Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khả năng nội tại của doanh nghiệp được thể hiện trên các khía cạnh điều tra, xét theo định lượng, qua bảng 3.16 cho thấy:

Khả năng nội tại của doanh nghiệp được thể hiện trên các khía cạnh điều tra, xét theo định lượng, qua bảng 3.16 cho thấy:

Tải bản đầy đủ - 0trang

91



Có tới 85,87% số ý kiến cho rằng do khả năng tài chính của doanh

nghiệp, trong đó nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên môn đánh giá cao

nhất 92,5%, thấp nhất là khối công nhân viên trong doanh nghiệp.

Do trình độ tổ chức quản lí, đánh giá chung là 83,83%, trong đó khối

thợ lành nghề trong các làng nghề đánh giá là 72,9%, công nhân viên trong

doanh nghiệp là 83,4% và nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý đánh giá tầm quan

trong là 95,2%. Do tác động của q trình xúc tiến bán hàng, khối cơng nhân

viên trong doanh nghiệp đánh giá mức độ quan trong là 88,2%, khối cán bộ

lãnh đạo quản lý là 90,7% và nhóm thợ lành nghề trong các lang nghề đánh

giá là 85,1%.

Tính chung, do tác động của thông tin thị trƣờng là 94,1%, do vị thế và

uy tín của doanh nghiệp trên thƣơng trƣờng là 79,6%, do trình độ tay nghề

của cơng nhân là 92,12%, do trình độ marketing là 81,5%.

Bảng 3.17. Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến khả năng

xuất khẩu hàng TCMN

Ý kiến của các đối tƣợng điều tra

Nội dung



Tính



CB LĐ,



CNV



Thợ LN



QL, CM



DN



trong LN



1. Do khả năng tài chính của DN



RQT



KQT



QT



QT



2. Do trình độ tổ chức quản lý



RQT



QT



KQT



QT



3. Do tác động của quá trình XTBH



RQT



QT



QT



QT



4. Do tác động của thông tin thị trƣờng



RQT



RQT



RQT



RQT



5. Do vị thế và uy tín của DN



QT



KQT



QT



QT



6. Trình độ kỹ thuật và CNSX



QT



QT



QT



QT



7. Trình độ tay nghề của cơng nhân



QT



RQT



RQT



RQT



8. Trình độ marketing



QT



QT



QT



QT



chung



(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra, năm 2016)



92



Nếu xét theo mức độ, qua bảng 3.17 thì từ 90% trở lên đánh giá là rất

quan trọng (RQT); từ 80% trở lên đến dƣới 90% là quan trọng (QT) và dƣới

80% là không quan trọng (KQT), thì mức độ ảnh rất quan trọng là do thông

tin thị trƣờng và tay nghề của ngƣời công nhân, còn lại là quan trọng.

3.3.3.2. Chất lượng sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ

Đặc điểm cơ bản của sản phẩm thủ công mỹ nghệ là để phục vụ cho

nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của ngƣời dân ở nƣớc nhập khẩu. Vì vậy tiêu

chuẩn chất lƣợng thƣờng rất chặt chẽ, các sản phẩm chỉ đƣợc phép nhập khẩu

khi đã xác định là đủ tiêu chuẩn chất lƣợng.

Thị trƣờng Châu Âu và Bắc Mỹ hiện nay vẫn là hai thị trƣờng nhập

khẩu hàng thủ công mỹ nghệ lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai thị

trƣơng này đang ngày càng thắt chắt hơn nữa các qui định về tiêu chuẩn nhập

đối với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ đến từ các nƣớc đang phát triển nhƣ

Việt Nam. Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến một

số lƣu ý trong sử dụng các loại hoá chất cho mặt hàng mây tre đan xuất khẩu

vào thị trƣờng Châu Âu và Bắc Mỹ.

Các sản phẩm có sử dụng các koại keo ép thơng thƣờng đều phải xuất

trình các chứng nhận về thử test Formadehyle. Loại Test này có thể đƣợc thực

hiện tại nhiều phòng Test nhƣng phổ biến nhất là phòng Test của Intertek tại

Thƣợng Hải - Trung Quốc. Chi phí cho 1 lần Test khoảng 130 USD

Các sản phẩm có tính chất tiếp xúc với thực phẩm nhƣ các loại bát tre,

thìa tre, đũa, thớt đều phải đƣợc Test "Food Contact Test" theo tiêu chuẩn

LMBG của Đức.

Các sản phẩm xuất vào thị trƣờng Mỹ đều phải có chứng nhận về Test

chất lƣợng "Quality Test" trong đó sẽ bao gồm cả phần Test chì. Phòng Test

đƣợc gợi ý là Bureau Veritas tại T.P Hồ Chí với chi phí thơng thƣờng là 60

USD/sản phẩm, tuỳ theo mức độ to nhỏ của sản phẩm.



93



Các sản phẩm có các yêu cầu đặc biệt nhƣ Test về kim loại nặng

"Heavy Metal Test" hoặc TVOC Test (Test các loại mùi sẽ bay hơi và ngƣng

tụ lại trong môi trƣờng đặc biệt), các yêu cầu khác giành cho Test hàng cho

trẻ em sẽ đƣợc thực hiện duy nhất tại phòng Test WKI của Đức nhƣng chi phí

khá cao, khoảng 1100 Euro/sản phẩm [25].

Bảng 3.18. Ảnh hƣởng của chất lƣợng hàng hóa đến

giá cả sản phẩm

Phân loại SP

Nội dung

Mây tre

Mây song

Mây SG

Loại A

Loại B



Thử Test



100,0



100,0



100,0



Không thử Test



75,0



75,0



75,0



Thử Test



80,0



80,0



80,0



Không thử Test



65,0



65,0



65,0



(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra, năm 2016.)

Qua bảng 3.18 cho thấy, nếu sản phẩm đạt loại B chỉ bẳng 80% giá trị

loại A. Trƣờng hợp không thử Test, sảm phẩm loại A chỉ còn 75% giá bán,

loại B chỉ còn 65% giá bán. Nhƣ vậy, việc nâng cao chất lƣợng sản phẩm là

rất cần thiết, nó tác động đến giá trị kim ngạch xuất khẩu.

3.3.3.3. Hệ thống kênh phân phối và hoạt động xúc tiến thương mại

Mạng lƣới kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ của huyện đa số nhỏ lẻ,

nhiều cơ sở khơng có điều kiện tham gia xuất khẩu trực tiếp, hạ tầng kỹ thuật

sơ sài, hàng bán thƣờng đƣợc ký gửi tại các đại lý của các nƣớc khác. Xuất

phát từ cơ sở sản xuất hàng TCMN của huyện còn nhỏ lẻ, manh mún nên hệ

thống phân phối cũng chƣa đƣợc chú ý. Điều này làm cho khách hàng khó tiếp

cận đƣợc với sản phẩm TCMN của huyện và làm cho năng lực xuất khẩu sản

phẩm TCMN của huyện bị giảm.

Hoạt động xúc tiến thƣơng mại, quảng bá và giới thiệu sản phẩm cũng

nhƣ việc thâm nhập, tiếp cận và củng cố thị trƣờng xuất khẩu hàng thủ công mỹ

nghệ của Chƣơng Mỹ hiện đƣợc đánh giá là một trong những khâu yếu trong

marketing của doanh nghiệp và làng nghề thủ công mỹ nghệ ở Chƣơng Mỹ.



94



Bảng 3.19. Ảnh hƣởng của kênh phân phối đến doanh thu

bán hàng của doanh nghiệp

Đơn



Đối



Kênh phân phối



vị



tƣơng



Bán trực tiếp cho ngƣời tiêu dùng (NTD) 100%

DN



Bán gián tiếp qua cửa hàng 95%

Bán



gián



tiếp



qua đại lý 90%



Đại





CH bán cho NTD 5%



Đại lý bán cho NTD 10%

Bán cho CH 5%



NTD



CH bán cho NTD 5%



(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra, năm 2016)



Qua bảng 3.19 cho thấy, doanh nghiệp bán hàng qua đại lý phải mất triết

khấu bán hàng là 10%, bán trực tiếp qua các cửa hàng bán lẻ triết khấu bán hàng

là 5%. Các doanh nghiệp xuất khẩu chủ yếu là qua các đại lý là chủ yếu (trên

95% sản phẩm xuất khẩu), phần còn lại chủ yếu bán tại chỗ cho khách du lịch

nƣớc ngoài đến thăm làng nghề truyền thống và khách nội địa.

Ngoài ra, việc đăng ký thƣơng hiệu, xúc tiến bảo hộ tên, xuất xứ hàng

hóa mới thực hiện ở một số rất ít sản phẩm, ngay cả những sản phẩm có đăng

ký thƣơng hiệu do không quản lý đƣợc nên nhiều cơ sở sản xuất khác đã lợi

dụng nhãn hiệu của cơ sở đã đăng ký để sản xuất ra sản phẩm không đảm bảo

chất lƣợng, làm ảnh hƣởng tới uy tín thƣơng hiệu.

3.3.3.4. Thị trường và rào cản trong thương mại quốc tế

Thị trƣờng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là một thị trƣờng không

lớn nhƣng rất khắt khe về chất lƣợng và tiến độ giao hàng. Hiện nay, nhiều

nƣớc trên thế giới đang trong giai đoạn suy thoái, nền kinh tế gặp nhiều khó

khăn dẫn đến kim ngạch nhập khẩu hàng TCMN của huyện chỉ tăng nhẹ,

lƣợng hàng xuất khẩu vào một số thị trƣờng bị giảm đáng kể. Đặc biệt là kinh

tế các nƣớc EU đang trong giai đoạn khủng hoảng, rất nhiều nƣớc phải thực

hiện thắt chặt chi tiêu, mức sống dân cƣ các nƣớc này bị giảm, thất nghiệp gia

tăng. Do đó nhu cầu sử dụng các sản phẩm TCMN đặc biệt là các sản phẩm



95



tinh xảo, có giá trị cao bị giảm dẫn đến kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN của

huyện gặp nhiều khó khăn.

3.4. Những tồn tại, hạn chế trong công tác xuất khẩu hàng TCMN trên địa

bàn huyện Chƣơng Mỹ giai đoạn 2013- 2015



3.4.1. Những hạn chế trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ trong thời gian qua và

hiện nay còn gặp khơng ít khó khăn, chủ yếu là:

- Mặc dù sản xuất kinh doanh hàng thủ cơng mỹ nghệ khơng đòi hỏi

đầu tƣ vốn lớn nhƣ đã nêu ở trên, nhƣng các đơn vị sản xuất kinh doanh trong

lĩnh vực này phần lớn là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí chỉ là các hộ

gia đình sản xuất theo đơn đặt hàng của các Doanh nghiệp, nên rất khó tiếp

cận các nguồn vốn tín dụng của các Ngân hàng , nhất là vốn tín dụng theo

chính sách ƣu đãi của Nhà nƣớc, kể cả vốn đầu tƣ cho sản xuất và vốn mua

nguyên vật liệu, thu gom hàng hoá trong sản xuất, kinh doanh. Hàng rào về

thủ tục vay vốn và yêu cầu về tài sản thế chấp của các Ngân hàng và tổ chức

tín dụng, các đơn vị sản xuất kinh doanh loại hàng hố khơng dễ gì có thể

vƣợt qua.

- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phần lớn đƣợc tiến hành tại các làng

nghề có từ lâu đời, nay những ngành nghề có nhu cầu mở rộng và phát triển

thì gặp rất nhiều khó khăn về mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, điều kiện về

cơ sở hạ tầng rất thấp kém, môi trƣờng bị ô nhiễm nặng nề do sử dụng chất

đốt rắn, chất thải không đƣợc xử lý ...., đối với các đơn vị sản xuất nhỏ, ngay

cả đối với các làng nghề thì đây là gánh nặng, họ khơng có khả năng xử lý

nếu khơng có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc,của Trung Ƣơng hay của các Huyện,

Thành phố.

- Việc chƣa tạo ra đƣợc chất lƣợng sản phẩm đồng đều, ổn định với

mẫu mã đa dạng, phong phú là do các chủ thể sản xuất kinh doanh không nắm



96



bắt hết dƣợc yêu cầu của thị trƣờng nƣớc ngoài về mẫu mã. Ngoài ra các

Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ luôn

phải cạnh tranh quyết liệt để chiếm đƣợc thị phần ở thị trƣờng bên ngoài.

Hiện nay hàng thủ cơng mỹ nghệ gặp khơng ít khó khăn khi phải cạnh tranh

với hàng của nƣớc ngoài nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, ....

- Thị trƣờng tiêu thụ vẫn là yếu tố có tính quyết định cho việc tổ chức

và phát triển sản xuất. Mặc dù khẳng định nhu cầu về hàng thủ công mỹ nghệ

trên thị trƣờng trong nƣớc và thị trƣờng Thế giới vẫn còn và có khả năng tăng

lên theo mức sống của dân cƣ, theo sự phát triển giao lƣu thƣơng mại-du lịch

và trao đổi văn hoá giữa các nƣớc; nhƣng để nắm bắt đƣợc nhu cầu, thị hiếu

cuả từng thị trƣờng, tiếp cận đƣợc thị trƣờng, tìm đƣợc đối tác kinh doanh,

xây dựng đƣợc mối quan hệ bạn hàng lâu dài và ổn định lại những công việc

có nhiều khó khăn phức tạp khơng phải ai cũng có thể vƣợt qua và là cơng

việc cần có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc dƣới nhiều hình thức.

Trong những năm vừa qua, đơn vị sản xuất kinh doanh nào nắm đƣợc

yếu tố này và xử lý tốt những việc liên quan thì đều có những bƣớc phát triển

khá tốt, tăng đƣợc kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Tuy nhiên, những đơn vị

làm đƣợc những việc này chƣa nhiều. Ngay cả đối với các đơn vị này, nhiều

khi những công việc nêu trên cũng là một gánh nặng không thể vƣợt qua, vì chi

phí cho các khâu xúc tiến thƣơng mại cũng khá tốn kém mà ngƣời sản xuất

kinh doanh thƣờng khơng thể làm nổi nếu khơng có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc.

- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tuy có thuận lợi lớn là chủ yếu sử

dụng nguồn nguyên vật liệu dồi dào trong nƣớc, nhƣng việc tổ chức khai thác,

cung ứng một số nguyên liệu cho sản xuất thƣờng phải mua lại từ nhiều nguồn

cung ứng gián tiếp, thậm chí là nguồn cung ứng bất hợp pháp nên phải mua với

giá cao làm tăng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, và trong trƣờng hợp

này thƣờng khơng có hố đơn giá trị gia tăng để đƣợc hoàn thuế khi xuất khẩu.



97



- Thủ tục hành chính trong tất cả các khâu sản xuất, lƣu thơng, giao

nhận vận chuyển và xuất khẩu hàng hố vẫn còn là vấn đề khơng ít khó khăn

phiền hà cho ngƣời sản xuất kinh doanh; làm cho họ phải vất vả, tốn kém mới

có thể tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, nhất là nguồn vốn tín dụng ƣu đãi,

tiếp cận các nguồn nguyên liệu hoặc có thể giải phóng nhanh lô hàng đảm bảo

thời hạn giao hàng theo hợp đồng xuất khẩu.



3.4.2. Nguyên nhân.

Cùng với những kết quả đã đạt đƣợc, ngành hàng thủ công mỹ nghệ

nƣớc ta đang phải đƣơng đầu với nhiều khó khăn và thách thức nhƣ đã đƣợc

đề cập ở trên. Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó có thể kể đến nhƣ:

- Từ khi Nhà nƣớc cho phép mở rộng sản xuất kinh doanh đối với tất cả

các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế thì hầu nhƣ các Doanh nghiệp kinh

doanh xuất khẩu hàng hoá trong cả nƣớc và các Doanh nghiệp sản xuất hàng

thủ công mỹ nghệ xuất khẩu vẫn phải tự bƣơn chải, xoay xở trƣớc những khó

khăn của thị trƣờng.

- Do thiếu thông tin nên việc nắm bắt, xử lý thông tin trong các Doanh

nghiệp bị hạn chế (thông tin về thị trƣờng, về thị hiếu khách hàng).

- Cơ chế thị trƣờng là một cơ chế rất tinh vi, các chủ thể sản xuất hay

Doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trƣờng nhƣ hiện nay tuy đã cố gắng

rất nhiều nhƣng vẫn không tránh đƣợc sự cạnh tranh khốc liệt lẫn nhau và

Doanh nghiệp nào không đứng vững đƣợc thì sẽ bị cơ chế thị trƣờng đào thải.

- Các vùng nguyên liệu tự nhiên mặc dù hiện còn dồi dào nhƣng với tốc

độ khai thác ngày càng nhiều thì đến lúc phải cạn kiệt. Điều này ảnh hƣởng

rất lớn đến việc tìm kiếm đầu vào để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.

- Hầu hết sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ hiện nay là đƣợc làm theo

các mẫu mã đã có từ trƣớc nên khách hàng cảm thấy đơn điệu, ít hấp dẫn. Và



98



để có đƣợc sản phẩm chiếm cảm tình của khách hàng thì phải đầu tƣ nhiều

thời gian và công sức.

- Các nhà quản lý và kinh doanh chƣa quan tâm nhiều đến công tác tiếp

thị, chƣa tham gia thƣờng xuyên các cuộc triển lãm để trực tiếp giới thiệu sản

phẩm với bạn hàng nƣớc ngồi.

Do trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngành còn hạn chế nên gặp nhiều khó

khăn trong việc tìm kiếm bạn hàng mới để ký kết hợp đồng. Các Doanh

nghiệp khơng trực tiếp nghiên cứu thị trƣờng nƣớc ngồi mà chỉ tìm hiểu thị

hiếu, nhu cầu của khách hàng thơng qua các cơ quan xúc tiến thƣơng mại và

nƣớc ngoài.

3.5. Phƣơng hƣớng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng TCMN trên

địa bàn huyện Chƣơng Mỹ



3.5.1. Phương hướng xuất khẩu mặt hàng TCMN

3.5.1.1. Quan điểm xuất khẩu hàng TCMN

Phát triển xuất khẩu trên cơ sở khai thác triệt để lợi thế so sánh và lợi

thế cạnh tranh, đảm bảo tốc độ và chất lƣợng tăng trƣởng cao, góp phần tăng

trƣởng kinh tế nhanh và bền vững.

Phát triển xuất khẩu trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên,

hạn chế ô nhiễm môi trƣờng và cạn kiệt tài nguyên, nâng cao khả năng đáp

ứng các quy định và tiêu chuẩn mơi trƣờng của hàng hóa xuất khẩu.

Phát triển xuất khẩu góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội nhƣ xóa

đói giảm nghèo, tạo nhiều việc làm đảm bảo cơng bằng xã hội, chia sẻ lợi ích

hợp lý giữa các thành phần tham gia xuất khẩu.

3.5.1.2. Định hướng phát triển xuất khẩu

Ƣu tiên xuất khẩu trở thành đòn bẩy mạnh mẽ để phát triển kinh tế của

huyện Chƣơng Mỹ



99



- Tiếp tục kiên trì chủ trƣơng ƣu tiên cho xuất khẩu nhằm đảm bảo cho

nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững

- Phát triển tƣơng ứng với tiềm năng và khai thác tối đa lợi thế so sánh

của tỉnh, xác định các mặt hàng và các loại hình dịch vụ có lợi thế cạnh tranh để

ƣu tiên đầu tƣ phát triển. Tập trung đầu tƣ gia tăng sản phẩm chế biến, sản phẩm

sạch, sản phẩm có hàm lƣợng cao về công nghệ và chất xám, giảm tỷ trọng

nguyên liệu thô trong cơ cấu hàng xuất khẩu

- Xuất khẩu gắn với nhập khẩu phục vụ yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại

hoá nền kinh tế của tỉnh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

- Chú trọng và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thƣơng mại nhằm

tìm kiếm, thâm nhập, mở rộng thị trƣờng xuất khẩu, góp phần quan trọng thơng

tin định hƣớng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với nhu cầu thị

trƣờng.

- Phát triển xuất khẩu trên cơ sở có chính sách khuyến khích các thành

phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh, tìm kiếm mở rộng thị trƣờng, tăng

nhanh giá trị và mặt hàng xuất khẩu, chủ động hội nhập vào kinh tế khu vực và

thế giới.

- Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp

và coi đây là khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc mở rộng kinh

doanh xuất nhập khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế.



3.5.1.3. Mục tiêu phát triển xuất khẩu

Mục tiêu đến năm 2020:

Giá trị xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ năm 2020 đạt 350 triệu USD

Bình quân đầu ngƣời đến năm 2020 đạt 291,7 USD/ngƣời, tƣơng

đƣơng 12,2% GDP bình quân đầu ngƣời.

Tốc độ tăng trƣởng giá trị xuất khẩu bình quân thời kỳ 2016 – 2020 là

17,25% trở lên



100



Giá trị xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ năm 2020 đạt từ 900 triệu USD

đến 1 tỷ USD trở lên

Tốc độ tăng trƣởng thời kỳ 2010 - 2020 là 9,9 - 11,1% trở lên

Nhóm hàng cơng nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Đạt 130 - 140 triệu

USD vào năm 2020, trong đó mặt hàng thủ cơng mỹ nghệ xuất khẩu năm

2020 đạt 80 - 90 triệu USD.

Thị trƣờng xuất khẩu: tiếp tục chú trọng các thị trƣờng Nhật bản, Hoa

Kỳ, EU đồng thời mở rộng thị trƣờng sang các nƣớc Trung Đông, các

nƣớc Mỹ La Tinh, các nền kinh tế mới nổi ở Châu Á nhƣ Hồng Kông, Đài

Loan, Hàn Quốc…

Thị phần: gia tăng thị phần tại các thị trƣờng truyền thống và các thị

trƣờng mới.

3.5.2. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ

trên địa bàn huyện Chương Mỹ

Các giải pháp đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ bao

gồm: giải quyết nguyên liệu thô cho sản xuất, đào tạo lao động, tiếp cận thị

trƣờng, giảm thuế giá trị gia tăng, áp dụng kỹ thuật công nghệ vào sản xuất...

3.5.2.1. Các giải pháp đối với doanh nghiệp

Thực hiện tốt công tác phát triển doanh nghiệp, chủ động xác định

chiến lƣợc mặt hàng và thị trƣờng xuất khẩu của mình; thực hiện các giải

pháp nâng cao khả năng cạnh tranh

Để có thể gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ, các

doanh nghiệp cần tích cực tìm hiểu thị trƣờng để có thể đáp ứng kịp thời nhu

cầu trên thế giới. Các doanh nghiệp phải luôn thay đổi mẫu mã, đa dạng hoá

sản phẩm đồng thời cần xây dựng thƣơng hiệu cho sản phẩm của mình để vừa

tạo đƣợc vị thế trên thị trƣờng đồng thời tránh đƣợc tình trạng bị mất mẫu mã

sản phẩm. Các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ thị trƣờng để có thể lựa chọn



101



phƣơng thức xâm nhập thị trƣờng hợp lý. Và dù lựa chọn phƣơng thức thâm

nhập thị trƣờng theo cách nào thì cũng phải nghiên cứu kỹ dung lƣợng thị

trƣờng, thị hiếu tiêu dùng, kênh phân phối, đối thủ cạnh tranh, giá cả... và cần

nắm vững 4 nguyên tắc khi thâm nhập thị trƣờng: Nắm bắt đƣợc thị hiếu

ngƣời tiêu dùng; hạ giá thành sản phẩm; đảm bảo thời gian giao hàng; duy trì

chất lƣợng sản phẩm.

Một là, tăng cƣờng hoạt động marketing: Trong thời gian qua, hoạt

động marketing của các doanh nghiệp còn mờ nhạt, manh mún, thiếu tính chủ

động. Trong những năm tới, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ

nghệ cần phải sử dụng cho mình một chiến lƣợc nghiên cứu thị trƣờng cụ thể,

nên thành lập một bộ phận chuyên biệt nghiên cứu thị trƣờng. Các nhân viên

của phòng (ban) này cần đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức về marketing, thị

trƣờng quốc tế và cần có chi phí thoả đáng cho lĩnh vực này. Để phát hiện thị

hiếu ngƣời tiêu dùng, nhất là ngƣời tiêu dùng nƣớc ngồi đối với hàng thủ

cơng mỹ nghệ doanh nghiệp có thể đều đặn thăm các cửa hàng thủ cơng mỹ

nghệ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh khác; các cửa hàng

lƣu niệm trong các khách sạn 5 sao; các siêu thị, trung tâm thƣơng mại của

các công ty kinh doanh hàng thủ cơng mỹ nghệ hàng đầu của Việt Nam nhƣ

Sài Gòn Haprosimex...; các tạp chí chuyên ngành nhƣ Haritage của Vietna

Airlines, tƣ vấn tiêu dùng, báo đẹp...; nhờ bạn bè hoặc họ hàng hay tham tán

thƣơng mại Việt Nam ở nƣớc ngoài nhờ họ thu lƣợm các catalogue hay chụp

ảnh, gửi địa chỉ của các nhà nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở nƣớc họ cho

doanh nghiệp hoặc có thể hỏi sự giúp đỡ của các sứ quán nƣớc ngoài ở Hà Nội

đối với những yêu cầu của mình.

Hai là, thực hiện tốt chính sách đa dạng hố sản phẩm: Hiện nay, do

nhu cầu trên thế giới đang thay đổi. Vì vậy, cần tiến hành đa dạng hố sản

phẩm thủ công mỹ nghệ, đầu tƣ dây chuyền sản xuất các mặt hàng có nhu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khả năng nội tại của doanh nghiệp được thể hiện trên các khía cạnh điều tra, xét theo định lượng, qua bảng 3.16 cho thấy:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×