nghiên cứu về làng nghề mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu mô tả

cắt ngang (đánh giá hiện trạng môi trƣờng và tình hình bệnh tật) mà chƣa có những

nghiên cứu dịch tễ đánh giá đƣợc mối liên quan của bệnh tật với các yếu tố ô nhiễm.

Giới hạn tối đa cho phép tiếng ồn trong môi trƣờng lao động ở Việt Nam là 90 dBA

(Tiêu chuẩn cho phép 3733/2002 QĐ – BYT). Ở các làng nghề ở Ý Yên, ô nhiễm

tiếng ồn chủ yếu là ở các làng nghề rèn đúc kim khí, đúc đồng. Mặc dù tỉnh đã có

quy hoạch phát triển thành các cụm tiểu thủ công nghiệp làng nghề nhƣng nhìn

chung vẫn chƣa đảm bảo đƣợc điều kiện về môi trƣờng lao động.

Ở làng nghề rèn đúc, đúc đồng các yếu tố ô nhiễm môi trƣờng là khí thải từ

các lò nung, lò rèn, từ các bể mạ, bể tẩy rửa; nƣớc thải từ bể mạ, bể tẩy rửa; chất

thải rắn nhƣ xỉ than; tiếng ồn từ các cơng đoạn gia cơng cơ khí và nhiệt. Các kết quả

khảo sát gần đây nhất của Sở Khoa học – Công nghệ Nam Định cho thấy, tiếng ồn

phát sinh từ hầu hết các công đoạn sản xuất, nhƣng mức tiếng ồn cao phát sinh chủ

yếu từ các máy đột dập, máy khoan, máy cán thép,... (làng cơ khí), từ các máy búa,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.4: Quy trình tạo tranh đồng kèm dòng thải.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×