Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các nhóm mục tiêu phát triển bền vững

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các nhóm mục tiêu phát triển bền vững

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con ngƣời; là nơi chứa

đựng, xử lý, tái chế phế thải của con ngƣời. Vì thế mơi trƣờng bền vững là môi

trƣờng luôn luôn thay đổi nhƣng đảm bảo thực hiện cả 3 chức năng nói trên. Xã hội

phát triển bền vững là xã hội mà con nguời có cuộc sống chất lƣợng cao trên nền

tảng sinh thái bền vững.

Phát triển bền vững đƣợc hiểu là một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu

của thế hệ hiện tại mà không xâm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế

hệ tƣơng lai. Phát triển bền vững đƣợc cấu tạo bởi 3 nhân tố là bền vững về kinh tế,

bền vững về xã hội và bền vững về môi trƣờng.

Xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững nhƣ thế mà có thể đƣa ra khái

niệm phát triển bền vững làng nghề. Khái niệm này đƣợc đặt ra trong khuôn khổ

quan niệm về phát triển bền vững của đất nƣớc và mang yếu tố đặc thù của các làng

nghề. Theo đó “Phát triển bền vững làng nghề là việc bảo đảm sự tăng trƣởng kinh

tế ổn định, có hiệu quả cao trong các làng nghề, gắn liền với việc khai thác hợp lý,

bảo vệ và nâng cao chất lƣợng môi trƣờng sống cũng nhƣ là đảm bảo những đòi hỏi

về ổn định, nâng cao đời sống, trật tự an tồn xã hội ở địa bàn có làng nghề”

Để đảm bảo việc phát triển bền vững làng nghề phải đảm bảo việc duy trì

tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ

trong bản thân các làng nghề, đó là:

- Đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động của làng nghề để đảm bảo tái

sản xuất: quy mô, tốc độ gia tăng giá trị sản lƣợng, trình độ công nghệ, giải quyết

đƣợc lao động việc làm, thay đổi thu nhập bình quân đầu ngƣời, phát triển hoạt

động sản xuất theo hƣớng tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu…

- Duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của các làng nghề. Khả năng cạnh

tranh nói lên tính chất vƣợt trội trong quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh

khác có cùng tiêu chí so sánh nhƣ mơi trƣờng pháp lý và hành chính, cơ sở hạ tầng,

trình độ cơng nghệ sản xuất, thị trƣờng, nguồn nhân lực, đặc điểm sản phẩm

- Đảm bảo chất lƣợng môi trƣờng trong nội bộ làng nghề, không ảnh hƣởng

lớn đến mơi trƣờng. Để có thể duy trì tính bền vững trong các làng nghề thì phải



12



ln đặt sự phát triển của làng nghề với quá trình phát triển kinh tế nói chung và

phát triển các làng nghề trong khu vực.

1.1.2.2. Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững làng nghề

Sự phát triển bền vững của làng nghề đƣợc xem xét trên 3 khía cạnh, đó là sự

bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về mơi trƣờng. Trong đó nội

dung của từng khía cạnh qua mỗi tiêu chí sẽ đƣợc làm rõ.

Tiêu chí đánh giá bền vững về kinh tế

Có thể đánh giá sự bền vững về kinh tế thơng qua các tiêu chí nhƣ: hiệu quả

sản xuất kinh doanh, nguồn lực đầu vào cho quá trình sản xuất, thị trƣờng đầu ra

của sản phẩm, thu nhập từ làng nghề.

* Tăng trưởng sản lượng của các làng nghề

Muốn đánh giá đƣợc các làng nghề phát triển có bền vững hay khơng thì

trƣớc hết phải xét xem trong quá trình phát triển, các làng nghề đạt đƣợc mức tăng

trƣởng cao hay thấp, có đạt đƣợc chỉ tiêu đề ra hay không hay trong hoạt động sản

xuất kinh doanh của mình đạt đƣợc mức lợi nhuận là bao nhiêu. Đó chính là sự tăng

lên khơng ngừng qua các năm về số lƣợng sản phẩm của mỗi làng nghề. Có nhƣ vậy

mới thể hiện đƣợc rằng số lƣợng sản phẩm từ làng nghề vẫn đang đƣợc duy trì và

phát triển.

* Chất lượng sản phẩm

Chất lƣợng sản phẩm là một nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến sự phát triển

bền vững của làng nghề nhất là trong giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng, suy thoái

trên thế giới nhƣ hiện nay. Sản phẩm từ làng nghề hầu hết đều là những sản phẩm

thủ công, tiểu thủ công nghiệp, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ…đều cần phải đảm

bảo chất lƣợng cao nếu khơng sẽ khó thu hút đƣợc khách hàng. Nhất là các sản

phẩm thủ cơng mỹ nghệ thì vấn đề chất lƣợng sản phẩm cũng cần phải ngày càng

đƣợc nâng cao, có nhƣ vậy mới đảm bảo đƣợc sự phát triển bền vững cho làng

nghề.

Chất lƣợng sản phẩm là yếu tố quan trọng để có thể tạo điều kiện cho sản

phẩm làng nghề có thể đứng vững trên thị trƣờng và có khả năng cạnh tranh cao



13



ngay ở những thị trƣờng khó tính nhất, nhất là đối với các sản phẩm sản xuất phục

vụ xuất khẩu, vì khách hàng nƣớc ngồi ln là những đối tƣợng kỹ tính, đòi hỏi

phải đảm bảo chất lƣợng. Nếu các làng nghề cứ sản xuất ồ ạt, chỉ chú trọng đến quy

mô mà không quan tâm đầu tƣ cho chất lƣợng sản phẩm thì sớm hay muộn cũng sẽ

bị loại dần ra khỏi thị trƣờng. Vì vậy khơng ngừng nâng cao chất lƣợng sản phẩm

cũng chính là một nhân tố đảm bảo cho các làng nghề phát triển một cách bền vững.

* Thị trường đầu ra của sản phẩm

Thị trƣờng đầu ra của sản phẩm phản ánh sản phẩm có giá trị sử dụng và có

chất lƣợng đáp ứng nhu cầu thị trƣờng. Mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh khi tham

gia vào thị trƣờng thì đều mong muốn có một chỗ đứng nhất định, đóng góp một thị

phần nhất định trên thị trƣờng cho dù quy mơ của nó nhỏ hay lớn. Nếu nhanh chóng

theo kịp với những sự thay đổi nhu cầu của thị trƣờng thì mỗi làng nghề sẽ có sự

phát triển mạnh mẽ hơn. Điển hình nhƣ các làng nghề sản xuất đồ gỗ gia đình, vật

liệu xây dựng, gốm sứ, đá mỹ nghệ… thì sẽ chịu ảnh hƣởng nhiều của yếu tốt này.

Ngƣợc lại, nếu các làng nghề khơng thích ứng đƣợc với sự thay đổi về nhu cầu thị

trƣờng mà vẫn cứ cố bám lấy kiểu làm ăn cũ thì sản xuất tất yếu sẽ bị giảm sút, có

khi lại khơng thể duy trì đƣợc sự tồn tại của nghề. Ví dụ nhƣ các nghề thuộc về đan

lát: đan nón, đan mành cọ, đan quạt, đan rổ rá…

Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng nhƣ hiện nay thì các làng nghề phải tự

tìm kiếm thị trƣờng đầu ra cho sản phẩm của mình. Có mở rộng đƣợc thị trƣờng tiêu

thụ sản phẩm thì các làng nghề mới có thể mở rộng quy mơ sản xuất và duy trì sản

xuất trong lâu dài đƣợc.

Nhƣ vậy, ta có thể thấy đƣợc rằng, để có thể tồn tại và phát triển thì mỗi làng

nghề phải tự xây dựng cho mình thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm đầu ra ổn định, có khả

năng thì phải khơng ngừng tìm kiếm thị trƣờng trong nƣớc lẫn thị trƣờng nƣớc

ngồi. Có làm vậy thì sự phát triển của làng nghề mới đảm bảo đƣợc tính bền vững.

* Năng suất lao động, thu nhập từ làng nghề.

Năng suất lao động, nguồn thu nhập từ làng nghề cũng là một yếu tố tạo nên

sự bền vững về kinh tế. Năng suất lao động chính là thu nhập trên một đơn vị lao



14



động hay thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Nguồn thu nhập

thể hiện ở khả năng đóng góp của làng nghề vào giá trị sản xuất của địa phƣơng

cũng nhƣ là nguồn thu nhập cho lao động trong làng nghề. Nếu hoạt động sản xuất

của làng nghề khơng đảm bảo đƣợc nguồn thu nhập thì khơng thể nói là có sự phát

triển bền vững đƣợc.

* Sự đóng góp của làng nghề vào giá trị sản uất của địa phương

Giá trị sản xuất là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đƣợc tính đến đối với các sản

phẩm vật chất và dịch vụ đƣợc tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, 1 địa

phƣơng, và cũng có thể tính theo ngành trong một thời kỳ nhất định, thƣờng là một năm.

Chúng ta phải xem xét đến vai trò kinh tế của các làng nghề trong quá trình

phát triển của mỗi địa phƣơng khi xem xét tính bền vững về kinh tế của các làng

nghề, điều đó thể hiện thơng qua việc so sánh giá trị sản xuất của làng nghề với giá

trị sản xuất nông nghiệp đƣợc tạo ra ở địa phƣơng có làng nghề. Sự so sánh đó có

thể cho ta thấy đƣợc vai trò và vị trí của làng nghề đó so với sản xuất nơng nghiệp

thuần túy. Ngồi ra, thơng qua đó chúng ta cũng có thể so sánh giá trị gia tăng đƣợc

tạo ra từ làng nghề so với tổng giá trị gia tăng đƣợc tạo ra trong ngành nông nghiệp.

* Thu nhập của lao động làng nghề

Thu nhập của lao động làm việc trong làng nghề cũng là một chỉ tiêu quan

trọng để ngƣời lao động xác định lựa chọn nghề và sống nhờ vào nghề đó. Nếu mức

thu nhập bình quân của ngƣời lao động đủ đảm bảo trang trải cho những nhu cầu cơ

bản trong cuộc sống của ngƣời lao động cũng nhƣ gia đình họ, đồng thời mức thu

nhập đó nếu cao hơn mức thu nhập từ sản xuất nơng nghiệp thì ngƣời lao động sẽ

chọn làm việc ở làng nghề và gắn bó hơn với nghề đó. Mặt khác, ngồi làm cơng

việc ở làng nghề, ngƣời lao động cũng có thể thực hiện đan xen với làm nơng

nghiệp, bởi vì làm nơng nghiệp mang tính thời vụ cao, hết mùa vụ thì sẽ là thời kỳ

nơng nhàn nên có thể trong thời kỳ mùa vụ, ngƣời lao động có thể tạm gác việc làm

ở làng nghề để có thể thực hiện thu hoạch hay cấy hái. Nhƣ vậy, qua đó cũng sẽ có

đƣợc mức thu nhập cao hơn và cuộc sống của họ sẽ đƣợc đảm bảo, thỏa mãn nhu

cầu tốt hơn trƣớc.



15



Tiêu chí đánh giá bền vững về xã hội

Để đánh giá tính bền vững về xã hội thể hiện thông qua các chỉ tiêu nhƣ: giải

quyết việc làm, giảm bớt thời gian nhàn rỗi ở nông thôn; tăng thu nhập cho ngƣời

dân, giảm khoảng cách giữa thành thị và nơng thơn, xóa đói giảm nghèo.

* Giải quyết việc làm và giảm tình trạng thiếu việc làm ở nơng thơn.

Tiêu chí quan trọng đầu tiên biểu hiện sự phát triển của làng nghề có đảm

bảo đƣợc tính bền vững hay khơng chính là khả năng giải quyết việc làm của làng

nghề, trƣớc hết là giải quyết việc làm cho đội ngũ lao động trong làng. Chúng ta

thấy đƣợc rằng làm nông nghiệp luôn là một nghề vất vả, nhiều khó khăn gian khổ

trong khi nguồn thu nhập lại thấp và bấp bênh do đặc trƣng của nghề làm nông

nghiệp là phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thời tiết, khí hậu. Bên cạnh đó, ngành

nơng nghiệp còn có đặc trƣng là mang tính thời vụ cao, vì thế có những khi ngƣời

nơng dân làm việc mệt nhọc từ sáng đến tối quần quật cho kịp mùa vụ, nhất là vào

mùa hè thu, ngoài thu hoạch ra còn có vụ gieo cấy…nhƣng lại có những khi nơng

nhàn, hầu nhƣ khơng có nhiều việc làm. Chính vì vậy, việc phát triển làng nghề sẽ

góp phần giải quyết đƣợc thời gian nơng nhàn đó cho đội ngũ lao động.

Ngồi ra, hiện nay một số địa phƣơng diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị

thu hẹp, các làng quê phải tìm kiếm nghề mới để có thể qua đó tăng thêm thu nhập

cho bản thân và gia đình. Do đó, các làng nghề mới đƣợc hình thành và phát triển,

ngƣời dân ở đó tập trung vào sản xuất kinh doanh các sản phẩm từ làng nghề để cải

thiện đời sống.

* Giảm khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn

Vấn đề giảm bớt chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn luôn

đƣợc xã hội quan tâm. Thơng qua việc xem xét mức thu nhập bình qn đầu ngƣời

từ làng nghề có thể so sánh với mức thu nhập ở thành thị, từ đó có thể đánh giá

đƣợc khoảng cách thu nhập giữa thành thị và khu vực nông thôn. Do hầu hết làng

nghề ở Việt Nam đều nằm ở nông thôn, mặt khác ở nông thôn nếu làm ở làng nghề

thì thơng thƣờng sẽ có nguồn thu nhập bình quân cao hơn so với sản xuất nơng

nghiệp thuần túy. Chính vì vậy mà thơng qua phát triển làng nghề cũng có thể góp



16



phần xóa đói giảm nghèo, làm giảm khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nơng

thơn, từ đó định ra những phƣơng hƣớng phát triển phù hợp với hoàn cảnh phát

triển của địa phƣơng.

* Phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của địa phương

Phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của địa phƣơng là yếu tố quan trọng.

Ngoài việc ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh nó còn ảnh hƣởng đến

tiêu dùng và đời sống của dân cƣ ở nông thơn. Do đó nhân tố này vừa tác động tích

cực lại vừa tác động tiêu cực đến sự phát triển làng nghề.

Về mặt tích cực, yếu tố truyền thống sẽ có tác dụng góp phần bảo tồn những

nét đặc trƣng văn hóa riêng có của làng nghề, của dân tộc, làm cho sản phẩm của

làng nghề có tính độc đáo và giá trị cao hơn. Đó là đối với các làng nghề truyền

thống, bởi vì ở những làng nghề này bao giờ cũng có những ngƣời thợ có trình độ

tay nghề cao, có trình độ kinh nghiệm sản xuất, có tâm huyết với nghề, và họ cũng

chính là ngƣời gánh trách nhiệm duy trì, phát triển những bí quyết riêng của làng

nghề, và cứ thế, các bí quyết riêng đó sẽ đƣợc truyền từ đời này qua đời khác, qua

các thế hệ. Họ chính là cơ sở cho sự tồn tại, phát triển bền vững làng nghề trƣớc

mọi biến cố và duy trì những nét độc đáo truyền thống của làng nghề.

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trƣờng thì ngoài việc truyền kinh nghiệm từ

thế hệ này qua thế hệ khác cũng cần phải biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản

xuất, đó là những cơng nghệ hiện đại. Khi đó lại cần phải có đội ngũ những ngƣời

năng động, sáng tạo để có thể đƣa hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển mạnh

mẽ đƣợc. Trong điều kiện đó, một số yếu tố truyền thống, phong tục tập quán lại

cản trở sự phát triển của làng nghề theo hƣớng hiện đại. Bên cạnh đó, còn có những

quy định, quy tắc khắt khe, hạn chế trong nghề, tục lệ làng quê đã trở thành rào cản

đến việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề.

Chính vì vậy, sự phát triển bền vững của làng nghề ngồi việc tạo điều kiện

để giữ gìn bản sắc văn hóa của địa phƣơng, tơn vinh giá trị truyền thống trong

phong tục tập qn thì nó cũng cần phải đƣợc chú ý thay đổi linh hoạt đối với sự

phát triển làng nghề nếu điều đó là cần thiết. Ví dụ nhƣ nếu những hoạt động có thể



17



dùng máy móc thay thế thì khơng cần thiết phải hoạt động thủ cơng nữa. Điều đó sẽ

làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí và làng nghề vẫn có thể phát triển bền

vững đi lên.

Tiêu chí đánh giá bền vững về mơi trƣờng

- Ơ nhiễm mơi trƣờng khơng khí

Mơi trƣờng lao động ảnh hƣởng đến hoạt động sinh lí, sức khỏe bệnh tật của

ngƣời lao động. Với điều kiện thời tiết khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của nƣớc ta, lại

cộng thêm tác động của các yếu tố độc hại phát sinh trong q trình sản xuất nhƣ

hơi khí độc, cƣờng độ ồn, cƣờng độ rừng, bụi.. sẽ có ảnh hƣởng không tốt tới sức

khỏe của ngƣời lao động. Trong những điều kiện nhƣ thế, ngƣời lao động sẽ bị ảnh

hƣởng về thần kinh, tâm lí và dẫn đến rối loạn sinh lí, suy giảm sức khỏe, giảm khả

năng lao động, tăng ốm đau, bệnh tật, bệnh nghề nghiệp. Tất cả những điều đó sẽ

ảnh hƣởng đến năng suất lao động và chất lƣợng sản phẩm. Mặt khác, ô nhiễm môi

trƣờng lao động cũng sẽ lan tỏa gây ô nhiễm các khu vực lân cận, ảnh hƣởng đến

đời sống của ngƣời dân.

Việc phát triển các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở vùng nông

thôn nƣớc ta lại sử dụng công nghệ lạc hậu, trang thiết bị cũ kỹ cũng làm cho vấn đề

ô nhiễm môi trƣờng sống ở làng nghề nơng thơn ngày càng trở nên nghiêm trọng. Ơ

nhiễm môi trƣờng do công nghiệp nông thôn tạo ra rất đa dạng, đó là chất thải rắn,

khí thải, bụi, tiếng ồn…

- Ơ nhiễm tiếng ồn

Ơ nhiễm tiếng ồn trong mơi trƣờng lao động là một vấn đề có ảnh hƣởng rất

lớn đến sức khỏe ngƣời lao động trong các làng nghề. Ở Việt Nam cho phép giới

hạn tối đa cho phép về tiếng ồn trong môi trƣờng lao động là 90 dBA (ở các nƣớc

phát triển chỉ cho phép 85 dBA). Tại 67% cơ sở sản xuất trên 83 cơ sở khảo sát thì

tiếng ồn đều cao hơn giới hạn cho phép. Ở các xƣởng dệt, sữa chữa cơ khí, gia cơng

mộc dân dụng thì mức áp âm đều từ 98 dBA đến 106 dBA. Ô nhiễm tiếng ồn sẽ gây

ra các bệnh nhƣ gây mệt mỏi thính lực, có khi gây điếc, đau tai, mất thăng bằng, dễ

giật mình, mất ngủ, loét dạ giày, tăng huyết áp, hay cáu giận…



18



- Ơ nhiễm mơi trƣờng nƣớc

Phổ biến và khó kiểm sốt nhất là nƣớc thải ở các hộ gia đình chế biến lƣơng

thực, thực phẩm. Khoảng trên 42% cơ sở sản xuất nhƣ giấy, chế biến miến, bún,

bánh…có lƣợng nƣớc thải gây ơ nhiễm mơi trƣờng. Các chỉ tiêu hóa học đo lƣờng

chất lƣợng môi trƣờng nƣớc thải nhƣ: Độ kiềm tồn phần; Độ cứng của nƣớc; Hàm

lƣợng oxigen hòa tan (DO); Nhu cầu oxigen hóa học (COD: là lƣợng oxigen cần

thiết cung cấp bởi các chất hóa học) để oxid hóa các chất hữu cơ trong nƣớc. Chất

oxid hóa thƣờng dùng là KmnO4 hoặc K2Cr2O7 và khi tính tốn đƣợc qui đổi về

lƣợng oxigen tƣơng ứng ( 1 mg KmnO4 ứng với 0,253 mgO2)); Nhu cầu oxigen

sinh hóa (BOD: là lƣợng oxigen cần thiết để vi khuẩn có trong nƣớc phân hủy các

chất hữu cơ. Tƣơng tự nhƣ COD, BOD cũng là một chỉ tiêu dùng để xác định mức

độ nhiễm bẩn của nƣớc (đơn vị tính cũng là mgO2/L). Trong mơi trƣờng nƣớc, khi

q trình oxid hóa sinh học xảy ra thì các vi khuẩn sử dụng oxigen hòa tan để oxid

hóa các chất hữu cơ và chuyển hóa chúng thành các sản phẩm vơ cơ bền nhƣ CO2,

CO32-, SO42-, PO43- và cả NO3-). Các chỉ tiêu vật lý nhƣ: độ pH, độ đục, tổng

hàm lƣợng chất rắn (TS); Tổng hàm lƣợng chất rắn lơ lửng (SS)…Ô nhiễm mơi

trƣờng nƣớc nghiêm trọng thể hiện ở chỗ nó làm giảm chất lƣợng đất, suy giảm các

nguồn lợi thủy sinh và đồng thời làm giảm chất lƣợng nguồn nƣớc kể cả nguồn

nƣớc mặt lẫn nƣớc ngầm. Ơ nhiễm mơi trƣờng nƣớc sẽ gây ra những bệnh ngoài da,

bệnh đƣờng ruột, đau mắt hột…, ảnh hƣởng không nhỏ đến sức khỏe ngƣời lao

động.

Ngoài việc ảnh hƣởng lớn đến sức khỏe của ngƣời lao động mà nó còn gây ơ

nhiễm nghiêm trọng tới nguồn nƣớc sinh hoạt của cộng đồng dân cƣ, vì ở nhiều nơi,

nhiều vùng hiện nay, nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân vẫn chƣa đƣợc dùng

nƣớc máy. Ngoài ra nó còn làm giảm tài ngun đất trồng trọt, giảm sút các nguồn

thủy sản trên các con sông và ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống con ngƣời.

Làng nghề càng phát triển thì nguy cơ ơ nhiễm làng nghề đang càng gia tăng,

ngƣời lao động trong các làng nghề chịu ít nhất là 3 tác động tiêu cực trong mơi

trƣờng lao động. Đó là nhiệt độ cao, bụi và tiếng ồn hoặc mặt bằng nhà xƣởng. Nếu



19



làm việc trong môi trƣờng độc hại, nhiều nguy hiểm, ngƣời lao động sẽ chịu hậu

quả là làm giảm năng suất lao động, suy giảm về sức khỏe, tăng nguy cơ mắc bệnh

tật, điều này sẽ làm tăng chi phí khám chữa bệnh, giảm thu nhập của ngƣời lao

động, càng gây khó khăn hơn cho cuộc sống sinh hoạt của mỗi gia đình, đồng thời

lan tỏa ảnh hƣởng đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng. Đó chính là những

biểu hiện gây nên sự thiếu bền vững trong sự phát triển của làng nghề.

1.1.2.3. Ý nghĩa của việc phát triển bền vững làng nghề đối với sự phát triển kinh tế

-



hội ở địa phương

Trong cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, làng nghề cũng



đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng. Ở các

nƣớc phát triển cũng có những mơ hình nhƣ “mỗi làng một sản phẩm” ở Nhật Bản,

Thái Lan, “mỗi phố một sản phẩm” ở Thƣợng Hải, Trung Quốc; … và những mơ

hình này ra đời từ rất sớm và phát triển mạnh mẽ. Sự phát triển các mơ hình đó

cũng cho thấy sự phát triển làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc

đẩy phát triển nền công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của mỗi quốc gia.

Sự phát triển của làng nghề cùng với các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ

tầng, các loại hình dịch vụ tiểu thủ cơng nghiệp sẵn có trên địa bàn và sự liên kết

hợp tác một cách rộng lớn giữa các cơ sở sản xuất trong làng nghề thì sẽ tạo bƣớc

chuyển biến lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng. Phát triển bền

vững các làng nghề sẽ tạo điều kiện cho sự trao đổi mua bán sản phẩm cũng nhƣ các

hoạt động dịch vụ khác ngay trong nội bộ làng nghề. Điều đó sẽ có tác dụng làm

giảm thiểu chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi cơ sở

và từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của làng nghề. Phát triển bền vững góp phần

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng thơn ở chỗ nó tạo ra cơ cấu kinh tế mới, hợp lí và

hiện đại ở nơng thơn. Ngồi ra, sự phát triển của làng nghề cũng góp phần mở rộng

quy mơ và địa bàn sản xuất cũng nhƣ tạo ra nguồn sản phẩm phong phú đa dạng

cho xã hội.

Phát triển bền vững làng nghề sẽ tạo công ăn việc làm cho một số lƣợng khá

lớn ngƣời lao động. Việc phát triển làng nghề sẽ thu hút lao thêm lao động tham gia



20



vào làm việc, giảm bớt thời gian nhàn rỗi ở nông thôn, đồng thời cũng sẽ tăng thêm

đội ngũ những ngƣời làm dịch vụ phục vụ tại các làng nghề. Từ đó sẽ góp phần làm

tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho lực lƣợng lao động ở nông thôn và nó còn có

tác động lan tỏa kéo theo sự hình thành và phát triển các ngành nghề khác ở nơng

thơn. Hơn nữa, còn có những làng nghề mà ngƣời lao động hoàn toàn làm việc phục

vụ làng nghề chứ khơng còn tham gia hoạt động sản xuất nơng nghiệp nữa. Điều

này sẽ làm cho ngƣời lao động ở địa phƣơng yên tâm vào ổn định cuộc sống ở làng

quê mà khơng còn ham muốn ra thành thị kiếm việc làm để cải thiện cuộc sống nữa.

Cũng nhờ sự phát triển của làng nghề nhƣ thế mà bộ phận dân cƣ khơng có hoặc có

rất ít ruộng đất cũng sẽ có điều kiện nhận thêm ruộng đất để canh tác, từ đó sẽ góp

phần xóa đói giảm nghèo ở nơng thôn.

Sự phát triển của làng nghề cũng sẽ lan tỏa tác động sang các vùng khác, thu

hút lao động từ các vùng khác khi hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc mở rộng, từ

đó sẽ góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của các

địa phƣơng

Ngoài ra ta cũng thấy đƣợc rằng, hoạt động làng nghề chủ yếu là quy mô

nhỏ, cơ cấu vốn và lao động cũng không lớn, trong khi đó, một khi hoạt động sản

xuất kinh doanh đƣợc phát triển mở rộng thì nhu cầu vốn cũng nhƣ lao động cần

đƣợc huy động ngày càng lớn, mà nguồn vốn nhƣ thế này lại có thể huy động trực

tiếp từ dân cƣ. Do vậy, đó sẽ là điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn vốn còn nhàn

rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề.

Phát triển bền vững làng nghề cũng có tác động lớn tới cơng tác hồn thiện

hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội ở địa phƣơng. Nhất là đối với hoàn cảnh ở

nƣớc ta, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật vẫn còn chƣa đáp ứng đƣợc đầy đủ nhu cầu

và nguyện vọng của quá trình phát triển kinh tế - xã hội thì để có thể phát triển làng

nghề, cần phải chú trọng hoàn thiện hơn hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật để có thể

phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của mỗi làng nghề cũng nhƣ

là của đất nƣớc.

Nếu làng nghề phát triển bền vững có nghĩa hoặc là các cơ sở sản xuất sẽ tập



21



trung vào một khu vực chung, khơng còn nhỏ lẻ nhƣ trƣớc; hoặc là cũng có thể

phân tán các hộ gia đình riêng lẽ (trƣờng hợp các làng nghề chế biến thực phẩm).

Thơng qua đó, hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ, các doanh nghiệp sẽ quan

tâm chú trọng vào các công tác xử lý chất thải, nƣớc thải và các hoạt động bảo vệ

mơi trƣờng khác. Đó sẽ là điều kiện thuận lợi để có thể quy hoạch phát triển làng

nghề một cách cụ thể và có hiệu quả, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững

Ngoài ra, phát triển bền vững làng nghề sẽ là cơ hội để có thể quảng bá hình

ảnh riêng có của địa phƣơng nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung. Thông

qua các sản phẩm độc đáo của mỗi làng nghề, cũng thể hiện đƣợc nét đặc sắc của

văn hóa dân tộc, các giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc, qua các thế hệ phát triển,

các giá trị văn hóa này sẽ đƣợc gìn giữ, bảo tồn và khơng ngừng phát triển. Thông

qua “thƣơng hiệu” riêng của làng nghề mà địa phƣơng sẽ đƣợc nhiều vùng khác, nơi

khác biết đến. Cũng từ đây, tạo điều kiện cho sự phát triển ngành du lịch, vì nếu

làng nghề càng phát triển, điều kiện kinh tế càng phát triển thì sẽ thu hút du khách

đến tham quan, giải trí để tìm hiểu, thỏa mãn những nhu cầu của mình.

Sự phát triển bền vững của hệ thống các làng nghề sẽ đóng vai trò, vị trí nhất

định đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng, tùy thuộc vào mức độ phát

triển của mỗi làng nghề sẽ xác định một ý nghĩa nhất định của mình. Qua quá trình

phát triển của các làng nghề ở nƣớc ta thời gian qua, chúng ta cũng thấy rõ đƣợc

rằng, hệ thống làng nghề đã đóng góp đáng kể vào thành tựu phát triển kinh tế - xã

hội của địa phƣơng nói riêng và đất nƣớc nói chung, góp phần khơng nhỏ vào q

trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn cũng nhƣ chuyển dịch cơ

cấu ngành kinh tế.

1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững làng nghề truyền thống

1.1.3.1. Các nhân tố thuộc cấp quản lý nhà nước

Các nhân tố thuộc cấp độ quản lý nhà nƣớc ảnh hƣởng đến sự phát triển bền

vững làng nghề đó chính là khn khổ pháp luật, chính sách quản lý, hỗ trợ của nhà

nƣớc, địa phƣơng; quy hoạch phát triển làng nghề và xây dựng kết cấu hạ tầng ở địa

phƣơng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các nhóm mục tiêu phát triển bền vững

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×