Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu mặt hàng TCMN. Phân tích SWOT điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu mặt hàng TCMN. Phân tích SWOT điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU

HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ

1.1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ trong tiến trình hội

nhập quốc tế



1.1.1. Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

1.1.1.1. Hàng thủ công mỹ nghệ

Ngành hàng thủ cơng mỹ nghệ ở Việt Nam có thể đƣợc phân loại thành

10 tiểu ngành. Theo báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn và cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) thì sản xuất hàng thủ cơng

ở tất cả những tiểu ngành này chủ yếu dựa trên một hệ thống gồm 2.017 làng

nghề trên tồn quốc. Một số hàng thủ cơng mỹ nghệ chủ yếu là:

* Tre, mây, cói và lá

Từ dồi dào nguyên liệu thô ở các địa phƣơng nhƣ tre, mây, cói và lá và

cũng gồm có các nguyên liệu thô nhƣ guột, bèo tây, chuối hoặc rơm, Việt

Nam sản xuất ra những đồ dùng trong gia đình nhƣ rổ, nơi, va-li, túi mua

hàng, thảm lót (đĩa, cốc), bình phong và nhiều vật dụng khác. Các sản phẩm

đƣợc phục vụ cho mục đích sử dụng và trang trí, sản phẩm rất đa dạng, phục

vụ những thị hiếu khác nhau của khách hàng.

* Gốm sứ

Nghề gốm của Việt Nam có thể đƣợc chia ra làm 04 nhóm chính: Bộ đồ

ăn, bình và lọ hoa, tƣợng và những vật dụng trang trí khác. Tuỳ thuộc vào cơng

nghệ và nhiệt độ nung mà các sản phẩm sẽ là gốm, sứ, sành hay đất nung.

Nghề gốm đã có ở Việt Nam từ hàng ngàn năm nay và các cơ sở sản

xuất gốm phân bổ trên khắp cả nƣớc. Tuy nhiên, một số trung tâm sản xuất

sản phẩm gốm lớn nằm ở Hà Nội (Bát Tràng), Đồng Nai và Bình Dƣơng. Gần

đây, các sản phẩm nghệ thuật làm từ sành phục vụ nhu cầu trang trí nhà và vƣờn



6



đã phát triển mạnh ở các tỉnh Đồng Nai, Vĩnh Long, Hà Nam, Bắc Ninh và đã

thu hút đƣợc sự chú ý đặc biệt của các nhà nhập khẩu trên khắp thế giới [39].

* Thêu ren và các sản phẩm dệt

Các sản phẩm thêu ren bằng tay hầu hết là khăn trải bàn, quần áo, váy, túi

và những vật dụng sử dụng thông thƣờng. Những sản phẩm này đƣợc tạo ra chủ

yếu ở các làng nghề trong các tỉnh Hà Tây, Thái Bình, Ninh Bình và Hà Nam.

Đây là các nhóm sản phẩm có tiềm năng phát triển rất tốt nếu chúng ta

phát triển các thị trƣờng ngách cũng nhƣ tập trung vào thị trƣờng thƣơng mại

bình đẳng. Đối với các sản phẩm dệt và các sản phẩm của ngƣời thiểu số định

hƣớng để xuất khẩu, điều vô cùng quan trọng quyết định đến thành công là sự

sẵn có của ngun liệu thơ chất lƣợng cao, cải thiện chất lƣợng và phát triển

thị trƣờng [8 ].

* Sản phẩm đá quý và kim loại

Các vật phẩm dùng để trang trí và sản phẩm quà tặng làm từ kim loại

nhƣ tƣợng nhỏ, đồ trang sức, chuông, chiêng và khung tranh. Trong số những

sản phẩm này, các vật dụng nhƣ đồ mạ bạc, đồ đồng chế tác và đồ đúc bằng

đồng thiếc đƣợc xuất khẩu. Gần đây, sản phẩm chế tác đồng đã tăng mạnh về

kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt do sự kết hợp giữa sản phẩm đồng chế tác với

các nguyên liệu tự nhiên khác nhƣ mây, bèo tây và các nguyên liệu khác.

Có 45 làng nghề chạm khảm/tạc đá trong nƣớc. Những sản phẩm từ đá

cho EU, Hoa Kỳ và Canađa gồm có tƣợng và các vật dụng trong vƣờn. Sử dụng

đá mềm đang có xu hƣớng tăng lên. Các nhà mua hàng nƣớc ngoài thƣờng thích

những thiết kế đơn giản và chƣa hồn thiện trên các sản phẩm đá thủ công (đá

rắn và đá trắng) [8].

* Gỗ mỹ nghệ

Nhóm sản phẩm có ƣu thế lớn của ngành gỗ là đồ dùng trong nhà,

chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu. Hầu hết hoạt động sản xuất đồ dùng



7



làm từ gỗ tập trung ở các tỉnh khu vực phía Bắc của Việt Nam nhƣ Bắc Ninh,

Hà Nội, Hải Dƣơng, Nam Định, trong khi đó thì ngành chế biến gỗ công

nghiệp lại chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Trung và miền Nam. Các nhóm

sản phẩm quan trọng tập trung vào sản phẩm bàn và đồ bếp.

Một số các sản phẩm thủ cơng đồ gỗ đòi hỏi sự tinh xảo nhƣ tƣợng, gỗ

chạm khảm đang có xu hƣớng gia tăng, đặc biệt phục vụ cho các thị trƣờng

châu Á nhƣ Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan [13].

1.1.1.2. Khái niệm xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Xuất khẩu là việc bán sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trong nƣớc và nƣớc

ngồi nhằm thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nƣớc, phát triển sản

xuất kinh doanh và nâng cao đời sống nhân dân. So với việc mua bán sản

phẩm trong thị trƣờng nội địa, hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn nhiều. Đây

là hoạt động giao dịch, bn bán với những ngƣời có quốc tịch khác nhau, thị

trƣờng vơ cùng rộng lớn khó kiểm sốt, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ

mạnh, hàng hoá đƣợc vận chuyển qua biên giới quốc gia.

Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh buôn bán ở

phạm vi quốc tế. Nó khơng phải là những hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả

một hệ thống các quan hệ mua bán trong thƣơng mại có tổ chức từ trong nƣớc

ra ngồi nƣớc nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa, đẩy mạnh sản xuất hàng

hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bƣớc nâng cao mức sống của

nhân dân. Vì thế hoạt động xuất khẩu hàng TCMN đem lại những hiệu quả

kinh tế rất cao [8].

Các hình thức xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ.

Hàng thủ cơng mỹ nghệ có thể đƣợc xuất khẩu ra nƣớc ngoài theo 2

phƣơng thức sau:

- Xuất khẩu tại chỗ: khi khách du lịch đến từ nƣớc ngoài vào Việt Nam

và mua hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất tại Việt Nam. Với xu hƣớng phát



8



triển của du lịch nhƣ hiện nay, hình thức xuất khẩu này sẽ góp phần đáng kể

vào kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam hàng năm.

- Xuất khẩu ra nƣớc ngồi: là hình thức các doanh nghiệp bán hàng thủ

cơng mỹ nghệ cho các đối tác nƣớc ngồi bằng cách mang hàng sang tận nơi

bằng các phƣơng tiện vận tải khác nhau và phải chịu sự ràng buộc của một số

thủ tục xuất khẩu nhất định [13].



1.1.2. Vai trò, đặc điểm về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

1.1.2.1. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ

a) Đối với nền kinh tế quốc dân

- Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ cơng nghiệp hốhiện đại hố đất nước.

Việc xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ của nƣớc ta trong mấy năm gần

đây đã mang lại cho nƣớc ta nguồn ngoại tệ lớn, đóng góp không nhỏ cho sự

phát triển của nền kinh tế quốc dân. Cụ thể trong năm 2003 Việt Nam đã xuất

khẩu đƣợc gần 400 triệu USD, và tính đến tháng 4 năm nay, kim ngạch hàng

thủ công mỹ nghệ đã đạt trên 100 triệu USD, tăng 10% so với năm ngoái. Đây

là nguồn thu ngoại tệ to lớn thực thu về cho đất nƣớc từ nguồn nguyên liệu rẻ

tiền có sẵn trong tự nhiên và từ lực lƣợng lao động nhàn rỗi ở các vùng nơng

thơn nƣớc ta [26].

Nhờ có nguồn vốn đó, các làng nghề truyền thống Việt Nam có điều

kiện đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất

kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ thuật cao cho ngành

thủ công mỹ nghệ.

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nơng thơn theo hướng hiện đại hố

Việc phát triển các làng nghề truyền thống đã có vai trò tích cực trong

việc góp phần tăng tỉ trọng cơng nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu



9



hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển từ lao động sản xuất nông nghiệp thu

nhập thấp sang ngành nghề nơng nghiệp có thu nhập cao hơn.

Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ

ở nông thôn mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động. Khác với sản

xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một q trình liên tục, đòi

hỏi sự cung cấp thƣờng xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản

phẩm. Do đó dịch vụ nơng thơn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa

dạng và phong phú, đem lại thu nhập cao cho ngƣời lao động.

Sự phát triển lan toả của làng nghề truyền thống đã mở rộng quy mô và

địa bàn sản xuất, thu hút rất nhiều lao động. Cho đến nay cơ cấu kinh tế ở

nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nông

nghiệp [14].

- Tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.

Tác động của xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đến đời sống bao gồm rất

nhiều mặt. Trƣớc hết thông qua mặt sản xuất hàng xuất khẩu với nhiều công

đoạn khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập

khơng thấp tăng giá trị lao động tăng thu nhập quốc dân.

Nhiều làng nghề không những thu hút lực lƣợng lao động lớn ở địa

phƣơng mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phƣơng khác. Làng

gốm bát tràng ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2.430 lao động của xã,

còn giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5.500 đến 6.000 lao động của các

khu vực lân cận đến làm thuê [1].

Ngoài việc đƣợc coi là động lực gián tiếp giải quyết việc làm cho ngƣời

lao động xuất khẩu thủ cơng mỹ nghệ còn góp phần tăng thu nhập và cải thiện

đời sống cho ngƣời lao động ở nơng thơn. Ở nơi nào có ngành nghề phát triển

thì nơi đó thu nhập cao và mức sống cao hơn các vùng thuần nông.



10



b) Đối với các doanh nghiệp

Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trƣờng tiêu

thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của

các doanh nghiệp không chỉ đƣợc khách hàng trong nƣớc biết đến mà còn có

mặt ở thị trƣờng nƣớc ngồi. Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh

nghiệp, tăng dự trữ, qua đó nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung,

nâng cấp máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình phát triển.

Xuất khẩu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham

gia xuất khẩu trong và ngồi nƣớc. Chính vì vậy, các doanh nghiệp buộc phải

nâng cao chất lƣợng hàng hố, tìm mọi cách để nâng cao chất lƣợng sản phẩm,

hạ giá thành, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào hay tiết kiệm nguồn lực. Sản

xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đƣợc nhiều lao động và tăng

thêm thu nhập, ổn định đời sống cán bộ công nhân viên và tăng lợi nhuận cho

doanh nghiệp.

Xuất khẩu và nhập khẩu là 2 lĩnh vực hoạt động có mối quan hệ chặt

chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển trong một tổng thể thống nhất

biện chứng. Do mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu rất chặt chẽ với

nhau nên mỗi quốc gia, mỗi địa phƣơng thƣờng biểu thị mối quan hệ đó thơng

qua cán cân thƣơng mại tức là bảng cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu của

quốc gia và địa phƣơng đó.

1.1.2.2. Đặc điểm của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

- Đặc điểm về sản phẩm

Đặc điểm nổi bật về sản phẩm hàng TCMN chủ yếu và phổ biến là sản

phẩm thủ công truyền thống in đậm sắc thái văn hoá trong sản phẩm.

Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống đều

là sự kết giao giữa phƣơng pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật.



11



Các sản phẩm hàng TCMN vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ

cao, nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí

trong nhà, đền, chùa,...

Ngƣời thợ thủ công sản xuất hàng thủ công, trƣớc hết là do yêu cầu kinh

tế và nguồn sống của mình. Do đó, sản phẩm thủ cơng truyền thống tự thân đã

là sản phẩm hàng hố. Đó là các sản phẩm có giá trị kinh tế, nhƣng đậm nét mỹ

thuật, mỹ nghệ dun dáng, thanh thốt bởi đó là sự kết hợp khéo léo, nhuần

nhị vẻ đẹp nghệ thuật cổ với vẻ đẹp cách tân rất hiện đại, vừa sâu lắng, tinh tế

lại vừa bóng bẩy.

- Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm:

Hiện nay, sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ tiêu dùng trong

nƣớc mà còn đƣợc xuất khẩu sang nhiều thị trƣờng trên thế giới.

Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ rất khác nhau, mang nét đặc trƣng

của làng nghề và thoả mãn những nhu cầu riêng biệt của con ngƣời, do vậy

mỗi làng nghề đều hƣớng tới những thị trƣờng riêng. Vì vậy, sự thăng trầm

trong thị trƣờng tiêu thụ của các làng nghề cũng phụ thuộc vào sự thăng trầm

của từng thị trƣờng đó. Sản phẩm hàng TCMN hiện nay khơng chỉ có khả

năng đáp ứng đƣợc nhu cầu đa dạng trong nƣớc mà còn đƣợc xuất khẩu sang

nhiều nƣớc, có khả năng đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng thế giới.

- Đặc điểm về vốn và quan hệ tín dụng:

Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho các làng nghề hoạt

động đƣợc trong cơ chế thị trƣờng. Vốn là yếu tố quan trọng giúp các cơ sở ở

các làng nghề mua sắm nguyên liệu, dụng cụ sản xuất, trả công cho lao

động... Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất ở các làng nghề diễn ra liên tục.

Các nguồn vốn chủ yếu trong các làng nghề hiện nay gồm nhiều hình thức

nhƣng chủ yếu là hai hình thức: vốn tự có và vốn vay.



12



Vốn tự có hiện chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong các làng nghề,

đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi cơ chế vay vốn đang gặp nhiều bất cập.

Tuy nhiên, để đảm bảo làng nghề phát triển, khơng thể dựa hồn tồn vào

nguồn vốn tự có đƣợc, do lƣợng vốn này quá nhỏ so với yêu cầu đầu tƣ phát

triển sản xuất, đổi mới công nghệ. Đặc biệt, đối với các cơ sở sản xuất đã

chun mơn hố, cần mở rộng phát triển sản xuất luôn đi cùng với đổỉ mới

công nghệ, tạo lập mặt bằng nhà xƣởng.

Vốn vay đang có nhu cầu ngày càng tăng. Việc đầu tƣ đổi mới cơng

nghệ, đa dạng hố sản phẩm, nâng cao chất lƣợng sản phẩm cũng nhƣ đào tạo

cơng nhân đòi hỏi cũng phải có vốn đầu tƣ. Vốn tự có trong các cơ sở sản

xuất của làng nghề không đáng kể so với nhu cầu đầu tƣ phát triển sản xuất,

đặc biệt do đổi mới công nghệ hay mở rộng quy mô sản xuất. Bởi vậy, vốn

vay hiện nay chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển làng nghề nói

riêng cũng nhƣ ngành nghề nơng thơn nói chung.



1.1.3. Phân loại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

1.1.3.1. Phân loại theo tính chất của sản phẩm

Phân loại theo tính chất của sản phẩm, có hai nhóm lớn là nhóm các sản

phẩm độc đáo, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc và nhóm các sản phẩm mà

phần nhiều mang giá trị sử dụng.

Nhóm các sản phẩm độc đáo, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc nhƣ:

chạm, khảm vàng - bạc, chạm khảm gỗ, đồ sơn mài, tranh dân gian, đồ gốm mỹ

nghệ, lụa tơ tằm, thổ cẩm, thêu... Đây là nhóm các mặt hàng khơng thể mất vị trí

trong q trình CNH, HĐH bởi sản phẩm mang tính nghệ thuật, khơng thể sản

xuất hàng loạt bằng máy móc đƣợc.

Nhóm các sản phẩm mà phần nhiều mang giá trị sử dụng nhƣ gạch, ngói

thơng dụng, dệt may thơng dụng, nơng cụ, đồ gỗ thông dụng, các hàng nhựa cao su - thuỷ tinh, đƣờng kẹo, nƣớc chấm... Nhìn về tƣơng lai, những làng nghề



13



sản xuất các mặt hàng này sẽ bị sức ép mạnh của kỹ thuật và công nghệ hiện

đại… Bởi thế, những nghề và làng nghề đó cần đƣợc đầu tƣ đổi mới công nghệ,

đi dần vào guồng máy cơng nghiệp hiện đại.

1.1.3.2. Phân loại theo mục đích sản xuất

Phân loại theo mục đích sản xuất, có 3 nhóm sản phẩm:

- Các sản phẩm đƣợc sản xuất nhằm mục đích xuất khẩu đáp ứng nhu

cầu của khách hàng quốc tế;

- Các sản phẩm đƣợc sản xuất nhằm mục đích tiêu thụ trên thị trƣờng

trong nƣớc, đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong nƣớc;

- Các sản phẩm đƣợc sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính

gia đình sản xuất tự sản tự tiêu (phần sản phẩm này chiếm tỷ trọng rất nhỏ).

1.1.3.3. Phân loại theo định hướng khách hàng tiêu thụ

Phân loại theo định hƣớng khách hàng tiêu thụ, có 3 nhóm sản phẩm, đó là:

- Các sản phẩm đƣợc sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu trang trí trong

các gia đình hoặc văn phòng, khách sạn, nhà hàng,...;

- Các sản phẩm đƣợc sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi, lại

và sử dụng làm phƣơng tiện sinh hoạt của con ngƣời...;

- Các sản phẩm đáp ứng nhu cầu sản xuất nhƣ nguyên liêu, công cụ...

1.1.3.4. Phân loại theo quốc tịch của khách hàng

Phân loại theo quốc tịch của khách hàng, bao gồm: Các tập khách hàng

quốc tế; Các tập khách hàng trong nƣớc.

Các tập khách hàng quốc tế (đối với các sản phẩm xuất khẩu qua biên

giới và xuất khẩu tại chỗ) gồm: các nhà nhập khẩu nƣớc ngoài, các nhà sản

xuất và ngƣời tiêu dùng có quốc tịch nƣớc ngồi.

Các tập khách hàng trong nƣớc gồm: các nhà sản xuất trong nƣớc (đối

với các sản phẩm là nguyên liệu, vật liệu, công cụ sản xuất ...); các doanh

nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp và chủ đầu tƣ xây dựng



14



(đối với các sản phẩm là vật liệu xây dựng, trang trí nội thất); ngƣời tiêu dùng

ở các đơ thị và nông thôn (đối với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và hàng

tiêu dùng đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, ăn, ở, đi lại của dân cƣ...).

1.1.3.5. Phân loại theo hình thức lưu thơng phân phối và tiêu dùng

Phân loại theo hình thức lƣu thơng phân phối và tiêu dùng, có các tập

khách hàng sau:

Các nhà nhập khẩu nƣớc ngoài trực tiếp ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm

với các doanh nghiệp ở các làng nghề truyền thống.

Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam ký hợp đồng

cung cấp nguyên liệu thu mua sản phẩm để sản xuất hoặc hợp đồng thu mua

gom sản phẩm của các làng nghề xuất khẩu.

Các thƣơng nhân ở các đô thị lớn ký hợp đồng.



1.1.4. Nội dung xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

1.1.4.1. Nghiên cứu thị trường quốc tế

* Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới.

Phải bao gồm việc nghiên cứu tồn bộ q trình sản xuất của một

ngành sản xuất cụ thể, tức là việc nghiên cứu không chỉ giới hạn ở lĩnh vực

lƣu thơng mà còn ở lĩnh vực sản xuất, phân phối hàng hoá.

Muốn vậy ta phải xác định các vấn đề sau: Thị trƣờng đang cần mặt

hàng gì? Tình hình tiêu dùng mặt hàng đó nhƣ thế nào? Mặt hàng ở thời kỳ

nào của chu kỳ sống? Tình hình sản xuất mặt hàng đó ra sao? Tỷ suất ngoại tệ

của mặt hàng đó?

* Dung lượng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng tới nó.

Dung lƣợng thị trƣờng là khối lƣợng hàng hoá đƣợc giao dịch trên một

phạm vi thị trƣờng nhất định (Thế giới, khu vực) trong một thời gian nhất

định (thƣờng là một năm). Khi nghiên cứu thị trƣờng hàng hoá khác nhau

phải căn cứ vào đặc điểm của chúng để đánh giá đúng ảnh hƣởng của các



15



nhân tố, xác định nhân tố chủ yếu có ý nghĩa quyết định tới xu hƣớng vận

động của thị trƣờng trong giai đoạn hiện tại và tƣơng lai.

* Lựa chọn đối tác bn bán.

Mục đích của hoạt động này là lựa chọn bạn hàng có thể cộng tác đƣợc,

đảm bảo an tồn và có lãi. Nội dung cần thiết để nghiên cứu lựa chọn đối tác

bao gồm: Quan điểm kinh doanh của thƣơng nhân đó; Lĩnh vực kinh doanh

của họ; Khả năng vốn và cơ sở vật chất của họ, nhằm thấy đƣợc những ƣu thế

bên thoả thuận giá cả, điều kiện thanh tốn; Uy tín và mối quan hệ trong kinh

doanh của họ; Những ngƣời chịu trách nhiệm thay mặt để kinh doanh và

phạm vi trách nhiệm của họ đối với nghĩa vụ của công ty.

* Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới

Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trƣờng thế giới đƣợc coi là vấn đề

chiến lƣợc ƣu tiên hàng đầu bởi nó ảnh hƣởng trực tiếp tới sức tiêu thụ và lợị

nhuận của nhà xuất khẩu. Định giá đúng đảm bảo cho các nhà xuất khẩu thắng

lợi trong kinh doanh, tránh rủi ro và thua lỗ. Thông thƣờng các nhà kinh doanh

xuất khẩu định giá bán sản phẩm dựa trên 3 căn cứ: Giá thành và các chi phí

khác; Sức mua của ngƣời tiêu dùng và nhu cầu của họ; Giá cả hàng hoá cạnh

tranh.

* Thanh toán trong thương mại quốc tế

Thanh toán trong TMQT là một khâu rất quan trọng, đảm bảo hiệu quả

kinh tế trong kinh doanh xuất khẩu. Việc thanh toán phải xét đến các vấn đề:

- Tiền tệ trong thanh toán quốc tế.

- Thời hạn thanh tốn.

- Các hình thức và phƣơng thức thanh toán quốc tế.

- Các điều kiện đảm bảo hối đoái.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu mặt hàng TCMN. Phân tích SWOT điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×