Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Ý Yên)

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Ý Yên)

Tải bản đầy đủ - 0trang

89



khơng còn hộ đói. Mỗi năm tổng doanh thu của cụm công nghiệp đúc Yên Xá là

152 tỷ đồng, chiếm gần 90% thu nhập của tồn xã.

Bên cạnh đó, chất lƣợng đội ngũ lao động cũng chƣa đảm bảo, chủ yếu là

truyền kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác, ngƣời mới vào nghề hầu hết

thông qua kinh nghiệm học nghề, lao động đƣợc đào tạo chiếm tỉ trọng rất nhỏ, tỷ lệ

lao động qua đào tạo trung bình cũng chỉ khoảng 11,05%. Trình độ lao động chủ

yếu là đào tạo kèm cặp theo hình thức cha truyền con nối vì vậy mẫu mã sản phẩm

chƣa đƣợc phong phú và hấp dẫn, giá trị sản phẩm chƣa cao, chƣa đáp ứng đƣợc

yêu cầu thị hiếu của ngƣời tiêu dung. Bên cạnh đó, hình thức tổ chức sản xuất chủ

yếu là cá thể, phân tán theo từng hộ gia đình là chính. Số doanh nghiệp tƣ nhân,

đƣợc thành lập chƣa đến 10 doanh nghiệp, số hợp tác xã cũng còn ít, hiệu quả hoạt

động còn chƣa cao. Hơn nữa, nhiều đội ngũ lao động trẻ không muốn làm nghề

trong làng nghề do thu nhập thấp, họ đi tìm việc làm ở các khu công nghiệp, di dân

ra thành thị, một số nữa thì đi học các trƣờng đại học, cao đẳng rồi làm việc ờ các

cơ quan nhà nƣớc, các cơng ty…khơng muốn về làng làm nghề cũ vì vừa vất vả vừa

thu nhập vẫn chƣa đảm bảo. Trong đội ngũ lao động chịu trách nhiệm chính trong

cơng việc sản xuất kinh doanh ở các cơ sở sản xuất sản phẩm lại ít về số lƣợng, lại

có trình độ học vấn, trình độ chun mơn kỹ thuật và năng lực quản lý cũng còn

nhiều hạn chế. Chỉ có một số ít đội ngũ trẻ sau khi học ở các trƣờng chuyên nghiệp,

họ mạnh dạn vay vốn mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc thay đổi hình thức tổ

chức sản xuất, đầu tƣ nhiều hơn vào các máy móc thiết bị, tìm kiếm mở rộng thị

trƣờng tiêu thụ sản phẩm và đƣa làng nghề ngày càng phát triển hơn.

Nhìn chung chất lƣợng đội ngũ lao động trong các làng nghề còn chƣa cao, chủ

yếu là truyền nghề, đội ngũ qua học tập đào tạo còn rất ít, bộ phận quản lý ở các cơ sở

sản xuất kinh doanh thì trình độ, năng lực còn hạn chế, chủ yếu cũng chỉ là tốt nghiệp

phổ thơng, có số cũng chỉ mới tốt nghiệp cấp II. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải tăng

cƣờng đào tạo nghề cho đội ngũ lao động ở các làng nghề trong thời gian tới, tỉnh cần

có chính sách khuyến khích lao động làng nghề ở nông thôn đi học nghề, học tập kinh

nghiệm, có thế mới giúp cho làng nghề phát triển một cách bền vững đƣợc.



90



Đóng góp cho sự phát triển chung của địa phương

Các làng nghề phát triển sẽ là điều kiện để địa phƣơng thay đổi bộ mặt, từ

thơn xóm cho đến làng xã. Hệ thống giao thông nông thôn đƣợc cải thiện đáng kể,

hầu hết đƣờng làng đều là đƣờng bê tông, hệ thống điện nƣớc cũng phải đủ đáp ứng

nhu cầu, nhất là những làng nghề mộc. Sự phát triển các làng nghề cũng sẽ tăng thu

ngân sách cho địa phƣơng.

Các làng nghề phát triển đều có điều kiện đầu tƣ cho con em đi học các

trƣờng đại học, cao đẳng, hàng năm tỉ lệ đậu đại học, cao đẳng tƣơng đối cao.

Những ngƣời khơng đỗ đạt thì đi học nghề hoặc ở lại làm việc cho các cơ sở sản

xuất kinh doanh. Nhờ vậy mà an ninh thơn xóm vẫn ln đƣợc đảm bảo, trật tự an

tồn xã hội ổn định, làng quê hầu nhƣ ít bị xâm lấn bởi các tệ nạn xã hội. Bởi ở một

làng quê khác, một số thanh niên sau khi tốt nghiệp phổ thông, không nhập học ở

các trƣờng chuyên nghiệp ở lại làng quê, tụ tập hội hè, đánh nhau, chơi game, chơi

đề, thậm chí có một sơ ít còn sa vào con đƣờng nghiện ngập, từ đó mà trộm cƣớp

nhiều nơi, gây mất trật tự xã hội.

Ngoài ra, việc phát triển hệ thống các làng nghề cũng là một việc để giữ gìn

phong tục, tập quán truyền thống của địa phƣơng. Sự tồn tại, phát triển các làng

nghề chịu ảnh hƣởng nhiều bởi truyền thống địa phƣơng.

Nhƣ vậy, nguồn thu nhập từ làng nghề cũng nhƣ đóng góp của làng nghề vào

sự phát triển kinh tế - xã hội chung của địa phƣơng đã cho thấy rõ sự phát triển làng

nghề là tất yếu, là điều kiện để có thể nâng cao nguồn thu nhập, cải thiện đời sống

cho nhân dân. Tuy nhiên, còn một số làng nghề thu nhập vẫn chƣa đảm bảo đƣợc để

có thể phát triển một cách bền vững.

Tâm lý của người dân địa phương vào sự phát triển làng nghề

Sự phát triển của mỗi làng nghề đóng vai trò to lớn trong việc tạo nên bản

sắc, truyền thống riêng cho mỗi địa phƣơng, làng quê. Đó là cái đại diện rõ nét cho

địa phƣơng về truyền thống văn hóa, phong tục tập quán. Sự tồn tại và phát triển

của làng nghề trƣớc hết là mang lại lợi ích cho những ngƣời làm nghề, và tiếp đến là

sự phát triển về mọi mặt ở địa phƣơng. Tuy nhiên, với những ngƣời không làm nghề



91



trong làng nghề lại có những tâm lý khác nhau về sự tồn tại của làng nghề, nếu

khơng ảnh hƣởng gì xấu đến họ thì đó sẽ là mặt tốt, nhƣng nếu sự tồn tại của làng

nghề gây tác động xấu đến môi trƣờng, tác động xấu đến cuộc sống của họ thì tâm

lý của họ sẽ là ngƣợc lại.

Đối với làng nghề đúc đồng, trƣớc đây, làng nghề này chỉ tồn tại ở thôn La

Xuyên, Ninh Xá, Lũ Phong, Trịnh Xá nhƣng do làm việc bằng nghề này mang lại

nguồn thu nhập ổn định và cao hơn làm nông nghiệp nên đã lan tỏa phát triển sang

các thôn, các xã cận, giờ đây xã Yên Lƣơng, Yên Thắng (cạnh xã Yên Ninh) đã có

rất nhiều cơ sở, chính vì thế, nhiều con em ở Ý Yên sau khi tốt nghiệp nếu khơng đỗ

đạt đi học thì thay vì tìm việc làm ở các khu công nghiệp phát triển ở các nơi, họ ở

lại làm việc giúp gia đình, đồng thời thu nhận thêm các lao động ở các xã xung

quanh đến làm việc. Nhìn chung, làm nghề đúc đồng thu nhập cao hơn nhiều so với

làm ruộng. Tuy vậy, phần lớn hộ gia đình sau khi kinh tế khấm khá, họ đều đầu tƣ

cho con em mình học hành để có thể có đƣợc những cơng việc tốt hơn. Còn đối với

ngƣời dân khơng tham gia vào làng nghề thì cái mà họ lo lắng nhất là ô nhiễm môi

trƣờng. Bởi lẽ, sự phát triển mạnh mẽ của làng nghề sẽ làm cho nguồn nƣớc bị ô

nhiễm, lƣợng bụi vƣợt quá mức và ô nhiễm tiếng ồn.

Nhƣ vậy, sự tồn tại của làng nghề là niềm vui, niềm hạnh phúc của ngƣời

dân nhƣng do nguồn thu nhập từ làng nghề vẫn chƣa đảm bảo cuộc sống nên dân cƣ

ở các làng nghề hầu hết đều mong muốn con em mình sau này thốt ly khỏi nghề,

làm những cơng việc an nhàn hơn mà thu nhập lại khá hơn, cuộc sống đƣợc cải

thiện hơn. Điều này đòi hỏi các làng nghề phát triển ngày càng phải có biện pháp

thu hút thêm các lao động vùng lân cận đến làm việc. Có nhƣ vậy mới đảm bảo

đƣợc tính bền vững trong phát triển làng nghề.

3.2.3. Tiêu chí đánh giá bền vững về mơi trường

Môi trường lao động làm việc

Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trƣờng của các làng nghề đúc đồng trong báo

cáo hàng năm của Ý Yên đều chƣa đƣợc đề cập đến, vì chủ yếu sự ơ nhiễm của các

làng nghề chƣa đến mức độ báo động, và mức độ ô nhiễm của các làng nghề cũng



92



không lớn nhƣ ở các khu công nghiệp phát triển, hơn nữa sự quan tâm của chính

quyền địa phƣơng vẫn chƣa đƣợc sát sao về các hoạt động bảo vệ môi trƣờng. Mỗi

làng nghề đều có mức độ gây ơ nhiễm khác nhau tùy thuộc vào sự tác động của nó

đến mơi trƣờng, trƣớc hết là mức độ ảnh hƣởng của nó đến ngƣời lao động, và sau

đó là ảnh hƣởng đến ngƣời dân sống trong vùng. Các làng nghề đúc kim khí, đúc

đồng đều gây ô nhiễm môi trƣờng sống cũng nhƣ môi trƣờng làm việc của ngƣời

lao động.

- Ô nhiễm tiếng ồn trong mơi trường lao động

Ơ nhiễm tiếng ồn có tác động rất nghiêm trọng. Tại các làng nghề nơi sản

xuất đan xen với khu nhà ở, hầu hết dân cƣ của làng tham gia vào quá trình sản xuất

nên nguy cơ ảnh hƣởng của điều kiện lao động và chất thải sản xuất đến sức khỏe

ngƣời dân là rất lớn. Do mơi trƣờng khơng khí, nƣớc ngầm và nƣớc mặt, đất đều bị

ô nhiễm nên số ngƣời dân tại các làng nghề bị mắc các bệnh đƣờng hô hấp, đau

mắt, bệnh ngồi da, tiêu hóa, phụ khoa là rất cao. Ngồi ra là một số bệnh mang tính

nghề nghiệp nhƣ bệnh bụi phổi, ung thƣ, thần kinh, đau lƣng, đau cột sống... Tuy

nhiên, hầu hết các nghiên cứu về làng nghề mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu mô tả

cắt ngang (đánh giá hiện trạng mơi trƣờng và tình hình bệnh tật) mà chƣa có những

nghiên cứu dịch tễ đánh giá đƣợc mối liên quan của bệnh tật với các yếu tố ô nhiễm.

Giới hạn tối đa cho phép tiếng ồn trong môi trƣờng lao động ở Việt Nam là 90 dBA

(Tiêu chuẩn cho phép 3733/2002 QĐ – BYT). Ở các làng nghề ở Ý Yên, ô nhiễm

tiếng ồn chủ yếu là ở các làng nghề rèn đúc kim khí, đúc đồng. Mặc dù tỉnh đã có

quy hoạch phát triển thành các cụm tiểu thủ công nghiệp làng nghề nhƣng nhìn

chung vẫn chƣa đảm bảo đƣợc điều kiện về môi trƣờng lao động.

Ở làng nghề rèn đúc, đúc đồng các yếu tố ơ nhiễm mơi trƣờng là khí thải từ

các lò nung, lò rèn, từ các bể mạ, bể tẩy rửa; nƣớc thải từ bể mạ, bể tẩy rửa; chất

thải rắn nhƣ xỉ than; tiếng ồn từ các công đoạn gia cơng cơ khí và nhiệt. Các kết quả

khảo sát gần đây nhất của Sở Khoa học – Công nghệ Nam Định cho thấy, tiếng ồn

phát sinh từ hầu hết các công đoạn sản xuất, nhƣng mức tiếng ồn cao phát sinh chủ

yếu từ các máy đột dập, máy khoan, máy cán thép,... (làng cơ khí), từ các máy búa,



93



máy băm rũa,... (làng rèn). Tiếng ồn tại nơi làm việc cạnh các máy này hầu nhƣ đều

vƣợt tiêu chuẩn cho phép, cá biệt tại vị trí máy đột dập, máy cán thép có mức tiếng

ồn tƣơng đƣơng trên 95dBA.

- Ô nhiễm bụi

Ô nhiễm bụi trong môi trƣờng lao động phụ thuộc vào trình độ cơng nghệ

sản xuất và phụ thuộc theo mùa. Mùa khô với độ ẩm thấp, vận tốc gió lớn là điều

kiện cho bụi phát tán vào không gian sản xuất. Bụi tại các làng nghề đúc đồng phát

sinh trong q trình vận chuyển và gia cơng sản phẩm. Nồng độ bụi đo đƣợc tại

làng đúc đồng Yên Ninh trong khoảng 2,5 – 18,3mg/m3. Nồng độ dung môi hữu cơ

cũng tƣơng đối cao tại các bộ phận sơn hoàn thiện sản phẩm, do đặc thù sản xuất tại

hộ gia đình có mặt bằng chật nên bộ phận sơn thƣờng đƣợc bố trí ngồi trời là

chính, khả năng phát tán dung môi hữu cơ ra môi trƣờng xung quanh rất lớn. Nhìn

chung, so với tiêu chuẩn vệ sinh lao động (QĐ 3733/2002/QĐ-BYT), các yếu tố ơ

nhiễm đều có giá trị thấp hơn, bằng hoặc cao h8ơn. Nhƣng đa số các cơ sở sản xuất

ở các làng nghề ở ngay trong khu vực nhà ở nên nếu so với TCVN 5937-1995 và

TCVN 5938-1995 áp dụng đối với khu dân cƣ thì lại cao hơn rất nhiều lần.

- Ơ nhiễm môi trường nước thải

Ở các làng nghề đúc đồng hiện nay đều chƣa có một hệ thống xử lý nƣớc thải

một cách có hệ thống. Nƣớc thải sinh hoạt, nƣớc mƣa khơng có rãnh thốt đều chảy

tràn ra đƣờng làng lẫn với bùn đất gây lầy lội, ô nhiễm nguồn nƣớc. Nguồn gây ô

nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng nhất tại các làng nghề này là nƣớc thải từ các công

đoạn sơn và nhuộm. Nguồn nƣớc mặt tại các làng nghề này thƣờng bị ơ nhiễm

nghiêm trọng do có hàm lƣợng BOD, cặn lơ lửng và Nitơ amơn cao.

Do tính chất sản xuất đơn lẻ từ các gia đình nên chất thải nguy hại đƣợc phát

tán rất lớn ra môi trƣờng, đặc biệt là môi trƣờng nƣớc mặt. Không những gây ô

nhiễm không khí, mà nguy hiểm hơn, nguồn nƣớc thải chƣa qua xử lý còn ngấm

xuống lòng đất gây ơ nhiễm môi trƣờng đất và suy giảm chất lƣợng nƣớc ngầm.

Nhƣ vậy, trong quá trình sản xuất, một số làng nghề có điều kiện lao động và

mơi trƣờng sống cho ngƣời dân lân cận có những biểu hiện chƣa bền vững, phần



94



nào còn ảnh hƣởng đến cuộc sống của ngƣời lao động làng nghề cũng nhƣ là ngƣời

dân sống xung quanh làng nghề.

Hoạt động bảo vệ môi trường

Các làng nghề đúc đồng ở Ý Yên hiện nay nhìn chung là chƣa chú trọng bảo

vệ môi trƣờng, thực tế cho thấy các cơ quan quản lý của địa phƣơng vẫn chƣa có

văn bản quy định một cách chặt chẽ về việc các cơ sở sản xuất làng nghề cần phải

thực hiện công tác bảo vệ môi trƣờng nhƣ thế nào. Báo cáo hiện trạng môi trƣờng

của huyện cũng chỉ tập trung phần lớn vào đánh giá môi trƣờng ở các khu cơng

nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp, còn ở các làng nghề thì chỉ lƣớt qua. Các làng nghề

nhƣ đúc đồng hiện nay có một số làng nghề do số hộ dân, cơ sở sản xuất chỉ với quy

mô nhỏ nên mức độ ô nhiễm môi trƣờng chƣa đến mức nghiêm trọng, chƣa phải là

vấn đề cấp bách. Tuy vậy, đối với những làng nghề tƣơng đối phát triển với tỷ lệ hộ

dân ở địa phƣơng khá cao thì vấn đề ơ nhiễm môi trƣờng ngày càng trở nên nghiêm

trọng, trong khi đó cơng tác bảo vệ mơi trƣờng của các cơ sở sản xuất kinh doanh

vẫn chƣa đƣợc coi trọng, một phần cũng là do thiếu vốn đầu tƣ, phần nữa là họ cũng

chƣa có đƣợc định hƣớng, hƣớng dẫn phƣơng thức bảo vệ môi trƣờng của cơ quan

quản lý nhà nƣớc, quy hoạch cụm tiểu thủ công nghiệp làng nghề chƣa có đƣợc

những hỗ trợ cụ thể…Những điều đó cũng làm cho sự phát triển của các làng nghề

còn có biểu hiện thiếu bền vững.

3.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển bền vững làng nghề tại huyện Ý n,

tỉnh Nam Định

3.3.1. Các nhân tố bên ngồi

Trong q trình cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc, Đảng và nhà nƣớc

ta đã có nhiều chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn. Đại hội Đảng lần XII

cũng đã xác định “…mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu

thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đƣa công

nghiệp sơ chế và chế biến nông thôn và vùng hàng thủ công mỹ nghệ, đƣa công

nghiệp sơ chế và chế biến về nơng thơn và vùng ngun liệu…”. Từ chính sách này

mà làng nghề có cơ hội phát triển nhanh hơn.



95



Trƣớc hết đó là Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ

tƣớng chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông

thôn; chỉ thị số 24/2005/CT-TTg của Thủ tƣớng chính phủ tiếp tục đẩy mạnh việc

thực hiện nghị quyết TW5 (Khóa X) về đẩy mạnh CNH – HĐH nơng nghiệp nơng

thơn; chƣơng trình “mỗi làng một nghề” của Bộ nông nghiệp và phát triển nông

thôn đƣợc xây dựng năm 2005 và thực hiện từ 2006 đến 2015. Tiếp theo đó là nghị

định 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn; Thông tƣ

116/2006/TT-BNN hƣớng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 66 của

chính phủ và phát triển ngành nghề nơng thơn và gần đây nhất là chỉ thị số

28/2007/CT-BNN ngày 18/4/2007 của Bộ nông nghiệp



Phát triển nông thôn về



đẩy mạnh thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề nơng thơn và phòng chống ơ

nhiễm mơi trƣờng làng nghề. Tất cả những chính sách này đều có tác động tích cực

đến các hoạt động của làng nghề nói chung và làng nghề ở Ý n nói riêng.

Từ những chủ trƣơng chính sách trên của nhà nƣớc, huyện Ý Yên cũng có

những chủ trƣơng chính sách phát triển ngành nghề nơng thơn, trong đó có hệ thống

các làng nghề. Ngồi sự quản lý và định hƣớng của sở công nghiệp về sự phát triển

của các làng nghề thì sở Nơng nghiệp và phát triển nơng thơn; phòng Nơng nghiệp

và Phát triển nơng thơn huyện có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo, đƣa ra các chính sách

phát triển ngành nghề nơng thơn.

Tỉnh Nam Định đã có chủ trƣơng khơi phục và phát triển ngành nghề, làng nghề

thủ công truyền thống và du nhập ngành nghề mới. Văn kiện Đại hội Đảng bộ Ý Yên

lần thứ XXIII đã chỉ rõ: “Phát triển mạnh tiểu thủ công nghiệp, du nhập mới ngành

nghề sản uất thủ công để từng bước phân công lại lao động ở nông thôn và tăng thu

nhập cho người lao động…Tập trung khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống

và du nhập nghề mới…”, và đƣợc cụ thể hóa mục tiêu nhiệm vụ tại nghị quyết số

06/2012/NQ-TU ngày 7/5/2012 về nhiệm vụ phát triển công nghiệp – tiểu thủ công

nghiệp và làng nghề. Đây là một chủ trƣơng đúng đắn và kịp thời của lãnh đạo tỉnh,

lãnh đạo huyện nhằm từng bƣớc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống và

du nhập nghề mới, cải thiện từng bƣớc đời sống kinh tế của nơng thơn, thay đổi bộ mặt

văn hóa – xã hội của các làng nghề, nhằm góp phần vào sự nghiệp cơng nghiệp hóa –

hiện đại hóa nơng nghiệp nông thôn và thu hút khách tham quan du lịch.



96



Quá trình đơ thị hóa và sự phát triển cơ sở hạ tầng ở Ý Yên cũng có những

tác động nhất định đến sự phát triển của các làng nghề. Trong những năm qua, do

có quy hoạch phát triển càng làng nghề thành cụm tiểu thủ cơng nghiệp làng nghề

nên có sự đầu tƣ đáng kể vào hệ thống kết cấu hạ tầng ở đây, đặc biệt là hệ thống

giao thông, điện nƣớc… đi lại rất thuận tiện. Nhờ đó mà nhịp độ phát triển cao hơn

trƣớc. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, tình trạng quy hoạch mà khơng thực

hiện tốt cũng làm cho các làng nghề chịu tác động tiêu cực, gây khó khăn cho ngƣời

dân địa phƣơng...

Bên cạnh đó, lao động nơng thơn giảm đi, do ngƣời dân nông thôn đã chú

trọng đầu tƣ cho con em học hành nên tỉ lệ đỗ đạt vào các trƣờng đại học ngày càng

cao, từ chỗ con em nông dân, họ trở thành đội ngũ công chức, hay đội ngũ làm việc

ở các cơ quan khác có cuộc sống tốt hơn, sau khi ra trƣờng có thể làm việc ở các

tỉnh nhƣng cũng có một số con em về địa phƣơng công tác. Mặt khác, một bộ phận

không nhỏ con em đã làm việc ở các khu công nghiệp phát triển ở các tỉnh phía

Nam hoặc là đi xuất khẩu lao động để tăng thu nhập. Chính vì vậy, đội ngũ lao động

nông nghiệp, nông thôn hay làm ở các ngành nghề ngày càng giảm dần qua các năm

Đvt người



Hình 3.5 Lao động làm nông nghiệp ở Ý Yên

Nguồn Chi cục thống kê Ý Yên



97



3.3.2. Nhân tố bên trong

3.3.2.1. Nguyên liệu đầu vào cho sản uất

Nguồn nguyên liệu cho sản xuất là một trong những yếu tố quan trọng quyết

định đến sự phát triển bền vững và lâu dài của các làng nghề. Nguồn nguyên liệu ở

Ý Yên chủ yếu đƣợc nhập từ ngoài tỉnh, ngoài nƣớc về theo nhu cầu của từng ngành

nghề sẽ đáp ứng để phát triển các làng nghề nhƣ sản phẩm chế biến gỗ, đúc, đúc

đồng, sơn dầu, sơn mài, may mặc…

Làng nghề đúc, đúc đồng ở Ý Yên nổi tiếng nhất là làng Tống Xá (xã Yên

Xá). Nguyên liệu chủ yếu là sắt phế liệu đƣợc thu mua ở trong và ngoài tỉnh, do tƣ

nhân đảm nhận thu mua và cung cấp cho các cơ sở sản xuất. Một số doanh nghiệp

đã thực hiện hợp đồng với khu gang thép Thái Nguyên để cung cấp nguyên liệu.

3.3.2.2. Nguồn vốn huy động đầu tư cho sản uất của làng nghề

Vốn là nhân tố quyết định đến hiệu quả trong hoạt động sản xuất của các

làng nghề, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trƣờng nhƣ hiện nay. Qua thực tế cho

thấy, hầu hết các làng nghề với các hộ sản xuất nhỏ đều kinh doanh bằng vốn tự có,

chỉ một số ít doanh nghiệp trong làng nghề thực hiện vay vốn để mở rộng sản xuất

kinh doanh.

Qua điều tra ta có:

Bảng 3.21. Vốn đầu tƣ cho các đơn vị sản xuất kinh doanh

Đvt Triệu đồng

Nội dung



Cộng



Năm

2012



2013



2014



2015



7.200



-



2.900



2.100



2.200



Vốn ngân sách TW



700



-



700



-



-



Vốn ngân sách tỉnh



3.700



-



1.500



1.000



1.200



Vốn ngân sách Huyện



2.700



-



700



1.000



1.000



Vốn tƣ nhân đ ng g p



3.40



-



40



100



200



Vốn đầu tƣ sản xuất của từng hộ



7.000



1.500



1.500



1.900



2.100



Vốn lƣu động từng hộ



15.600



2.500



3.700



4.400



5.000



Tổng cộng



30.040



4.000



8.140



8.400



9.500



Vốn đầu tƣ của nhà nƣ c



(Nguồn Phòng Cơng Thương Ý n)



98



Vốn tại làng nghề đúc đồng Ý Yên gồm 4 nguồn chủ yếu đó là:

+ Vốn đầu tƣ của nhà nƣớc.

+ Vốn do tƣ nhân đóng góp.

+ Vốn đầu tƣ sản xuất của từng hộ.

+ Vốn lƣu động từng hộ.

Từ bảng số liệu trên ta thấy nguồn vốn đầu tƣ chủ yếu cho sản xuất tại làng

nghề đó là vốn tự có của từng hộ, chiếm tỷ trọng rất lớn. Nguồn vốn đầu tƣ của nhà

nƣớc cũng nhƣ của tƣ nhân đóng góp khơng mang tính thƣờng xun. Nhƣ vốn đầu

tƣ của nhà nƣớc năm 2013 là 2.900 triệu đồng, năm 2014 giảm xuống còn 2.100

triệu đồng và năm 2015 là 2.200 triệu đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách từ trung

ƣơng chỉ có vào năm 2013. Nguồn vốn do tƣ nhân đống góp có tăng lên, năm 2013

là 40 triệu, đến năm 2014 là 100 triệu và đến năm 2015 là 200 triệu. Nguồn vốn này

tuy có tăng qua các năm nhƣng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn vốn

sản suất kinh doanh tại làng nghề.

Mặc dù đã có hệ thống tín dụng ở nơng thơn hay có các ngân hàng nhƣ: ngân

hàng nông nghiệp phát triển nông thôn cho những ngƣời nghèo. Nhƣng khả năng

tiếp cận các nguồn vốn vay từ các cơ sở tín dụng là rất hạn chế do khơng có tài sản

thế chấp, các chủ cơ sở khơng có khả năng lập đề án kinh doanh để làm thủ tục vay

vốn. Hơn nữa vì nguồn vốn cần để sản xuất là rất lớn nên suốt mấy năm qua, ngƣời

sản xuất chờ vốn và vốn chờ ngƣời sản xuất cũng đã diễn ra tại Ý Yên. Vốn để đầu

tƣ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu vẫn là vốn tự có, chủ yếu để đầu tƣ

vào tài sản lƣu động để mua nguyên vật liệu.

Để có thể hình thành một cơ sở sản xuất ngồi việc phải có lao động, những

đơi tay tinh xảo từ các nghệ nhân thì phải có vốn đầu tƣ lớn để có thể xây dựng nhà

xƣởng, nguyên vật liệu, tiền thuê lao động...nhƣng qua điều tra khảo sát tại làng

nghề, có rất nhiều hộ gặp khó khăn về vốn. Các cơ sở đã hình thành và đang hoạt

động đều có nhu cầu đầu tƣ đổi mới, đa dạng hố sản phẩm, nâng cao chất lƣợng

sản phẩm, đào tạo công nhân, nhƣng lại khơng có vốn. Đặc biệt hiện nay, để làm ra

những sản phẩm có chất lƣợng cao, thu hút ngƣời tiêu dùng cần phải có nguyên liệu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Ý Yên)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×