Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(Nguồn phòng điều tra)

(Nguồn phòng điều tra)

Tải bản đầy đủ - 0trang

82



 Khâu đánh bóng và chặt:

Những tấm hình sau khi đã đƣợc tỉa, ngƣời thợ sẽ tiến hành đánh bóng tấm

hình bằng thuốc đánh bóng. Mục đích của việc đánh bóng là làm cho sản phẩm có

màu sắc tƣơi sáng và sản phẩm trở nên nhẵn và sinh động. Sau đó ngƣời thợ sẽ



tiến hành chặt đi những phần thừa khơng cần thiết, kết quả cho ra là tấm hình

giống thực tế đƣợc làm bằng nguyên liệu là đồng.

Để cho sản phẩm trở nên sáng, bóng ngƣời thợ còn tiến hành rửa bằng

gôm và axit sunfuric. Giai đoạn này gây độc hại cho ngƣời thợ rất nhiều.

Đồng thời để sản phẩm bền đẹp, ngƣời thợ còn tiến hành phun dầu để bảo

quản sản phẩm.

chiếc búa gò, búa vã. Trung bình để tạo đƣợc một nồi nấu rƣợu 13 kg,

họ sẽ mất 1 cơng gò và vã. Trong q trình gò, vã ngƣời thợ bị ảnh hƣởng

nghiêm trọng bởi tiếng ồn và bụi kim loại.

 Quy trình ghép tam khí

Nghề ghép tam khí (tranh đồng) có cách đây khoảng 10 năm. Nghề tập

trung

3.1.4.5. Tinh trạng môi trường



Sản xuất trong làng nghề đem lại hiệu quả kinh tế cao, song mặt trái

của nó là gây ơ nhiễm mơi trƣờng . Ngun nhân do hạn chế về vốn, kỹ thuật,

thiếu quy hoạch tổng thể nên hầu hết doanh nghiệp, các hộ gia đình khi đầu tƣ

sản xuất đã không đầu tƣ xử lý chất thải, làm cho môi trƣờng trong khu vực

sản xuất của làng nghề bị ô nhiễm nặng nề. Đại bộ phận các cơ sở sản xuất

đƣợc bố trí xen kẽ khu dân cƣ, thậm chí dùng nhà ở làm nơi sản xuất. Hằng

năm làng nghề sản xuất đúc đồng đã tiêu thụ khoảng tấn than. Nhìn chung

hoạt động sản xuất của làng nghề hiện nay có ảnh hƣởng trực tiếp tới môi

trƣờng ở các mức độ khác nhau.

- Ảnh hƣởng tới môi trƣờng nƣớc:



83



Ở làng nghề hiện nay tổng lƣợng nƣớc thải khoảng 2.080 m3/năm (theo

điều tra sản xuất 1 lit tƣơng thì sẽ thải ra bên ngồi là 2 lit nƣớc). Hầu hết ở

làng nghề chƣa có hệ thống thu gom và sử lý nƣớc thải hoàn chỉnh. Những

năm gần đây, do dân số tăng các hộ gia đình mở rộng sản xuất bằng cách mở

rộng diện tích mặt bằng, cho nên ao hồ dần bị lấp đi, các thuỷ vực nƣớc bị thu

hẹp, lƣợng nƣớc thải bị đẩy ra các vùng xung quanh.

- Ảnh hƣởng tới môi trƣờng khơng khí.

Ơ nhiễm khơng khí ở làng nghề thể hiện ở các dạng ơ nhiễm bụi, mùi,

nhiệt độ.... Ơ nhiễm khơng khí do bụi, ơ nhiễm khơng khí do mùi và nhiệt độ.

Loại ô nhiễm này do nhiều nguyên nhân khác nhau, tập chung ở làng nghề

chế biến lƣơng thực thực phẩm. Khi đốt than có thể sinh ra khí SO 2 , CO,

CO 2 ... là những khí độc hại và có mùi rất khó chịu.

Ơ nhiễm về nhiệt độ thể hiện ở việc tăng nhiệt độ khơng khí. Ở làng nghề

chế biến thực phẩm ln ln có nhiệt độ cao hơn các vùng khác từ 1oC - 2oC.

3.1.5.6. Nhận ét trung theo phiếu điều tra 3 làng nghề

* Quy mô sản xuất kinh doanh hộ ba làng nghề đúc đồng

Bảng 3.15. Quy mô SXKD theo điều tra

Chỉ tiêu



Tống Xá



Vạn Điểm



Trại B



SL



CC



SL



CC



SL



CC



Gia Đinh



16



53,33



22



73,33



27



90



HTX



5



16,66



1



3,33



0



0



DN



9



30,11



7



23,44



3



10



Tổng



30



100



30



100



30



100



Nôi Dung



(Nguồn điều tra)

Qua khảo sát điều tra, hiện nay ở 3 làng nghề Tống Xá, Vạn Điểm, Trại B

đã xuất hiện khá nhiều công ty, cơ sở đúc đồng với những cái tên khá nổi danh



84



trong làng đúc đồng cả nƣớc nhƣ Công ty TNHH cơ khí đúc Thắng Lợi, Cơng ty

Tân Tiến, cơ sở đúc Vũ Duy Thuấn…. qua bản số liệu điều tra tại làng Tống Xá, có

16 mơ hình sản xuất gia đình 53,33%

5 hộ tham gia mơ hình hợp tác xã chiếm tỷ lệ 16,66%, mơ hình sản xuất

doanh nghiệp 9, chiếm tỷ lệ 30,11%. Tại làng Vạn Điểm có 22 mơ hình sản xuất gia

đình 73,33%

1 hộ tham gia mơ hình hợp tác xã chiếm tỷ lệ 3,33%, mơ hình sản xuất doanh

nghiệp7, chiếm tỷ lệ 23,44%. Tại làng Trại B có 27 mơ hình sản xuất gia đình

90,00% 0 hộ tham gia mơ hình hợp tác xã chiếm tỷ lệ 0%, mơ hình sản xuất doanh

nghiệp 3, chiếm tỷ lệ 10%.

Phƣơng thức tiêu thụ ba làng nghề đúc đồng

Bảng 3.16. Phƣơng thức tiêu thụ điều tra

Chỉ tiêu



Vạn



Tống Xá



Trại B



Điểm



Nôi Dung



SL



CC



SL



CC



Trục Tiếp



7



23,33



8



26,66



16



53,33



Trung Gian



17



56,66



19



63,33



9



30,11



Qua Mạng



6



20,11



3



10,11



5



16,11



Tổng



30



100



30



100



30



100



SL



CC



( Nguồn điều tra)

Trƣớc thực trạng này, chính quyền và ngƣời dân nơi đây đã tập trung thực thi

nhiều giải pháp để giảm bớt những ảnh hƣởng của cơ chế thị trƣờng. Các hộ sản

xuất kinh doanh tập trung vào những mặt hàng gia dụng truyền thống, làm theo đơn

đặt hàng, khi đƣợc hỏi tại làng Tống Xá, bán hàng trực tiếp 7, bán hàng trực tiếp

chiêm 23,33%, Bán qua trung gian 17 hộ chiêm 56,66%,. Qua Mạng 6 chiếm

20%11. Tại làng Vạn Điểm, bán hàng trực tiếp 8, bán hàng trực tiếp chiêm 26,66%,

Bán qua trung gian 19 hộ chiêm 63,33%,. Qua Mạng 3 chiếm 10,11. Tại làng Trại

B, bán hàng trực tiếp 16, bán hàng trực tiếp chiêm 53,33 Bán qua trung gian 9 hộ

chiêm 30,11,. Qua Mạng 5 chiếm 16,11



85



Vấn đề môi trƣờng tại ba làng nghề đúc đồng

Bảng 3.17. Thực trạng điều tra về ô nghiễm môi trƣờng

Chỉ tiêu



Vạn



Tống Xá



Trại B



Điểm



Nôi Dung



SL



CC



SL



CC



Nghiêm trọng



25



83,33



27



90,11



23



76,66



Binh Thƣờng



4



13,33



1



3,44



1



3,44



Không quan tâm



1



3,44



2



6,55



6



20,00



Tổng



30



100



30



100



30



100



SL



CC



Tình trạng ơ nhiễm mơi trƣờng tại các làng nghề ở Ý Yên thực sự đã ở mức

“báo động đỏ”. Hàng chục năm qua, đây là vấn đề nhức nhối mà kéo theo nó là

những hệ lụy ảnh hƣởng khơng chỉ đến hoạt động sản xuất mà còn gây tổn hại đến

sức khỏe ngƣời dân. Các làng nghề ở Ý Yên, đặc biệt là những làng nghề vốn “có

tai có tiếng” về ơ nhiễm đang cần có một cuộc “đại phẫu” thực sự, đồng bộ và toàn

diện để hƣớng tới việc phát triển bền vững, phát triển đi đôi với bảo vệ môi trƣờng.

theo số liệu điêu tra tại làng Tống Xá, 25 hộ sản xuất đúc đông đáng giá tác hại về ô

nghiễm môi trƣờng đến sức khỏe nghiêm trọng 83,33%, còn số hộ đánh giá binh

thƣờng là 4 chiêm 13%, số hộ không quan tâm đến vấn đề môi trƣờng 1 chiếm tỷ lê

3,44%.Làng Vạn Điểm, 27 hộ sản xuất đúc đông đáng giá tác hại về ô nghiễm môi

trƣờng đến sức khỏe nghiêm trọng 90,11%, còn số hộ đánh giá binh thƣờng là 4

chiêm 13%, số hộ không quan tâm đến vấn đề môi trƣờng 2 chiếm tỷ lê 6,55%.



86



Kh khăn chung của ba làng nghề đúc đồng

Bảng 3.18. Bảng kh khăn chung của làng nghề

Chỉ tiêu



Tống Xá



Vạn Điểm



Trại B



Nôi Dung



SL



CC



SL



CC



SL



CC



Vốn



24



80,00



23



76,66



26



86,66



Chinh Sách



0



0



1



3,44



1



3,44



Thông Tin



5



16,66



4



13,33



1



3,44



Kỹ Thuật



1



3,44



2



6,77



1



3,44



Tổng



30



100



30



100



30



100



(Nguồn số điều tra)

Thủ công mỹ nghệ đúc là một trong những nghề ra đời sớm trong bối cảnh

xã hội nông nghiệp truyền thống của huyện Ý Yên. Trải qua thời gian, các ngành

nghề thủ cơng phát triển theo quy mơ gia đình rồi dần hình thành nên những làng

nghề thủ cơng. Các làng nghề có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nơng thơn, góp phần phá vỡ thế thuần nông, mở ra khả năng phát triển sản

xuất tiểu thủ công nghiệp một cách hợp lý. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trƣờng, các

làng nghề thủ công mỹ nghệ đúc đông trên địa bàn huyện đang phải đối mặt với

những thách thức không nhỏ.Mặc dù hiệu quả của nghề đúc đồng phát triển, nhƣng

đa số ngƣời làm nghề ở đây thƣờng xuyên rơi vào tình trạng “khan” vốn. hộ chia sẻ:

“Anh em ngồi với nhau thƣờng tâm sự, vốn cho mua , nguyên liệu, vốn để nâng cấp

nhà xƣởng, máy móc, thiết bị… là rất lớn nhƣng khó tiếp cận ngân hàng để vay nên

hoạt động cũng cầm chừng”. Tại làng Tống xá 24 hơ khó khăn về vốn chiếm 80%

tỷ lệ điều tra, về những chính sách của địa phƣơng 0 chiếm tỷ lệ 0%. Thông tin 5 hô

chiếm tỷ lệ 16,66%.kỹ thuật 1 chiếm tỷ lệ 3,44%. Tại làng Vạn Điểm 23 hơ khó

khăn về vốn chiếm 76,66% tỷ lệ điều tra, về những chính sách của địa phƣơng 4 hộ

chiếm tỷ lệ 13,33%. Thông tin 5 hô chiếm tỷ lệ 16,66%.kỹ thuật 2 chiếm tỷ lệ

6,77%. Tại làng Trai B 26 hơ khó khăn về vốn chiếm 86,66% tỷ lệ điều tra, về

những chính sách của địa phƣơng 1 hộ chiếm tỷ lệ 3,44%. Thông tin 1 hô chiếm tỷ

lệ 3,66%.kỹ thuật 2 chiếm tỷ lệ 3,44%.



87



3.2. Đánh giá theo tiêu chí bền vững

3.2.1. Tiêu chí đánh giá bền vững về kinh tế

Thu nhập bình quân của lao động tại làng nghề là một tiêu chí quan trọng để

đánh giá mức độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng, của một ngành nghề.

Bảng 3.19. Thu nhập của lao động chính tại làng nghề qua các năm

(Đvt đồng/ người/ tháng)

Năm



Mức thu nhập



2011



3.400.000



2012



6.600.000



2013



4.200.000



2014



4.400.000



2015



4.800.000

(Nguồn Khảo sát thực tế tại làng nghề)



Nhìn vào bảng có thể thấy thu nhập của lao động làng nghề có tăng dần qua

các năm và nhìn chung cao hơn so với thu nhập nơng nghiệp. Nhƣng đó là mức thu

nhập của những lao động chính, thu nhập của thợ thủ phụ (học nghề) thấp hơn

nhiều, tính đến năm 2015 thu nhập bình quân của một thợ phụ (học nghề) tại làng

nghề là 4,3 triệu đồng/ tháng, tuy có cao hơn so với thu nhập nông nghiệp nhƣng lại

thấp hơn so với mặt bằng chung của lao động phổ thông hiện nay. Có thể nhận thấy

sự chênh lệch về thu nhập giữa các lao động trong làng nghề là khá cao. Tuy nhiên,

đối với những ngƣời có thu nhập thấp chủ yếu là lao động phụ (học nghề) làm

những công việc đơn giản hơn, đòi hỏi kĩ xảo ít hơn.

Năm 2011, thu nhập bình quân ở Ý Yên đạt mức hơn 12,5 triệu đồng/

ngƣời/năm, tốc độ tăng trƣởng bình quân hàng năm từ 2011 – 2015 là khoảng

11%/năm. Mức thu nhập của dân cƣ ở Ý n nhìn chung là còn thấp so với cả

nƣớc, lại là huyện có tỷ trọng lớn trong ngành nơng nghiệp nên mức sống của dân

cƣ nói chung là còn thấp. Qua so sánh mức thu nhập bình quân đầu ngƣời ở Ý Yên

so với thu nhập của ngƣời lao động trong làng nghề cho thấy làm việc ở làng nghề

sẽ tạo thu nhập cao hơn so với làm nông nghiệp. Ở làng nghề đúc, đúc đồng mức



88



thu nhập bình quân đầu ngƣời là 6 triệu đồng/ngƣời/tháng. Nhƣ vậy, qua làm việc ở

làng nghề đúc đồng thì nguồn thu nhập ổn định và có cơ hội phát triển.

Nhƣ vậy, nếu xem xét mức thu nhập tạo ra từ các làng nghề thì ngƣời dân

làm nghề có thể sống bằng nghề thay cho nghề sản xuất nông nghiệp thuần túy. Nếu

nguồn thu nhập này ổn định và đƣợc đảm bảo lâu dài thì đây chính là yếu tố đảm

bảo cho tính bền vững trong sự phát triển của làng nghề.

3.2.2. Tiêu chí đánh giá bền vững về xã hội

Giải quyết việc làm cho người lao động

Qua bảng số liệu 3.6 ta thấy, năm 2015, số hộ tham gia ở các làng nghề về

đúc, đúc đồng là 2.621 lao động.

Bảng 3.20. Số hộ và lao động trong các làng nghề đúc đồng ở Ý Yên

STT



Năm



Số hộ tham gia



Số LĐ tham gia



1



2011



211



1.652



2



2012



233



1.809



3



2013



278



2.022



4



2014



301



2.453



5



2015



348



2.621



(Nguồn Phòng Nơng nghiệp và phát triển nơng thơn Ý Yên)

Nhƣ vậy, qua làm việc ở các làng nghề, đội ngũ lao động ở nông thôn đã

nâng cao thu nhập một cách đáng kể, so với nghề làm nông thì nguồn thu nhập nhƣ

vậy đã cao hơn rất nhiều. Thu nhập của nơng dân làm nơng nghiệp trung bình 1

năm chỉ đạt khoảng 12,35 triệu đồng. Bên cạnh đó, hầu hết các làng nghề đều có

mức thu nhập bình quân đầu ngƣời cao hơn các làng quê nông nghiệp khác, tỷ lệ hộ

nghèo cũng thấp hơn. Đời sống vật chất và tinh thần đã có bƣớc cải thiện đáng kể,

đã có 87% nhà ở của dân trong làng nghề đƣợc xây dựng kiên cố, 90% số hộ có xe

máy, hầu hết các hộ có ti vi, dùng bếp ga, nhiều hộ đã mua đƣợc các phƣơng tiện và

đồ dùng sinh hoạt đắt tiền khác tủ lạnh, máy giặt, đầu máy karaoke…

Đăc biệt ở làng nghề đúc Tống Xá, Vạn Điểm A, các làng nghề ở xã Yên

Ninh, Yên Tiến ngƣời dân có mức sống khá và giàu chiếm hơn 89%, trong xã



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(Nguồn phòng điều tra)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×