Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số khái niệm liên quan

Một số khái niệm liên quan

Tải bản đầy đủ - 0trang

việc sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các hoạt động kéo theo. Nói cách

khác bất kỳ một ngành nào mới được thiết lập cũng kéo theo các hoạt động sản xuất

khác nhằm cung cấp đầu vào cho nó; và mọi ngành, trừ các ngành sản xuất hàng hóa

cuối cùng, đều kéo theo các hoạt động khác sử dụng đầu ra của nó như đầu vào của

mình. Hiệu ứng liên kết được xem như các xung lực tạo ra các khoản đầu tư mới thông

qua sự vận động của các mối quan hệ đầu vào – đầu ra. Đây chính là điểm mấu chốt

trong lý thuyết phát triển kinh tế của Hirschman khi ông khuyến nghị cần tập trung đầu

tư vào những ngành có các mối liên kết mạnh, để thông qua sức lan tỏa của nó thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng khơng cân đối). Ngoài kiểu liên kết trong sản xuất

nêu trên, Hirschman cũng đề cập đến liên kết tiêu dùng nhưng cho rằng không như liên

kết trong sản xuất liên kết tiêu dùng có thể mang lại hiệu ứng tiêu cực ví dụ như sự suy

tàn của các nghề thủ cơng khi thu nhập tăng lên, do có sự chuyển hướng trong tiêu

dùng. Trong cơng trình nghiên cứu sau này, Hirschman cũng đề cập đến kiểu liên kết

theo kiểu mạng lưới xã hội khi cho rằng liên kết cũng là “sự ràng buộc chặt chẽ thành

mạng lưới dày đặc các thương gia và cư dân thành thị” (Hirschman, 1977).

Xét về thực chất để phân biệt loại liên kết theo cách tiếp cận của Hirschman thì

liên kết ngược là loại quan hệ được tạo ra khi các doanh nghiệp/hộ gia đình có nhu cầu

được cung cấp đầu vào như nguyên vật liệu, sản phẩm trung gian và dịch vụ từ các

doanh nghiệp/hộ gia đình khác, hay mối quan hệ cầu đầu vào của sản xuất. Liên kết

xuôi được tạo ra khi các doanh nghiệp/hộ gia đình bán sản phẩm và dịch vụ cho các

doanh nghiệp/hộ gia đình khác, hay quan hệ cung đầu ra của sản xuất. Các liên kết

xuôi và ngược ln hóa quện, gắn bó chặt chẽ và thực chất là hai mặt của quá trình sản

xuất. Để xem xét đâu là liên kết xuôi và đâu là liên kết xi thì phải xuất phát từ một

chủ thể cụ thể (hộ gia đình, doanh nghiệp, ngành) vì bất kỳ một chủ thể nào cũng luôn

trong mối quan hệ song trùng giữa hai loại liên kết.

Ở khía cạnh khác, Fujita & Mori (2005) lại cho rằng có hai loại liên kết chủ

yếu, tạo ra xung lực trong tương tác giữa các ngành. Loại thứ nhất gọi là liên kết kinh

tế (E-linkages), liên quan tới các hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa và dịch vụ;

loại thứ hai là liên kết kiến thức (K-linkages), bao gồm các hoạt động của con người

trong sáng tạo và chuyển giao kiến thức, từ đó tạo ra hiệu ứng lan tỏa kiến thức

(knowledge spillover effects)

Trong khi đó Perroux (1955) lại tiếp cận khái niệm liên kết về mặt không gian

với lý thuyết về “cực tăng trưởng”. Ý tưởng chủ yếu của ông là chiến lược thiết lập các

khu vực trong đó có ngành (hoặc doanh nghiệp) có sức hút mạnh; nghĩa là tập trung

các hoạt động kinh tế năng động nhất vào một cực tăng trưởng của vùng, từ đó thức

đẩy sự phát triển của các khu vực và ngành khác trong một hệ thống không gian các

mối liên kết và mạng lưới buôn bán; từ đó hình thành một tập hợp các liên kết kinh tế

13



giữa cực tăng trưởng và các vùng xung quanh, với mỗi nới có một vai trò nhất định.

Đưa ra ý tưởng như vậy vì ơng cho rằng tăng trưởng và phát triển không thể xuất hiện

ở mọi nơi và cùng lúc mà chúng hiện diện ở một số điểm với các cường độ khác nhau;

chúng lan tỏa qua các kênh khác nhau với những hiệu ứng khác nhau đối với nền kinh

tế.

Một cách tiếp cận khác ngược với kiểu liên kết cực/trung tâm tăng trưởng nêu

trên do Friedman & Douglass (1978) đề xuất. Đây là cách tiếp cận theo kiểu từ dưới

lên (bottom up), hướng tới giải quyết các vấn đề nghèo đói thơng qua các dự án ở nông

thôn và nông nghiệp, với sự tham gia liên kết của nhiều phía: khu vực tư nhân và nhà

nước, các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học, các tổ chức xã hội,…, và được

triển khai trên quy mơ tương đối nhỏ. Nói cách khác, theo cách tiếp cận này, sự phát

triển vùng có thể đạt được một cách tốt nhất thông qua sự kết nối giữa phát triển đô thị

và phát triển nông thôn ở cấp độ địa phương (Douglass, 1998).

Mushi (2003) tiếp cận khái niệm liên kết giữa đô thị và nông thôn trong vùng

trên cơ sở phức hợp các mối quan hệ trong đó. Có 7 liên kết chủ yếu: i) liên kết về cơ

sở hạ tầng bao gồm đường sá, cảng và hệ thống cơ sở giáo dục và y tế; ii) liên kết kinh

tế bao gồm cấu trúc thị trường, các dòng vốn, lao động và nguyên vật liệu, hợp tác

trong sản xuất và chuyển giao công nghệ; iii) liên kết dịch chuyển dân số bao gồm các

dòng di cư tạm thời và lâu dài; iv) liên kết xã hội bao gồm tương tác giữa các nhóm xã

hội, tơn giáo và văn hóa, và sức khỏe, kỹ năng của dân cư; v) liên kết tổ chức bao gồm

các chuẩn mực và quy tắc, các tổ chức chính thức và phi chính thức; vi) liên kết hành

chính bao gồm các mối quan hệ về cơ cấu hành chính, các chuỗi quyết định chính trị

phi chính thức; và vii) liên kết mơi trường bao gồm các mối quan hệ về vốn tự nhiên

và chất thải.

Trong khuôn khổ đề tài này quan tâm tới mối liên kết giữa doanh nghiệp và

nơng dân trên khía cạnh kinh tế: liên kết dọc giữa doanh nghiệp và nông dân trong các

khâu sản xuất vả tiêu thụ lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long.

7.2. Doanh nghiệp

Doanh nghiệp hay đúng ra là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của

pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [3].

Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, Kinh doanh là việc thực hiện liên

tục một, một số hoặc tất cả các cơng đoạn của q trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ

sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy

doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có

các hoạt động khơng hồn tồn nhằm mục tiêu lợi nhuận.

Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005 thì hình thức pháp lý của các loại hình

14



doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:

Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành

viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các

thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác

của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành

nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh

nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài

sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.

Cơng ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở

hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh).

Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng tồn bộ tài sản của

mình về các nghĩa vụ của cơng ty. Ngồi ra trong cơng ty hợp danh còn có các thành

viên góp vốn.

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách

nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân

chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi được thành lập theo Luật đầu tư

nước ngồi 1996 chưa đăng kí lại hay chuyển đổi theo quy định.

Trong nghiên cứu này khái niệm Doanh nghiệp thể hiện là đơn vị tổ chức kinh

doanh có tư cách pháp nhân nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, trao đổi

hàng hóa và dịch vụ trên thị trường để tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp và của

chủ sở hữu tài sản.

7.3. Nơng dân

Có rất nhiều cách định nghĩa về nơng dân (Farmer) trên các trang web bằng

tiếng Anh:

- Người điều khiển một trang trại. (wordnet.princeton.edu/perl/webwn)

- Người sống bằng nghề trồng trọt trên đất. Đây là cách để con người tồn tại

từ buổi đầu của nền văn minh. (en.wikipedia.org/wiki/farmer)

- Người sống bằng hoạt động trồng trọt, chăn nuôi.

(www.labelmaster.com/Hazmat-Source/hazardous-materialsdefinitions.cfm)

- Một cá nhân (hoặc nhóm người và những tổ chức hợp pháp khác) tiến hành

những hoạt động nơng nghiệp theo hình thức cổ phần.

(ec.europa.eu/agriculture/glossary/index_en.htm).

- Một người độc lập, có trang trại thừa kế hay được cho tặng các quyền thừa

kế. (www.genealogia.fi/faq/faq037e.htm)

- Một người quản lý trang trại bằng việc trồng trọt và chăn nuôi.

(www.nps.gov/archive/hofu/TEACHERS/vocab.html)

15



Bao gồm các ý nghĩa là người sở hữu, chủ đất, người chiếm giữ, và người

thuê mướn của một trang trại. (www.canlii.org/ca/sta/b-1.01/sec425.html)

- Bất cứ người nào điều hành một trang trại hay gián tiếp liên quan đến việc

canh tác trên đất, sở hữu hay trực tiếp kiểm soát các cây trồng và vật ni.

(www.truckingsafety.org/guidebook/definitions.htm)

Theo Wikipidia định nghĩa thì: Nơng dân là những người lao động cư trú ở

nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn,

sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia,

từng thời kì lịch sử, người nơng dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình

thành nên giai cấp nơng dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.

Trong nghiên cứu này tác giả xác định nông dân là những người lao động cư trú

ở nơng thơn, có tư liệu sản xuất là đất đai và tham gia sản xuất nông nghiệp.

7.4. Khái niệm và đặc điểm của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và nông dân

trong sản xuất nông nghiệp

Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân trong sản xuất nông nghiệp, nếu

căn cứ vào hình thức tổ chức pháp lý có nhiều loại hình như: sản xuất nơng nghiệp

theo hợp đồng, liên minh doanh nghiệp-nông dân, tổ hợp, khu liên hợp cơng-nơng

nghiệp… Trong đó, loại hình “Sản xuất nơng nghiệp theo hợp đồng” (gọi tắt là nông

nghiệp hợp đồng, contract farming- CF) hoặc với nhiều tên gọi khác như: hợp đồng

sản xuất và tiêu thụ ký kết từ đầu vụ, hợp đồng bao tiêu sản phẩm, hợp đồng bán trước

sản phẩm....là loại hình liên kết phổ biến nhất. Vì vậy luận án này tập trung xem xét

liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân trong giới hạn nông nghiệp

hợp đồng.

Eaton, Charles and Andrew W. Shepherd (2001), đã khái niệm: Nông nghiệp

hợp đồng là thoả thuận giữa những người nông dân với các doanh nghiệp chế biến

hoặc doanh nghiệp kinh doanh trong việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm nông

nghiệp dựa trên thỏa thuận giao hàng trong tương lai, giá cả đã được định trước

[17].

Do yếu tố giá cả định trước không phải là yếu tố đặc trưng và nhất thiết của

nông nghiệp hợp đồng nên có thể khái niệm: nơng nghiệp hợp đồng là một loại hình

liên kết dọc giữa doanh nghiệp chế biến kinh doanh nông sản với nông dân trong việc

sản xuất và cung cấp các sản phẩm nông nghiệp do nông dân sản xuất ra cho doanh

nghiệp dựa trên thỏa thuận giao hàng tương lai.

Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân trong sản xuất nông nghiệp bên

cạnh những đặc điểm chung của liên kết kinh tế, có những đặc điểm riêng của nó, đó

là:

- Đặc điểm đầu tiên của liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân

trong sản xuất nông nghiệp là một bộ phận của quan hệ kinh tế giữa công nghiệp

-



16



với nông nghiệp.

- Đặc điểm thứ hai : Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân trong sản

xuất nông nghiệp là mắt xích đầu tiên của chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và ngược lại

chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị là một hình thức cơ bản của liên kết kinh tế trong ngành

sản xuất và kinh doanh nông sản.

- Đặc điểm thứ ba: Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân trong sản

xuất nông nghiệp là một bộ phận của liên kết kinh tế không chỉ trong phạm vi một

nước mà còn là trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhất là ở các nước đang phát triển.

- Đặc điểm thứ tư: Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân trong sản

xuất nông nghiệp là một quan hệ kinh tế bất đối xứng.

Do đó: Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nơng dân là một loại hình liên

kết kinh tế rất đặc thù và là một mâu thuẫn. Đó là một sự kết hợp, đan xen giữa sự

thống nhất và đấu tranh nhau về lợi ích; tích cực và tiêu cực; cơ hội và thách thức; hiện

đại và truyền thống; đơn giản và phức tạp,tế nhị; qui mơ lớn với qui mơ nhỏ; số ít

doanh nghiệp với số đông nông dân; kỳ vọng ổn định với sự biến động, thiếu bền

vững. Vì vậy nhận thức và thực hiện liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân

cần phải rất kiên trì theo phương châm tồn diện, lịch sử và cụ thể.

8. Kinh nghiệm của thế giới trong liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong

sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, bài học rút ra cho Việt Nam

8.1. Kinh nghiệm ở Trung quốc

Là một thành phần trong chương trình cơng nghiệp hóa nơng thơn ở Trung

Quốc, từ năm 1990 hợp đồng bao tiêu nông sản đã được chính phủ Trung Quốc hỗ trợ

nhằm tăng cường doanh thu và tính cạnh tranh của việc sản xuất nông nghiệp. Các số

liệu gần đây cho thấy số lượng các công ty kinh doanh nông sản tham gia hợp đồng

bao tiêu nông sản đã tăng năm lần trong khoảng các năm 1996 và 2002 từ 8.377 đến

46.060. Số lượng những các hộ nông dân đã ký hợp đồng với các doanh nghiệp là gần

72.650.000 vào năm 2002. Tỷ lệ các hộ nông dân tham gia vào hợp đồng bao tiêu

nông sản tăng lên lần lượt, từ 10% đến 30% giữa 1996 và 2002 (Niu, 2006). Trong địa

bàn tỉnh Triết Giang, Trung Quốc, 72% các doanh nghiệp kinh doanh nông sản tham

gia hợp đồng bao tiêu nông sản thông báo rằng có hơn 75% các hộ nơng dân là những

đối tượng mà họ đã ký hợp đồng hoặc đạt được các điều kiện để ký kết – đây một mức

độ hiệu quả cao [21].

Lý giải sự thành công của Trung Quốc trong việc thực hiện liên kết kinh tế giữa

doanh nghiệp chế biến nơng sản với nơng dân có thể nêu ra ba bài học kinh nghiệm

quý đó là: Lựa chọn ngành hàng có đủ điều kiên để thực hiên liên kết; hình thức liên

kết phù hợp và vai trò tích cực của nhà nước.

17



Về lựa chọn ngành hàng có đủ điều kiện để thực hiện liên kết: Việc thực hiện

liên kết trước hết tập trung cho một số ngành hàng nơng sản có tính chun biệt cao và

có u cầu cao về chất lượng nhất là đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm

như: Chế biến rau, chế biến thịt, nuôi trồng thủy sản, chế biến dầu ăn, tơ tằm, bông

vải, nấm và sữa. Tuy nhiên tỷ lệ ký hợp đồng nhiều nhất là ngành chế biến thịt, nuôi

trồng thủy sản và chế biến sữa [17].

Về nội dung, hình thức liên kết: Ở Trung quốc, có hai hình thức tổ chức cấu trúc

được sử dụng tại các doanh nghiệp tham gia hợp đồng bao tiêu nông sản. Mơ hình tập

trung, trong đó, 1 đơn vị sẽ ký hợp đồng trực tiếp với nhiều các hộ nông dân, được

xem như "cơng ty + các hộ nơng dân". Hình thức được sử dụng rộng rãi thứ hai là

doanh nghiệp sẽ ký hợp đồng với các các hộ nông dân thơng qua 1 bên trung gian ví

dụ như hội đồn nông dân, người trung gian, hoặc hội đồng làng, được xem như "công

ty + trung gian + các hộ nông dân" [21].

Một trong những chính sách quan trọng nhất đã được thực hiện là thúc đẩy sự

phối hợp theo chiều dọc giữa các phân đoạn trong chuỗi cung ứng để giúp đỡ các hộ

nơng dân được tìm đường vào thị trường [21].

Trung Quốc thành công với các hợp đồng bao tiêu nông sản trong khi thiếu

vắng các cơ chế pháp luật thực thi hợp đồng hiệu quả xem ra mâu thuẫn với học thuyết

được chấp nhận rộng rãi khi giải thích lý do tại sao tỷ lệ bỏ hợp đồng của các hộ nơng

dân có vẻ tương đối thấp tại Trung Quốc, bất chấp các tính chất kém hiệu quả trong hệ

thống pháp luật của nó.

Lý do cho các hợp đồng thất bại theo báo cáo của các doanh nghiệp bao gồm

việc cung ứng với chất lượng không thể chấp nhận được và các bên ký kết bán sản

phẩm cho các công ty khác với một mức giá cao hơn. Các công ty được khảo sát báo

cáo là việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng gặp khó khăn. Khoảng 53% các cơng ty

báo cáo rằng khơng có cách nào để giải quyết xung đột. Các hành động pháp lý chỉ

được 7% các doanh nghiệp ký kết hợp đồng theo đuổi. Số 7% khác báo cáo rằng họ

dựa vào chính quyền địa phương để giải quyết tranh chấp.

Nói chung, các cơ chế pháp lý tỏ ra ít quan trọng trong việc cải thiện thực thi

hợp đồng so với các phương pháp tiếp cận phi chính thức.Các cơ chế thực thi hợp

đồng tư nhân đóngmột vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến quyết định của

nơng hộ để hồn thành hoặc vi phạm hợp đồng. Các thỏa thuận hợp đồng chẳng hạn

như giá sàn, hoặc các yêu cầu kỹ thuật đặc biệt tạo thuận lợi cho việc tự thực thi và

cải thiện đáng kể tỷ lệ hoàn thành hợp đồng của các nông hộ. Điều này đặc biệt quan

trọng đối với nền nơng nghiệp Trung Quốc vì mơi trường kinh doanh ở đây có đặc

trưng là thiếu các thể chế công hiệu quả trong thúc đẩy việc thi hành. [68] Giá cả thỏa

thuận trong các hợp đồng liên kết ở Trung quốc có 3 hình thức: giá cố định, giá sàn và

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số khái niệm liên quan

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×