Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



nhiều sản phẩm hơn vì vậy một số nghề phi nơng nghiệp đã xuất hiện, có các hộ

vừa sản xuất nơng nghiệp vừa làm nghề hoặc có hộ tách khỏi nông nghiệp để

chuyên sản xuất nghề. Dần dần, nghề phi nông nghiệp đã chiếm ƣu thế. Phần lớn

các nghề trong làng thuộc lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp. Ngày nay, do sự phát triển

của kinh tế hàng hoá đã xuất hiện nhiều ngƣời chuyên làm dịch vụ cung cấp nguyên

vật liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ, cơ sở sản xuất chun làm nghề thủ cơng,

vì vậy, nghề nghiệp đƣợc mở rộng sang cả lĩnh vực buôn bán.

Nhƣ vậy, yếu tố “nghề” trong làng nghề không nên hiểu là tất cả các nghề

tạo ra thu nhập, tạo việc làm nói chung mà “nghề” ở đây phải là những nghề phi

nơng nghiệp.

Từ cách tiếp cận trên, có thể rút ra khái niệm làng nghề nhƣ sau: Làng nghề

là những làng ở nơng thơn có các ngành nghề phi nơng nghiệp chiếm ưu thế về số

hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông

1.1.1.2. Đặc trưng của làng nghề

Nhìn chung các làng nghề truyền thống đƣợc hình thành bằng những con

đƣờng nhƣ:

- Có những nghệ nhân, vì những lý do khác nhau, đã từ nơi khác đến truyền

nghề. Những nghệ nhân này thƣờng đƣợc tôn là tổ nghề. Việc truyền nghề nhƣ vậy

thƣờng đƣợc các làng nghề ghi nhận dƣới hình thức văn tự hay truyền miệng;

- Một số làng nghề hình thành từ một số cá nhân, gia đình có những kỹ năng

và sự sáng tạo nhất định. Từ sự sáng tạo của họ, quy trình sản xuất và sản phẩm

khơng ngừng đƣợc hồn thiện, bổ sung. Qua quá trình phát triển cũng hình thành

nên làng nghề;

- Một số làng nghề hình thành do có những ngƣời đi nơi khác học nghề rồi

về dạy lại cho gia đình, dòng họ rồi mở dần ra phạm vi rộng hơn;

- Một số làng nghề mới hình thành gần đây một cách có chủ ý, do các địa

phƣơng “phát triển nghề phụ” nên cho thợ đi học nghề tại các trƣờng dạy nghề hoặc

tới các làng nghề khác học nghề rồi về dạy cho ngƣời khác;

- Hay gần đây, một số làng nghề đƣợc hình thành trên cơ sở sự lan tỏa dần từ



7



một số làng nghề truyền thống, tạo thành một số làng nghề trên một vùng lãnh thổ

thân cận.

Sức ép về mặt kinh tế nhiều khi cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự hình thành

và phát triển làng nghề. Biểu hiện rõ nhất thƣờng là sự hình thành và phát triển của

các làng nghề nơi ít ruộng đất, nghề nơng khó có điều kiện đảm bảo thu nhập và đời

sống cho dân cƣ…

Ngoài ra, một số làng nghề mới đƣợc hình thành gần đây cũng là do nhu cầu

phát triển trong tình hình mới, sự xuất hiện những nhu cầu mới ở địa phƣơng thúc

đẩy hình thành nên các làng sản xuất sản phẩm…để đáp ứng thị trƣờng…

Nhìn chung, các làng nghề có những đặc trƣng nhƣ sau:

* Làng nghề gắn liền với các làng quê sản xuất nơng nghiệp

Có cầu là có cung, từ nhu cầu xã hội mà các nghề thủ công xuất hiện đóng

vai trò là nghề phụ, việc phụ trong mỗi gia đình nơng dân và dần nhanh chóng phát

triển ở nhiều làng quê. Do đặc trƣng của sản xuất là mang tính thời vụ, lại thêm

năng suất lao động thấp nên vẫn chƣa đảm bảo đƣợc nguồn thu nhập cho cuộc sống

của ngƣời nơng dân. Chính vì thế, ngồi làm nơng, bà con nơng dân đã phải tìm

kiếm thêm nghề phụ để tăng thêm nguồn thu nhập, đảm bảo cuộc sống. Ví dụ nhƣ

ngồi làm ruộng, bà con nơng dân còn làm thêm nghề phụ nhƣ làm bún, bánh mƣớt,

nấu rƣợu...để kiếm thêm nguồn thu nhập. Ngoài ngày mùa là bận rộn ra thì đến thời

nơng nhàn, ngƣời nơng dân thiếu việc làm nên tạo nên sự dƣ thừa lao động trong

một thời gian nhất định. Hơn nữa do nhu cầu về các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp

nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng nhƣ đời sống ngày càng tăng, cùng với

nguồn nguyên liệu đầu vào hầu hết là sẵn có và dồi dào… nên đã tạo điều kiện thúc

đẩy việc hình thành và phát triển.

* Phần lớn là có truyền thống lâu đời, tồn tại lâu dài và có bản sắc văn hóa riêng.

Làng nghề ở Việt Nam chủ yếu là làng nghề truyền thống, hầu hết là có truyền

thống lâu đời. Từ đời xa xƣa đã hình thành các làng nghề với quy mô nhỏ bé và nhu

cầu lao động còn rất ít. Sản phẩm từ làng nghề chủ yếu phục vụ cho công việc hiện

tại. Trƣớc tiên là phát triển nghề rèn đúc, luyện kim do phải sản xuất các công cụ lao



8



động phục vụ chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, những công cụ này ra đời

(cày, cuốc, dao…)đã mang lại cho ngƣời nông dân những hiệu quả cao hơn những

loại công cụ trƣớc (chủ yếu bằng đá, tre, gỗ thô sơ), và sau này những công cụ đƣợc

sản xuất ra làm vũ khí dùng để phục vụ cho chiến tranh nên việc rèn, đúc các vũ khí

bằng đồng, sắt là rất cần thiết. Và cứ thế cho đến ngày nay, những làng nghề truyền

thống nhƣ thế vẫn tồn tại và ngày càng đa dạng sản phẩm phục vụ cho đời sống và

sản xuất. Sản phẩm từ mỗi làng nghề sẽ gắn liền với địa danh làm ra nó, ví dụ nhƣ

làng tranh Đông Hồ, làng gốm Bát Tràng, làng điêu khắc đá Ngũ Hành Sơn, làng

mộc La Xuyên, làng đúc Tống Xá, làng đúc đồng Vạn Điểm A… đó chính là đặc

điểm rõ rét để phân biệt sự riêng có trong sản phẩm của làng nghề.

Đặc điểm của các sản phẩm từ làng nghề là mang đậm dấu ấn của ngƣời sản

xuất ra nó, vì vậy các sản phẩm này ln mang tính khác biệt, phong cách riêng của

mỗi nghệ nhân và mang đậm nét văn hóa của địa phƣơng, tồn tại giao lƣu với cộng

đồng. Hàng mây tre đan, kim hoàn, đồ chơi, hàng chạm trổ với từng chất liệu khác

nhau (gỗ, đá, đồng, sừng, xƣơng…) hay hàng sơn (sơn quang, sơn then, sơn mài),

hàng thêu dệt (lụa, chiếu, thảm…) thì mỗi làng nghề đều có phong cách riêng và

đặc trƣng riêng có. Qua thử thách thời gian, giao lƣu, những nét riêng đó đƣợc chọn

lọc và thừa nhận để tồn tại và ngày càng phát triển, cộng với sự sáng tạo của mỗi

nghệ nhân mà sản phẩm ngày càng hoàn thiện, tạo nên sự riêng biệt độc đáo, và

ngày càng thể hiện đƣợc bản sắc dân tộc Việt Nam.

* Làng nghề chủ yếu sản xuất thủ công

Từ xa xƣa, khi kỹ thuật cơng nghệ còn thơ sơ, lạc hậu thì hầu hết các cơng

đoạn trong quy trình sản xuất đều do lao động thủ công thực hiện. Mỗi ngƣời thợ

thủ cơng sẽ đƣợc định đoạt lấy tồn bộ cơng việc kể cả việc cung ứng nguồn

nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Cơng việc có thể tiến hành độc lập hay

cùng với các thành viên trong hộ gia đình, dòng họ hoặc cùng với những đối tƣợng

học việc. Công việc này đã thể hiện một tay nghề nhất định, tài khéo léo riêng biệt,

độc đáo, kết hợp với đầu óc sáng tạo và nghệ thuật thơng qua lao động bằng tay

hoặc bằng máy móc cơng cụ cơ khí, nửa cơ khí.



9



Ngày nay, khoa học cơng nghệ phát triển, việc ứng dụng khoa học vào sản

xuất sản phẩm cũng đã đƣợc một số làng nghề thực hiện kết hợp, tuy nhiên cơng

việc chính của làng nghề chủ yếu vẫn còn là thủ cơng, vì sản phẩm từ làng nghề hầu

hết là phải có dấu ấn của bàn tay lao động của ngƣời nghệ nhân…

1.1.2. Quan niệm về phát triển bền vững làng nghề truyền thống

1.1.2.1. Khái niệm

Phát triển bền vững là quy luật của cuộc sống, là quy luật tất yếu của tiến hóa

đã và đang diễn ra trên khắp hành tinh từ khi nó đƣợc hình thành. Nhƣng phát triển

nhƣ thế nào là vấn đề chúng ta cần quan tâm. Xuất phát từ những yêu cầu của thực

tế khái niệm phát triển bền vững đƣợc hình thành. Vậy phát triển bền vững là gì

Phát triển bền vững là một thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trên tồn thế

giới, mặc dù quan niệm này còn tƣơng đối mới mẻ và chƣa có sự thống nhất trong

cách diễn giải. Do tầm quan trọng của mình, khái niệm phát triển bền vững vân

đang đƣợc xây dựng và định nghĩa về thuật ngữ này liên tục đƣợc sửa đổi, mở rộng

và sàng lọc.

Xuất phát từ góc độ bảo vệ mơi trƣờng, cũng là bảo vệ sự sống, vấn đề phát

triển bền vững đƣợc đề cập lần đầu tiên vào năm 1987 trong Báo cáo của Ủy ban

thế giới về Môi trƣờng và Phát triển của Liên Hợp Quốc năm 1987: Phát triển bền

vững là “sự phát triển có thể đáp ứng đƣợc các nhu cầu hiện tại mà không gây hại

tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tƣơng lai”. Định nghĩa này đƣợc sử dụng

phổ biến nhất tại hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Hiên nay, quan niệm về phát triển bền vững đƣợc hiêu là quá trình đảm bảo

thực hiện đồng thời 3 lĩnh vực quan trọng và có mối quan hệ qua lại nhau: Kinh tế –

Xã hội – Môi trƣờng.

Theo một định nghĩa mang tính thực tiễn hơn (định hƣớng thực tiễn), thì phát

triển bền vững là “một quá trình quản lý danh mục tài sản để duy trì và cải thiện các

cơ hội mà con ngƣời gặp đƣợc”. Phát triển bền vững bao gồm tính bền vững về kinh

tế, mơi trƣờng và xã hội, có thể đạt đƣợc bằng cách quản lý một cách hợp lý các

vốn vật chất, tự nhiên và con ngƣời.



10



Ở Việt Nam, phát triển bền vững đƣợc hiểu một cách toàn diện: “Phát triển

bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển

kinh tế với thực hiện tiến bộ và cơng bằng xã hơi, gìn giữ và cải thiện mơi trƣờng,

giữ vững ổn định chính trị – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh”. Nhƣ vậy, phát

triển bền vững là sự phát triển trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ thực hiện 4 nhóm

mục tiêu lớn: Kinh tế, xã hội, mơi trƣờng, An ninh – quốc phòng. Nếu khơng tính

đến nhóm mục tiêu an ninh quốc gia thì mối quan hệ qua lại giữa 3 nhóm mục tiêu

lớn của phát triển bền vững có thể đƣợc mơ tả nhƣ sau:



H nh 1.1 Mối quan hệ giữa các nh m mục tiêu phát triển bền vững

Phát triển bền vững bao gồm các nội dung sau:

ền vững về mặt kinh tế Đòi hỏi nền kinh tế phải tăng trƣởng GDP và GNI

bình quân đầu ngƣời cao, cơ cấu kinh tế hợp lý, đảm bảo cho tăng trƣởng ổn định,

lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chí phấn đấu cho tăng trƣởng.

ền vững về



hội Phát triển phải mang tinh nhân văn, q trình đó bao



gồm việc mở rộng cơ hội lựa chọn cho mọi ngƣời; nâng cao năng lực lựa chọn cho

mọi ngƣời; mọi ngƣời cùng tham gia vào quá trình phát triển và mọi ngƣời cùng

đƣợc hƣởng lợi từ quá trình phát triển này.

ền vững về môi trường Đối với từng cá nhân cũng nhƣ cả lồi ngƣời, mơi

trƣờng có 3 chức năng là: khơng gian sinh tồn của con ngƣời; là nơi cung cấp tài



11



nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con ngƣời; là nơi chứa

đựng, xử lý, tái chế phế thải của con ngƣời. Vì thế mơi trƣờng bền vững là môi

trƣờng luôn luôn thay đổi nhƣng đảm bảo thực hiện cả 3 chức năng nói trên. Xã hội

phát triển bền vững là xã hội mà con nguời có cuộc sống chất lƣợng cao trên nền

tảng sinh thái bền vững.

Phát triển bền vững đƣợc hiểu là một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu

của thế hệ hiện tại mà không xâm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế

hệ tƣơng lai. Phát triển bền vững đƣợc cấu tạo bởi 3 nhân tố là bền vững về kinh tế,

bền vững về xã hội và bền vững về môi trƣờng.

Xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững nhƣ thế mà có thể đƣa ra khái

niệm phát triển bền vững làng nghề. Khái niệm này đƣợc đặt ra trong khuôn khổ

quan niệm về phát triển bền vững của đất nƣớc và mang yếu tố đặc thù của các làng

nghề. Theo đó “Phát triển bền vững làng nghề là việc bảo đảm sự tăng trƣởng kinh

tế ổn định, có hiệu quả cao trong các làng nghề, gắn liền với việc khai thác hợp lý,

bảo vệ và nâng cao chất lƣợng môi trƣờng sống cũng nhƣ là đảm bảo những đòi hỏi

về ổn định, nâng cao đời sống, trật tự an tồn xã hội ở địa bàn có làng nghề”

Để đảm bảo việc phát triển bền vững làng nghề phải đảm bảo việc duy trì

tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ

trong bản thân các làng nghề, đó là:

- Đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động của làng nghề để đảm bảo tái

sản xuất: quy mô, tốc độ gia tăng giá trị sản lƣợng, trình độ cơng nghệ, giải quyết

đƣợc lao động việc làm, thay đổi thu nhập bình quân đầu ngƣời, phát triển hoạt

động sản xuất theo hƣớng tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu…

- Duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của các làng nghề. Khả năng cạnh

tranh nói lên tính chất vƣợt trội trong quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh

khác có cùng tiêu chí so sánh nhƣ mơi trƣờng pháp lý và hành chính, cơ sở hạ tầng,

trình độ công nghệ sản xuất, thị trƣờng, nguồn nhân lực, đặc điểm sản phẩm

- Đảm bảo chất lƣợng môi trƣờng trong nội bộ làng nghề, không ảnh hƣởng

lớn đến môi trƣờng. Để có thể duy trì tính bền vững trong các làng nghề thì phải



12



ln đặt sự phát triển của làng nghề với q trình phát triển kinh tế nói chung và

phát triển các làng nghề trong khu vực.

1.1.2.2. Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững làng nghề

Sự phát triển bền vững của làng nghề đƣợc xem xét trên 3 khía cạnh, đó là sự

bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trƣờng. Trong đó nội

dung của từng khía cạnh qua mỗi tiêu chí sẽ đƣợc làm rõ.

Tiêu chí đánh giá bền vững về kinh tế

Có thể đánh giá sự bền vững về kinh tế thơng qua các tiêu chí nhƣ: hiệu quả

sản xuất kinh doanh, nguồn lực đầu vào cho quá trình sản xuất, thị trƣờng đầu ra

của sản phẩm, thu nhập từ làng nghề.

* Tăng trưởng sản lượng của các làng nghề

Muốn đánh giá đƣợc các làng nghề phát triển có bền vững hay khơng thì

trƣớc hết phải xét xem trong quá trình phát triển, các làng nghề đạt đƣợc mức tăng

trƣởng cao hay thấp, có đạt đƣợc chỉ tiêu đề ra hay không hay trong hoạt động sản

xuất kinh doanh của mình đạt đƣợc mức lợi nhuận là bao nhiêu. Đó chính là sự tăng

lên khơng ngừng qua các năm về số lƣợng sản phẩm của mỗi làng nghề. Có nhƣ vậy

mới thể hiện đƣợc rằng số lƣợng sản phẩm từ làng nghề vẫn đang đƣợc duy trì và

phát triển.

* Chất lượng sản phẩm

Chất lƣợng sản phẩm là một nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến sự phát triển

bền vững của làng nghề nhất là trong giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng, suy thoái

trên thế giới nhƣ hiện nay. Sản phẩm từ làng nghề hầu hết đều là những sản phẩm

thủ công, tiểu thủ công nghiệp, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ…đều cần phải đảm

bảo chất lƣợng cao nếu khơng sẽ khó thu hút đƣợc khách hàng. Nhất là các sản

phẩm thủ cơng mỹ nghệ thì vấn đề chất lƣợng sản phẩm cũng cần phải ngày càng

đƣợc nâng cao, có nhƣ vậy mới đảm bảo đƣợc sự phát triển bền vững cho làng

nghề.

Chất lƣợng sản phẩm là yếu tố quan trọng để có thể tạo điều kiện cho sản

phẩm làng nghề có thể đứng vững trên thị trƣờng và có khả năng cạnh tranh cao



13



ngay ở những thị trƣờng khó tính nhất, nhất là đối với các sản phẩm sản xuất phục

vụ xuất khẩu, vì khách hàng nƣớc ngồi ln là những đối tƣợng kỹ tính, đòi hỏi

phải đảm bảo chất lƣợng. Nếu các làng nghề cứ sản xuất ồ ạt, chỉ chú trọng đến quy

mô mà không quan tâm đầu tƣ cho chất lƣợng sản phẩm thì sớm hay muộn cũng sẽ

bị loại dần ra khỏi thị trƣờng. Vì vậy khơng ngừng nâng cao chất lƣợng sản phẩm

cũng chính là một nhân tố đảm bảo cho các làng nghề phát triển một cách bền vững.

* Thị trường đầu ra của sản phẩm

Thị trƣờng đầu ra của sản phẩm phản ánh sản phẩm có giá trị sử dụng và có

chất lƣợng đáp ứng nhu cầu thị trƣờng. Mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh khi tham

gia vào thị trƣờng thì đều mong muốn có một chỗ đứng nhất định, đóng góp một thị

phần nhất định trên thị trƣờng cho dù quy mơ của nó nhỏ hay lớn. Nếu nhanh chóng

theo kịp với những sự thay đổi nhu cầu của thị trƣờng thì mỗi làng nghề sẽ có sự

phát triển mạnh mẽ hơn. Điển hình nhƣ các làng nghề sản xuất đồ gỗ gia đình, vật

liệu xây dựng, gốm sứ, đá mỹ nghệ… thì sẽ chịu ảnh hƣởng nhiều của yếu tốt này.

Ngƣợc lại, nếu các làng nghề khơng thích ứng đƣợc với sự thay đổi về nhu cầu thị

trƣờng mà vẫn cứ cố bám lấy kiểu làm ăn cũ thì sản xuất tất yếu sẽ bị giảm sút, có

khi lại khơng thể duy trì đƣợc sự tồn tại của nghề. Ví dụ nhƣ các nghề thuộc về đan

lát: đan nón, đan mành cọ, đan quạt, đan rổ rá…

Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng nhƣ hiện nay thì các làng nghề phải tự

tìm kiếm thị trƣờng đầu ra cho sản phẩm của mình. Có mở rộng đƣợc thị trƣờng tiêu

thụ sản phẩm thì các làng nghề mới có thể mở rộng quy mơ sản xuất và duy trì sản

xuất trong lâu dài đƣợc.

Nhƣ vậy, ta có thể thấy đƣợc rằng, để có thể tồn tại và phát triển thì mỗi làng

nghề phải tự xây dựng cho mình thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm đầu ra ổn định, có khả

năng thì phải khơng ngừng tìm kiếm thị trƣờng trong nƣớc lẫn thị trƣờng nƣớc

ngồi. Có làm vậy thì sự phát triển của làng nghề mới đảm bảo đƣợc tính bền vững.

* Năng suất lao động, thu nhập từ làng nghề.

Năng suất lao động, nguồn thu nhập từ làng nghề cũng là một yếu tố tạo nên

sự bền vững về kinh tế. Năng suất lao động chính là thu nhập trên một đơn vị lao



14



động hay thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Nguồn thu nhập

thể hiện ở khả năng đóng góp của làng nghề vào giá trị sản xuất của địa phƣơng

cũng nhƣ là nguồn thu nhập cho lao động trong làng nghề. Nếu hoạt động sản xuất

của làng nghề không đảm bảo đƣợc nguồn thu nhập thì khơng thể nói là có sự phát

triển bền vững đƣợc.

* Sự đóng góp của làng nghề vào giá trị sản uất của địa phương

Giá trị sản xuất là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đƣợc tính đến đối với các sản

phẩm vật chất và dịch vụ đƣợc tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, 1 địa

phƣơng, và cũng có thể tính theo ngành trong một thời kỳ nhất định, thƣờng là một năm.

Chúng ta phải xem xét đến vai trò kinh tế của các làng nghề trong quá trình

phát triển của mỗi địa phƣơng khi xem xét tính bền vững về kinh tế của các làng

nghề, điều đó thể hiện thông qua việc so sánh giá trị sản xuất của làng nghề với giá

trị sản xuất nông nghiệp đƣợc tạo ra ở địa phƣơng có làng nghề. Sự so sánh đó có

thể cho ta thấy đƣợc vai trò và vị trí của làng nghề đó so với sản xuất nơng nghiệp

thuần túy. Ngồi ra, thơng qua đó chúng ta cũng có thể so sánh giá trị gia tăng đƣợc

tạo ra từ làng nghề so với tổng giá trị gia tăng đƣợc tạo ra trong ngành nông nghiệp.

* Thu nhập của lao động làng nghề

Thu nhập của lao động làm việc trong làng nghề cũng là một chỉ tiêu quan

trọng để ngƣời lao động xác định lựa chọn nghề và sống nhờ vào nghề đó. Nếu mức

thu nhập bình quân của ngƣời lao động đủ đảm bảo trang trải cho những nhu cầu cơ

bản trong cuộc sống của ngƣời lao động cũng nhƣ gia đình họ, đồng thời mức thu

nhập đó nếu cao hơn mức thu nhập từ sản xuất nơng nghiệp thì ngƣời lao động sẽ

chọn làm việc ở làng nghề và gắn bó hơn với nghề đó. Mặt khác, ngồi làm cơng

việc ở làng nghề, ngƣời lao động cũng có thể thực hiện đan xen với làm nơng

nghiệp, bởi vì làm nơng nghiệp mang tính thời vụ cao, hết mùa vụ thì sẽ là thời kỳ

nơng nhàn nên có thể trong thời kỳ mùa vụ, ngƣời lao động có thể tạm gác việc làm

ở làng nghề để có thể thực hiện thu hoạch hay cấy hái. Nhƣ vậy, qua đó cũng sẽ có

đƣợc mức thu nhập cao hơn và cuộc sống của họ sẽ đƣợc đảm bảo, thỏa mãn nhu

cầu tốt hơn trƣớc.



15



Tiêu chí đánh giá bền vững về xã hội

Để đánh giá tính bền vững về xã hội thể hiện thông qua các chỉ tiêu nhƣ: giải

quyết việc làm, giảm bớt thời gian nhàn rỗi ở nông thôn; tăng thu nhập cho ngƣời

dân, giảm khoảng cách giữa thành thị và nơng thơn, xóa đói giảm nghèo.

* Giải quyết việc làm và giảm tình trạng thiếu việc làm ở nơng thơn.

Tiêu chí quan trọng đầu tiên biểu hiện sự phát triển của làng nghề có đảm

bảo đƣợc tính bền vững hay khơng chính là khả năng giải quyết việc làm của làng

nghề, trƣớc hết là giải quyết việc làm cho đội ngũ lao động trong làng. Chúng ta

thấy đƣợc rằng làm nông nghiệp luôn là một nghề vất vả, nhiều khó khăn gian khổ

trong khi nguồn thu nhập lại thấp và bấp bênh do đặc trƣng của nghề làm nông

nghiệp là phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, thời tiết, khí hậu. Bên cạnh đó, ngành

nơng nghiệp còn có đặc trƣng là mang tính thời vụ cao, vì thế có những khi ngƣời

nơng dân làm việc mệt nhọc từ sáng đến tối quần quật cho kịp mùa vụ, nhất là vào

mùa hè thu, ngồi thu hoạch ra còn có vụ gieo cấy…nhƣng lại có những khi nơng

nhàn, hầu nhƣ khơng có nhiều việc làm. Chính vì vậy, việc phát triển làng nghề sẽ

góp phần giải quyết đƣợc thời gian nơng nhàn đó cho đội ngũ lao động.

Ngồi ra, hiện nay một số địa phƣơng diện tích đất nơng nghiệp ngày càng bị

thu hẹp, các làng quê phải tìm kiếm nghề mới để có thể qua đó tăng thêm thu nhập

cho bản thân và gia đình. Do đó, các làng nghề mới đƣợc hình thành và phát triển,

ngƣời dân ở đó tập trung vào sản xuất kinh doanh các sản phẩm từ làng nghề để cải

thiện đời sống.

* Giảm khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn

Vấn đề giảm bớt chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn luôn

đƣợc xã hội quan tâm. Thông qua việc xem xét mức thu nhập bình quân đầu ngƣời

từ làng nghề có thể so sánh với mức thu nhập ở thành thị, từ đó có thể đánh giá

đƣợc khoảng cách thu nhập giữa thành thị và khu vực nông thôn. Do hầu hết làng

nghề ở Việt Nam đều nằm ở nông thôn, mặt khác ở nông thôn nếu làm ở làng nghề

thì thơng thƣờng sẽ có nguồn thu nhập bình qn cao hơn so với sản xuất nơng

nghiệp thuần túy. Chính vì vậy mà thơng qua phát triển làng nghề cũng có thể góp



16



phần xóa đói giảm nghèo, làm giảm khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nơng

thơn, từ đó định ra những phƣơng hƣớng phát triển phù hợp với hoàn cảnh phát

triển của địa phƣơng.

* Phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của địa phương

Phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của địa phƣơng là yếu tố quan trọng.

Ngoài việc ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh nó còn ảnh hƣởng đến

tiêu dùng và đời sống của dân cƣ ở nông thôn. Do đó nhân tố này vừa tác động tích

cực lại vừa tác động tiêu cực đến sự phát triển làng nghề.

Về mặt tích cực, yếu tố truyền thống sẽ có tác dụng góp phần bảo tồn những

nét đặc trƣng văn hóa riêng có của làng nghề, của dân tộc, làm cho sản phẩm của

làng nghề có tính độc đáo và giá trị cao hơn. Đó là đối với các làng nghề truyền

thống, bởi vì ở những làng nghề này bao giờ cũng có những ngƣời thợ có trình độ

tay nghề cao, có trình độ kinh nghiệm sản xuất, có tâm huyết với nghề, và họ cũng

chính là ngƣời gánh trách nhiệm duy trì, phát triển những bí quyết riêng của làng

nghề, và cứ thế, các bí quyết riêng đó sẽ đƣợc truyền từ đời này qua đời khác, qua

các thế hệ. Họ chính là cơ sở cho sự tồn tại, phát triển bền vững làng nghề trƣớc

mọi biến cố và duy trì những nét độc đáo truyền thống của làng nghề.

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trƣờng thì ngồi việc truyền kinh nghiệm từ

thế hệ này qua thế hệ khác cũng cần phải biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản

xuất, đó là những cơng nghệ hiện đại. Khi đó lại cần phải có đội ngũ những ngƣời

năng động, sáng tạo để có thể đƣa hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển mạnh

mẽ đƣợc. Trong điều kiện đó, một số yếu tố truyền thống, phong tục tập quán lại

cản trở sự phát triển của làng nghề theo hƣớng hiện đại. Bên cạnh đó, còn có những

quy định, quy tắc khắt khe, hạn chế trong nghề, tục lệ làng quê đã trở thành rào cản

đến việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề.

Chính vì vậy, sự phát triển bền vững của làng nghề ngồi việc tạo điều kiện

để giữ gìn bản sắc văn hóa của địa phƣơng, tơn vinh giá trị truyền thống trong

phong tục tập qn thì nó cũng cần phải đƣợc chú ý thay đổi linh hoạt đối với sự

phát triển làng nghề nếu điều đó là cần thiết. Ví dụ nhƣ nếu những hoạt động có thể



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×